NGHIÊN cứu TÌNH HÌNH NHIễM GIUN TRòN ĐƯỜNG TIÊU hóa của CHÓ NUÔI ở hà nội và biện pháp phòng trị - Pdf 20

1
4
MỤC

LỤC
Trang
MỞ

ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài ………… 1
2. Mục tiêu nghiên cứu

………… 2
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài ………… 2
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ………… 2
Chƣơng

1:

TỔNG

QUAN

TÀI

LIỆU
3

Chƣơng

3:

KẾT

QUẢ



THẢO

LUẬN

42
3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hoá của chó ở Hà Nội

42
3.1.1.
Thành phần loại giun tròn đường tiêu hóa của chó nuôi ở Hà Nội 42
3.1.2.
Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở chó qua kiểm tra phân 44
3.1.3.
Cường độ nhiễm giun tròn ở chó qua kiểm tra phân

56
3.2.
Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý
,

l©m

sµng

cña

bÖnh

giun

trßn
đường
tiªu
ho¸

chã
57
5
3.2.1.

Tỷ


3.2.2.

Bệnh

tích

đại

thể

về

vi

thể





quan

tiêu

hóa

của

chó



của

chó

bị

bệnh

giun

móc

so
với

chó

khỏe
63
3.2.4.

Công

thức

bạch

thử

nghiệm

một

số

loại

thuốc

tẩy

giun

tròn

đườg

tiêu

hoá

chó

66
3.2.6.

Độ


ĐỀ

NGHỊ
1.

Kết

luận
72
2.

Đề

nghị

74
TÀI

LIỆU

THAM

KHẢO75


Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
DANH

MôC

b¶ng
B¶ng

3.1.

Thành

phần

loài

giun

tròn

đường

tiêu

hóa



hóa

của

chó

nuôi





Nội44
B¶ng

3.3.

Cường

độ

nhiễm

giun

tròn



Cường

độ

nhiễm

giun

tròn

đường

tiêu

hóa

của

chó

nuôi




Nội


Nội
49
B¶ng

3.6.

Tỷ

lệ

nhiễm

giun

tròn

theo

tuổi

của

chó

nuôi


vụ54
B¶ng

3.8.

Tỷ

lệ

nhiễm

giun

tròn

theo

tính

đặc

biệt

của

chó

B¶ng

3.10.

Bệnh

tích

đại

thể





quan

tiêu

hoá

chó

bị

bệnh

giun



sắc

tố
giữa

chó

khỏe



chó

bị

bệnh

giun

móc
64
B¶ng

3.12.

So


65
B¶ng

3.13.

Hiệu

lực

của

một

số

loại

thuốc

tẩy

giun

tròn

cho

chó



dùng

thuốc
69
B¶ng

3.15.

Tỷ

lệ

chó



phản

ứng

sau

khi

dùng



môc

biÓu

®å
Biểu

đồ

3.1.

Tỷ

lệ

nhiễm

giun

tròn

đường

tiêu

hoá

của



tròn

đường

tiêu

hoá

theo

tuổi

chó
53
Biểu

đồ

3.3.

Tỷ

lệ

nhiễm



tiêu

hoá

theo

tính

biệt

của

chó
57
DANH

MỤC

ẢNH

BỆNH

TÍCH

VI


bình

thường
61
ẢNH

3.

Tế

bào

biểu



ruột

bị

bong

tróc,

lông

nhung


nhiễm

tế

bào

bạch

cầu
63
Số

hóa

bởi

Trung

tâm

Học

liệu





đầy

đủ
A.

caninum Ancylostoma

caninum
T.

canis
Toxocara

canis
T.

leonina
Toxascaris

leonina
T.

vulpis
Trichocephalus

vulpis
>
Lớn



tâm

Học

liệu



Đại

học

Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ

ĐẦU
1.

Tính

cấp

thiết

của


nuôi,

trung

thành

với

chủ,

các

giác

quan

rất

phát
triển, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống
khác nhau. Do vậy, chó được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, phục
vụ

các

mục

đích

khác

trí

được

nâng

cao



cải

thiện,

do

vậy

việc

nuôi
chó để giữ nhà, làm cảnh và làm kinh tế được quan tâm chú ý trong nhiều
gia

đình

người

dân


tác

nhân

gây bệnh.

