skkn một số biện pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp một môn tiếng việt - Pdf 37

Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
1. Cơ sở lí luận:
Đất nước ta đang bước vào thế kỉ mới, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, con người là
trung tâm của sự phát triển. Vì vậy khi bàn về tương lai, khơng thể khơng bàn đến
giáo dục. Đứng trước những u cầu mới của xã hội, nền giáo dục Việt Nam phát triển
theo xu hướng xã hội hố, hiện đại hố, đa dạng và chuẩn hố. Giáo dục nhằm "nâng
cao chất lượng dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" tức là đào tạo con
người phát triển tồn diện, phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất
nước.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục, đồng thời nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài nhằm phục vụ con người và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước
đã đưa ra việc giáo dục trẻ lên quốc sách hàng đầu. Mặt khác, để đào tạo thế hệ trẻ trở
thành những con người có tri thức và biết vận dụng tri thức đó vào cuộc sống. Song
song với vấn đề trên thì học sinh phải nhanh chóng tiếp cận được phương pháp dạy
học mới đang được triển khai và hiện hành, đó là “học sinh học theo hướng tích cực,
độc lập, sáng tạo để lĩnh hội, vận dụng kiến thức”.
Và bậc tiểu học là bậc học nền tảng, mỗi mơn học đều góp phần vào việc hình
thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người mới. Cùng với môn Toán
và các môn học khác thì môn Tiếng Việt góp phần quan trọng vào việc đào tạo nên
những con người phát triển toàn diện, có vị trí rất quan trọng và rất cần thiết trong
đời sống sinh hoạt và lao động. Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng
đọc và viết, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên. Khi
học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể học tốt các mơn học khác một cách
chắc chắn, từ đó học sinh mới hồn thành được năng lực giao tiếp của mình. Những
kỹ năng này khơng phải tự nhiên mà có mà từng bước hình thành trong q trình học

các em nắm vững kiến thức cơ bản ngay từ lớp đầu cấp, bởi đây là nền móng cho sự
phát triển của học sinh sau này và quan trọng nhất là mơn đọc, có đọc tốt thì mới viết
tốt. Và sau một năm học, tất cả các em phải đọc thơng, viết thao, nắm vững luật chính
tả.
Với tinh thần “Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui”, cùng với
những kinh nghiệm trong 15 năm đứng lớp và hưởng ứng phong trào đổi mới
phương pháp dạy học, để đạt mục tiêu đổi mới giáo dục. Chính vì lí do đó mà bản
thân mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện đề tài: “ Một số biện pháp rèn đọc cho học
sinh yếu lớp Một mơn Tiếng Việt” nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh,
góp một phần nhỏ của mình vào việc đổi mới phương pháp dạy học Tiếng việt ở
cấp tiểu học nói chung và ở lớp Một nói riêng.
II. Mục đích đề tài:
Góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy mơn Tiếng Việt và rèn đọc cho học
sinh yếu để nâng cao chất lượng đọc môn Tiếng việt ở lớp Một theo hướng phát huy
tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Hình thành và rèn luyện kỹ năng
đọc cho học sinh tốt hơn và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
III. Lòch sử đề tài:

Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

2


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

Trong năm học 2015 - 2016 tôi được nhà trường tiếp tục phân công dạy
lớp Một, đây là lớp đầu cấp, bản thân cũng nhận thấy được rằng việc dạy mơn Tiếng
Việt rất là quan trọng. Măc dù đa số các em khi vào lớp Một đều đã qua lớp Mẫu giáo

giáo dục để tìm ra những phương pháp giảng dạy tối ưu nhằm nâng cao chất lượng
dạy học theo q trình phát triển của xã hội. Ở bậc tiểu học, đặc biệt là khối lớp một,
vấn đề giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho các em đó là cơ sở, là nền tảng để học
sinh tiếp tục học lên các lớp trên, là nền móng cho sự phát triển của các em sau này.
Và với lớp một, điều quan trọng nhất là đọc và viết được, có đọc được tốt các em mới
hiểu được nội dung văn bản và học tốt được các mơn học khác.
Mơn Tiếng việt ở lớp Một là mơn học rất quan trọng trong việc đặt nền
móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Rèn kỹ năng đọc, viết
và phát triển kỹ năng nghe chủ động, nói chủ động với những u cầu đọc thơng, viết
rõ ràng và đúng chính tả, nắm vững luật chính tả là rất quan trọng, đặc biệt là những
em học yếu, kém.
2. Phần thực tiễn:
Năm học 2015-2016, tơi tiếp tục được nhà trường phân cơng dạy lớp Một 3
của khối lớp một, ngay trong những tiết học đầu tiên đón em vào lớp là hướng dẫn học
sinh làm quen với mơi trường học tập về thầy cơ, bạn bè, nề nếp học tập, đồng thời
tiến hành khảo sát để nắm được có bao nhiêu học sinh đã học qua lớp mẫu giáo, bao
nhiêu học sinh nhận diện được các con chữ cái, phát âm chuẩn. Muốn nâng cao chất
lượng đọc cho học sinh yếu vào đầu năm học tơi đã tiến hành khảo sát nhỏ trong lớp
chủ nhiệm với tổng số 31 học sinh, với nội dung sau:
* Tìm hiểu số học sinh được đi học mẫu giáo, số học sinh khơng đi học mẫu
giáo và tìm hiểu lí do. Hồn cảnh gia đình học sinh.
- Số học sinh đã qua lớp mẫu giáo là 26 học sinh.
- Số học sinh khơng được đi học mẫu giáo là 5 học sinh.
- Hồn cảnh gia đình khó khăn: 10 học sinh. Trong đó, có 4 học sinh sống với
ơng bà do cha mẹ li thân; Có 3 học sinh cha mẹ đi làm xa ở với anh chị.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

4



vần dễ phát âm sai.
III. Giải pháp:
1. Biện pháp điều tra:
Để nắm được tình hình cụ thể của từng đối tượng học sinh, ngay từ ngày đầu
nhận lớp, tơi xem qua hồ sơ, lí lịch của từng em và phân loại học sinh được gia đình
quan tâm trong việc học tập, học sinh có hồn cảnh gia đình khó khăn, những học sinh
sống với ơng bà. Học sinh nào chưa qua lớp mẫu giáo, tiếp thu bài học nhanh, những

Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

5


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

em tiếp thu chậm để từ đó xây dựng kế hoạch, có hình thức giáo dục phù hợp cho từng
đối tượng học sinh và mời họp phụ huynh.
Và một trong những lí do dễ thấy là vì các em còn q nhỏ, vừa mới bước qua
lớp mẫu giáo, lứa tuổi còn ham chơi nên ý thức tự giác, cố gắng trong học tập chưa
cao, vì vậy giáo viên chúng ta cần phải nắm được đặc điểm tình hình của từng đối
tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh,
tổ chức tiết dạy sao cho các em cảm thấy nhẹ nhàng, vui vẻ để từ đó các em sẽ thích
học.
2. Biện pháp tác động giáo dục:
Tơi đã tiến hành họp phụ huynh và nắm bắt tình hình thực tế của từng học
sinh, sau đó hướng dẫn phương pháp dạy đọc và phân tích âm, vần, tiếng mơn TV1 –
CGD giúp phụ huynh dạy con học ở nhà. Đặc biệt có 5 em chưa qua lớp mẫu giáo thì
tơi u cầu phụ huynh mỗi buổi tối nhắc nhở, giám sát các em tự học bài và soạn sách

7
22,5

Đọc đúng,
còn chậm
SL
%
7
22,5

Đọc còn phải
đánh vần
SL
%
12
38,7

Khơng đọc
được
SL
%
5
16
6


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016


nhắc lại cho học sinh ghi nhớ. Đặc biệt các nét.
3.4. Phương pháp động viên, khen thưởng:
Trong tiết dạy tơi thường chú ý đến học sinh ít nói, ít tham gia hoạt động học,
học sinh đọc chậm, yếu để gọi các em đọc bài. Tơi ln tạo sự quan tâm, động viên,
an ủi các em cố gắng lên thì sẽ đọc tốt như các bạn. Sau tiết dạy Tiếng Việt tơi gọi các
Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