Bệnh truyền

nhiễm
do vi khuẩn, vi rút và bệnh do ký sinh trùng đã và đang làm chết nhiều chó
ở Hà Nội,

gây thiệt

hại kinh tế cho

nhiều hộ

chăn

nuôi, đặc biệt

là các hộ
chăn nuôi những giống chó quý hiếm.
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,

nóng ẩm,
mưa nhiều, có điều kiện thuận lợi cho giun sán phát triển quanh năm. Bệnh giun,
sán là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến nhất ở chó. Một số tác giả
đó

(1985) [10], Ngô Huyền Thuý (1996) [34]. Cho tới nay, các nhà khoa học nước
ta đã xác định được 26 loài giun, sán ký sinh ở chó, trong đó có 16 loài giun tròn.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh của chó chưa được quan tâm đúng mức,
đặc biệt là bệnh do ký sinh trùng gây nên, trong đó có nhiều loài giun tròn


sinh ở đường tiêu hoá gây tác hại lớn đối với chó. Giun ký sinh lấy chất dinh
dưỡng, hút máu, tiết độc tố và chất chống đông máu. Bệnh âm ỉ, kéo dài làm
vật

chủ

mất

máu

suy

dinh

dưỡng,

gầy

yếu,

rối

loạn


Nghiên

cứu

tình

hình

nhiễm

giun

tròn

đƣờng

tiêu

hoá

của

chó

nuôi




Nội


điểm

dịch tễ

bệnh

giun

tròn đường tiêu

hoá
của chó ở các quận nội thành Hà Nội.
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun tròn.
- Xác định hiệu lực thuốc tẩy trừ giun tròn cho chó.
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho chó có hiệu quả.
3.

Ý

nghĩa

khoa

học

của

đề


4.

Ý

nghĩa

thực

tiễn

của

đề

tài:
-

Kết

quả

nghiên

cứu

của

đề

tài


Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng

1
TỔNG

QUAN

TÀI

LIỆU
1.1.



SỞ

KHOA

HỌC

CỦA

ĐỀ

loại
động

vật

học
Trong khu hệ giun trong đường tiêu hoá của chó, theo Nguyễn Thị Lê


cs

(1996)

[17],

các

loài

giun

tròn



sinh



chó

Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài

Trichocephalus vulpis (Froelich, 1789)
(ký sinh ở manh tràng chó)
Phân lớp Rhabditia Pe arse, 1942
Bộ Strongylida Railliet et Henry, 1913
Họ

Ancylostomatidae Looss, 1905
Phân họ Ancylostomatinae Looss, 1911
Giống Ancylostoma Dubini, 1893
Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859)
Loài Ancylostoma braziliense Faria, 1910
(ký sinh ở ruột non chó)
Số

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Bộ

Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosh, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides canis Brumpt, 1922
Số

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
1.1.2.

Đặc

điểm

sinh


điểm

hình

thái,

cấu

tạo
-

Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859)
Là loài giun tròn nhỏ, thân hình sợi chỉ, màu vàng nhạt, đoạn trước cong
về phía lưng, bao miệng mỗi bên có 2 răng 3 chạc lớn, cong vào phía trong,
miệng hình bầu dục.
Con đực dài 9 - 12 mm, đuôi có túi kitin, 2 gai giao hợp bằng nhau dài
0,74- 0,87 mm, bánh lái dài 0,13 - 0,21 mm.
Con cái dài 10 - 21 mm, đuôi có gai nhọn, âm hộ nằm 1/3 phía sau của
thân. Trứng hình bầu dục dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037- 0,042 mm. Trứng
có nhiều nhân, vỏ trong suốt.
-

Loài

Ancylostoma braziliense (Faria, 1910)
Giun nhỏ hơn

Ancylostoma caninum, cơ thể hình trụ, thon nhỏ 2 đầu.
Con đực dài 6,6 - 8,1 mm, rộng 0,278 - 0,354 mm. Lớp biểu bì dày, có


Đuôi

hình

nón,

mút

đuôi



gai

nhọn,

dài

0,005

mm.