7


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

em đọc yếu lên bàn giáo viên cùng đọc bài với cơ. Mỗi lần đọc xong mà có tiến bộ tơi
thường khen các em bằng những phần q nhở như: bút chì, cục gơm, viên phấn,…để
các em thích thú hơn trong học đọc. Tuy những phần q nhỏ cũng động viên các em
cố gắng học thật giỏi.
3.5. Phương pháp nhận xét, nêu gương:
Để nâng cao chất lương đọc tốt vào từng học kỳ, năm học tơi thường trò
chuyện với học sinh đọc yếu, đọc chậm chỉ cách nhận biết các nét để nhận biết các
âm, vần tiếng và ghi nhớ, chọn những học sinh học giỏi, ngoan, chăm học bài, viết bài
đẹp và đúng hướng dẫn các bạn đọc để các em noi theo. Từ sự nêu gương trong học
tập các em đọc chậm, yếu có ý thức tự học cao hơn.
3.6. Phương pháp sử dụng trò chơi học tập:
Do đặc trưng tâm lí tuổi học sinh lớp Một đặc biệt hào hứng với các trò chơi.
Cho nên giáo viên chủ động đưa trò chơi vào hoạt động học tập như trò chơi đố chữ,
thi ghép tiếng, vần, hái hoa dân chủ,…
Ví dụ: Thi đố chữ: nét cong tròn, bên phải có dấu mũ là âm gì? (ơ), nét khuyết
trên, nét móc ngược là âm gì? (l), nét khuyết trên và nét móc hai đầu là âm gì? (h).

Thơng qua các tiết dạy thực tế trên lớp để kiểm tra tính khả thi của đề tài, đồng
thời bản thân tơi đã phân loại các đối tượng học sinh của lớp mình, tìm hiểu xem các
em thường yếu ở mạch kiến thức nào và từ đó để lựa chọn phương pháp rèn đọc cho
phù hợp, giúp các em củng cố âm, vần, tiếng, từ để đọc bài tốt hơn.
6. Phần học các nét chữ cơ bản và học vần:
6.1. Học các nét cơ bản:
Ngay hai tuần khơng đầu tiên rèn nề nếp, học các nét cơ bản. Tơi đã dạy học
sinh đọc và viết các nét cơ bản thật kĩ. Dựa các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt
được chữ cái, kể cả các chữ cái có hình dạng giống, khác nhau.
Ví dụ: Các nét cơ bản và tên gọi:
Nhóm 1: Nét thẳng:
Nét ngang:
Nét xiên trái:
Nét xiên phải :
Nhóm 2: Nét móc ngược
Nét móc xi
Nét móc hai đầu
Nhóm 3: Nét cong trái
Nét cong phải
Nét cong trái
Nét cong kín
Nhóm 4: Nét khuyết trên
Nét khuyết dưới, khuyết kép
Nhóm 5: Nét xoắn
Nét thắt
6.2. Học âm:
Sau khi học sinh đã học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét cơ bản một cách
vững chắc thì tiếp theo là phần học âm (chữ cái). Giai đoạn học chữ cái là giai đoạn
vơ cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc chắn chữ cái thì mới ghép được các chữ vào với
nhau để tạo thành tiếng, các tiếng đơn ghép lại với nhau tạo thành từ, câu.

thường sai s - x, g - r, d – gi.
Ví dụ: âm s khi phát âm phải uốn đầu lưỡi, hơi thốt ra xát mạnh, khơng có âm
thanh tơi phát âm nhiều lần cho học sinh quan sát. Âm x khi phát âm đầu lưỡi tạo ra
với mơi răng mơi răng một khe hẹp, hơi thốt ra xát nhẹ, khơng có tiếng thanh. Phát
âm đúng thì mới đọc đúng với những âm mà các em hay nhầm lẫn. Tơi còn dùng
nghĩa để phân biệt như: sa/xa, sẻ/xẻ để học sinh hiểu rồi đọc cho chính xác.
Trong các tiết học, bài học tơi ln thay đổi hình thức kiểm tra các âm chữ cái
thơng qua tiết tự học, sinh hoạt lớp, đầu giờ, cho các em tự đố nhau, giúp đỡ nhau
trong học tập. Từ đó củng cố thêm kiến thức về âm, vần, tiếng, từ, câu, bài văn mà
mình đã học. Qua phần âm học sinh đọc và viết đúng âm 28 em, còn 3 em còn hay
qn âm gi, ngh, tr. Tơi sẽ củng cố qua phần vần.
6.3. Học vần:
Sang phần học vần có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh cách sử dụng ngun âm,
phụ âm và cách phát âm tơi rất chú trọng cách đọc của học sinh. Muốn nắm chắc âm
vị, tơi cho nhiều học sinh phát âm và phân tích đọc trơn. Đặc biệt là học sinh yếu, mỗi
ngày các em được củng cố âm vị đã học vào đầu giờ, tiết tự học, chiều thứ 5 hàng
Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