Trứng
hình ô van, kích thước 0,040 - 0,30 mm.
- Loài

Toxocara canis (werner 1782)
Loài Toxocara canis


thực

quản

hình

trụ,

đặc

biệt

giữa

thực

quản



ruột



đoạn
phình to tạo thành “dạ dày giả” của giun.
Con đực dài 50 - 90 mm, đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo có 2
gai giao cấu bằng nhau dài 0,75 - 0,95 mm.
Con cái dài 90 - 170 mm, đuôi thẳng. Giun cái đẻ trứng. Lỗ sinh dục cái



nhạt,

đầu có

3

môi,

thực

quản

hình
trụ, không có đoạn phình to như loài Toxocara canis.
Giun đực dài 20 - 70 mm, 2 gai giao hợp dài gần bằng nhau, không có
bánh lái.
Giun cái dài 60

-

80

mm,

lỗ

sinh dục

cái ở


dài

45-75

mm,

thực

quản

chiếm

3/4
chiều dài cơ thể. Đuôi giun đực thường cuộn tròn về phía trong, mang một gai
giao hợp rất dài (8,31- 11,1 mm).
Con cái dài

62

-75

mm,

thực

quản dài

42


đôi

răng

hình

bán

nguyệt

đối

xứng.
Thực quản dài 0,75 - 0,88mm.
Số

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7

cạnh,

không



môi,

thực
quản hẹp, phần trước là cổ ngắn, ở gai cố có vòng thần kinh.
Con đực dài 30-54 mm, hai gai giao hợp không bằng nhau, đuôi xoắn,
có cánh đuôi, 4 đôi gai nhỏ phía trước hậu môn, một gai lớn trước huyệt
Con

cái

dài

54

-

80

mm,

âm

hộ



x

0,014

-

0,023mm,

trứng


chứa ấu trùng.
1.1.2.2.

Đặc

điểm

vòng

đời

sinh

học
-
Loài

Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859)

ngoài



từ

2-8

tế

bào

nhân,

ấu

trùng
phát

triển

thành

ẩu

trùng

cảm

nhiễm


điều kiện

nhiệt

độ

từ 20

-30
0

C



độ

ẩm
thích

hợp,

PH trung tính,

trứng sẽ

nở

thành ấu trùng sau 24-

động đặc biệt là luôn tìm đến vị trí cao và nơi ẩm ướt, nhiệt độ thích hợp và
hướng đến vật chủ gần chúng.
Ấu trùng tuy cần độ ẩm nhưng không phát triển trong nước mặn, khi bị
khô, ấu trùng sẽ chết nhanh trong 24 giờ. Do vậy việc lan truyền bệnh bị hạn
chế trong mùa khô. Theo Swensson (1925), khi nhiệt độ của đất tăng lên, ấu
trùng di chuyển tới chỗ lồi lõm của đất và tụ lại từng đám ở những chỗ râm
mát và có độ ẩm thích hợp. Từ chỗ ban đầu, ấu trùng di chuyển trong phạm vi
10-20 cm. Trong khi di chuyển, ấu trùng có khuynh hướng leo lên cao, có thể
tới 2 m. Ấu trùng ít chui xuống đất, nhưng nếu ở đất cát, ấu trùng có thể chui
xuống sâu 1

m,

đất

mùn

chui

xuống sâu

30cm,

đất

sét

chui sâu 15

cm.

mm có

màng
bọc bên ngoài và chứa 30-34 tế bào ruột, ấu trùng có hướng động đặc biệt là
tìm đến vật chủ gần chúng và đến vị trí cao nhất.
Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng Ancylostoma caninum tiến hành trên
cơ thể ký chủ và cảm nhiễm vào ký chủ theo 2 con đường:
-

Qua

đường tiêu

hoá: ấu trùng được

ký chủ

nuốt

vào

đường tiêu

hoá
qua

thức

ăn,


và được

nuốt

xuống đường tiêu hoá,

từ đó

phát

triển thành

giun trưởng
Số

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
thành và ký sinh ở ruột non. Thời gian phát triển đến giai đoạn trưởng

ấu trùng bị chết và bị giữ lại ở da chó trưởng thành, tạo ra xung quanh nó sự
thâm nhiễm tế bào.
Trịnh Văn Thịnh (1963)[25] cho biết: ấu trùng giun móc khi chui qua da
làm cho con vật bị ngứa và viêm da, ấu trùng còn gây tổn thương ở phổi. Giun
trưởng thành hút nhiều máu, răng 6 móc được cấu tạo bằng chất kitin cắm sâu
vào

niêm

mạc

ruột

gây

tổn

thươmg

niêm

mạc,

đồng

thời

giun

còn

dạng

ấu

trùng.