10


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

tuần. Kết thúc tiết học tơi cho các em thi tìm tiếng chứa các vần mới học nhằm giúp
các em nhớ lại bài mới học. Cuối tuần vào tiết sinh hoạt lớp tơi sẽ có q để động viên
những em có tiến bộ. Tuy món q nhỏ nhưng khuyến khích các em yếu sẽ cố gắng
học tốt hơn.
Khi học các vần có cặp âm cuối: n/t, m/p, ng/c, nh/ch, tơi thường hướng dẫn

31

Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

Đọc đúng,
nhanh

Đọc đúng, còn
chậm

Đọc còn phải
đánh vần

SL

%

SL

%

SL

%

24

77,4

6

12


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

PHẦN III
KẾT LUẬN
I. Tóm lược giải pháp
Qua quá trình nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh
yếu lớp Một mơn Tiếng Việt”, tôi nhận thấy tất cả các trường hợp học sinh yếu đọc
kém một phần do hồn cảnh khó khăn khơng cho con đi học mẫu giáo, thiếu sự quan
tâm của gia đình, một phần các em chưa được làm quen chữ cái và các học theo
chương trình TV1- CGD, phụ huynh khơng biết dạy con như thế nào cho nên dẫn đến
đọc, viết yếu như hiện nay. Để giảm bớt học sinh học yếu mơn Tiếng Việt điều trước
tiên giáo viên phải tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý và hồn cảnh của học sinh. Sau đó
giáo viên quan tâm đến từng đối tượng và có biện pháp, phương pháp dạy sát từng
đối tượng, kịp thời uốn nắn, khích lệ, động viên, đáp ứng đúng những điều các em còn
thiếu về kiến thức, kỹ năng nhận biết âm, vần tiếng nhanh. Sẽ giúp các em dần theo
kịp u cầu về chất lương đọc ở cấp tiểu học. Đối với giáo viên phải ln lưu tâm đến
những em học đọc yếu và dành cho các em một sự ưu ái, một thái độ khích lệ, động
viên, những lời chỉ bảo ân cần, nhẹ nhàng sự tiến bộ của các em trong học tập là phần
thưởng vơ giá đối với mỗi người giáo viên chúng ta. Bên cạnh đó giáo viên cũng tạo
khơng khí vui chơi học tập vừa học vừa chơi thì có nhiều tác dụng trong các giờ học
của học sinh tiểu học, nó tạo khơng khí vui tươi, sinh động. Nó còn kích thích trí
tưởng tượng, ham hiểu biết cho học sinh, giúp các em tự tin hơn, có được cơ hội tự
khẳng định mình và tự đánh giá nhau trong học tập.
Đồng thời để góp phần nâng cao chất lượng dạy học mơn Tiếng Việt, bản
thân giáo viên cần phải tự học hỏi, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của

Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

14


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “Lê Phương Nga (Chủ biên): Phương pháp dạy học Tiếng việt 1” Nhà
xuất bản Đại học sư phạm.
2. “Lê A – Đinh Trọng Lạc – Hồng Văn Thung (Chủ biên): Tiếng việt 3
Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
3. “ Tiếng việt” Sách giáo viên: Nhà xuất bản Giáo dục.
4. “ Hồ Ngọc Đại – Ngơ Hiền Tun (Chủ biên) Thiết kế Tiếng Việt cơng
nghệ giáo dục Tập 1, 2, 3: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
5. “ Trò chơi học Tiếng Việt lớp 1” Nhà xuất bản Giáo dục.

Người thực hiện: Nguyễn Thò Nga

15


Sáng kiến kinh nghiệm môn Tiếng Việt lớp Một

Năm học 2015 -2016

MỤC LỤC

II. Nội dung cần giải quyết

5

III. Giải pháp

5

1.Biện pháp điều tra

5

2. Biện pháp tác động.

5

3. Một số phương pháp rèn đọc cho học sinh yếu lớp Một.

6

4. Nghiên cứu tài liệu

8

5. Nghiên cứu thực tế.

8

6. Phần học các nét cơ bản và phần học vần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status