Ấu

trùng
thoát ra khỏi trứng, qua 2 lần lột xác thành ấu trùng cảm nhiễm và xâm nhập
vào ký chủ theo 2 con đường:
+

Qua

thức

ăn,

nước

uống

vào

đường

tiêu

hoá,

Các

loài

giun

tròn

thuộc

họ

Ancylostomatidae

đều

phát

triển

trực

tiếp.
Giun trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài. Trứng và ấu trùng có sức
đề kháng với ngoại cảnh. Cũng như Ancylostoma caninum, ấu trùng Uncinaria
stenocephala qua 3 lần lột xác phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, ấu trùng có
thể đi xa và có thể gây bệnh. Chó bị nhiễm qua 2 con đường:
+ Qua miệng: ấu trùng gây nhiễm theo thức ăn nước uống vào cơ thể gây
bệnh cho ký chủ. Fulleborn (1920-1927) thấy rằng: ấu trùng cảm nhiễm vào
ruột

sau

đó

chúng

quay

lại

nhung

mao

của

ruột

non.

Kolevatova

AL.
(1957)

đã chứng

minh bằng thực

nghiêm khi

trở

thành

ấu

trùng

giai

đoạn

4



đạt

tới

giai

đoạn

trưởng
thành sau 13- 20 ngày.
+ Qua da: khi nghiên cứu cảm nhiễm qua da, Kolevatova A.L (1957) đã
xác định ấu trùng cảm nhiễm chui qua da chỉ sau 6 phút, sau 40 phút tất cả
đã chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó. Theo tác giả, khi nhiễm qua da,
con


da

lâu

hơn

nhiễm qua

miệng

từ 2-

4

ngày.

Thời

gian

hoàn

thành

vòng
đời 14- 20 ngày.
-
Loài



cảm

nhiễm

phá

vỡ

vỏ



chui

ra

bắt

đầu

quá

trình

di
hành trong cơ thể ký chủ. Ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu, theo
hệ thống tuần hoàn đến gan, về tim, lên phổi vào khí quản, lên miệng rồi trở
lại ruột non, tiếp tục phát triển ở niêm mạc ruột non và trở thành giun trưởng
thành


đông

vật

cảm

nhiễm khác

ăn

phải.

Ấu trùng còn qua

hệ
tuần hoàn của chó mẹ khi có chửa và nhiễm vào bào thai. Ở bào thai ấu trùng
cư trú chủ yếu ở gan và phổi. Do vậy chó con sau khi được sinh ra đã mang
mầm bệnh, đến 14 ngày tuổi đã gây bệnh cho chó con và khi 30 ngày tuổi đã
thành

giun

trưởng

thành.

Thời

gian


qua

tâm

nhĩ

phải,

xuống

tâm

thất

phải,

qua

động

mạch
phổi vào phổi, vào phế nang, lên yết hầu, xuống thực quản rồi trở về ruột non.
Ở đây tiếp tục phát triển qua 3 lần lột xác nữa để trở thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời từ 55-72 ngày (Skrjabin và cs, 1963) [20].
-
Loài

Trichocephalus vulpis (Froelich, 1989)
Giun cái đẻ trứng trong ruột già ký chủ, trứng của Trichocephalus vulpis


Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
cảnh như nhiệt độ và độ ẩm, ấu trùng phát triển trong trứng, sau 25

-26 ngày
trở thành trứng có khả năng cảm nhiễm. Chó ăn phải trứng cảm nhiễm cùng với
thức ăn và nước uống, ấu trùng nở ra sẽ chui sâu vào niêm mạc ruột già và tiếp
tục phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian phát triển của Trichocephalus
vulpis

đến

giai

đoạn

trưởng

thành

trong



thể

chó

khoảng

ấu

trùng.

Trứng

giun

theo

các

lỗ





kén,

đi

vào
xoang thực quản

hoặc dạ

dày, theo

phân ra


ấu

trùng

kỳ

III

được

giải
phóng, ấu trùng sẽ tạo thành kén ở một vài cơ quan tổ chức. Khi chó ăn phải
ký chủ dự trữ, ấu trùng được giải phóng khỏi đường tiêu hoá của ký chủ

dự
trữ,

chúng

xuyên

qua

thành

dạ

dày,



10-12

tuần,

ấu

trùng

di

hành

đến

thực
quản,

tạo

thành

kén



phát

triển


đƣờng

tiêu

hoá

của

chó
Nghiên cứu dịch tễ

học

cho

ta



sở

phòng trị

bệnh

ký sinh

trùng có
hiệu quả. Sự phát triển của ký sinh trùng phụ thuộc vào





chó

đã
được

các

tác

giả

như

Đỗ

Dương

Thái,

Trịnh

Văn

Thịnh

(1963),



cảm

nhiễm
Chó và

hầu hết các loài thú ăn thịt

họ chó (Canidae) đều nhiễm một số
loài

giun

tròn

(Nematoda)

như:

giun

đũa

(Toxocara

canis,

Toxascaris
leonina), giun móc (Ancylostoma caninum, Uncinaria stenocephala), giun tóc
Trichocephalus vulpis.

nhiễm
Qua

nghiên

cứu

của

nhiều

tác

giả,

hầu

hết

các

tài

liệu

cho

thấy:

chó


Toxocara

canis.

Thậm

chí

chó

15-21

ngày

tuổi

đã

thấy

nhiễm
Toxocara canis do vòng đời phát triển của loại này qua bào thai.
William và Menning (1978) điều tra sự nhiễm

Toxocara canis ở các lứa
tuổi

khác


Chó con nhiễm giun nặng (đáng chó ý là giun đũa, giun móc) vì cơ thể
chó non sức đề kháng yếu với mầm bệnh, dễ mẫn cảm với các loài giun. Mặt
khác

một số

loài (giun đũa,

móc) truyền cho chó

non ngay từ khi còn trong
Số

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
bụng mẹ (qua bào thai). Foster và Cross (1954) quan sát thấy rằng, ấu trùng
giun móc theo máu vào bào thai và cư trú ở phổi bào thai, sau khi chó con ra
đời, ấu trùng bắt đầu hoạt động và quay về đường tiêu hoá và phát triển thành


sinh
trùng.

Mặt

khác,

tuổi

thọ

của



sinh

trùng



hạn.

Kolevatova

(1959)

cho
biết:




Petrov

(1977)[20]

cho

biết:



chó

lớn,

bệnh

do

Toxocara
canis ít thấy hơn so

với chó

non, điều đó

nói


chó
nhiễm

giun

Toxascaris

leonina,

tỷ lệ

85,41%,

tác

giả

cho

biết,

chó

con

bị
nhiễm Toxascaris leonina với tỷ lệ rất cao và thường bị bệnh nặng hơn chó
trưởng thành
Theo Petrov A.M (1963), chó con



chó

trên

12

tháng

tuổi

không

nhiễm

loại

này.

Tỷ

lệ

nhiễm
Số

hóa

bởi Trung



Lăng
(1985)[10].
Skrjabin



Petrov

(1963)

cho

thấy:

chó

mắc

bệnh

sớm

nhất

vào

tuần
tuổi thứ năm, chó trưởng thành mắc bệnh nhẹ hơn chó non. Chó trưởng thành
được


chó

hai

năm

tuổi,

cả

ba

chó

đều

không

bị

bệnh

khi

nuôi

dưỡng

tốt.

Tỷ

lệ

nhiễm của

chó

con

còn
phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng chăm sóc, điều kiện môi trường bị ô nhiễm,
mất vệ sinh, ẩm thấp thì tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó

cao, có thể từ 30 - 60 %.
Qua

kết

quả

nghiên

cứu

thực

tế

của

hóa

bởi Trung

tâm Học liệu



Đại

học Thái

Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status