sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 2 - Pdf 37

PHẦN I : MỞ ĐẦU
Trong giáo dục nhân cách con người nói chung và nhân cách của học sinh
nói riêng, cha ông ta có truyền thống coi trọng giáo dục đạo đức. Tài và Đức là
những phẩm chất không thể tách rời, góp phần làm nên nhân cách con người.
Bên cạnh đó việc giáo dục đạo đức cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng
trong công tác đào tạo của chúng ta. Bởi lẽ đánh giá một cách toàn diện về con
người không chỉ có thước đo của thể chất, trí tuệ mà đạo đức cũng được xem là
“chuẩn mực” để đánh giá sự phát triển tố chất con người.
Trong nhà trường hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm giúp
các em có những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và
pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân,
gia đình và cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các
chuẩn mực đó nhằm phát triển nhân cách của các em một cách trọn vẹn, là nền
tảng cơ bản để hình thành cho các em ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức và thói
quen đạo đức, nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
đại, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta trong quá trình đào tạo cán bộ cách mạng
cũng luôn đề cao vai trò của phẩm chất đạo đức. Bác cho rằng: “Có tài mà không
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Như
Bác Hồ nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Đặc
biệt với nền giáo dục của chúng ta hiện nay, song song với đổi mới phương
pháp dạy học thì việc quan tâm đến giáo dục đạo đức cho học sinh là một việc
làm cần thiết với lứa tuổi nhỏ, lứa tuổi đang "như búp trên cành". Trẻ em như
một tờ giấy trắng, ngay từ ban đầu việc hình thành, giáo dục đạo đức cho các em
có một chuẩn mực đạo đức phù hợp với xã hội là một việc làm vô cùng thiết
thực, nó giúp các em hình thành thói quen có hành vi đạo đức tốt mãi mãi về
sau.Trong thực tế hiện nay, còn một bộ phận không nhỏ học sinh có những biểu
hiện hành vi ứng xử chưa chuẩn mực về mặt đạo đức. Xuất phát từ tình hình

1



Vì vậy, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài này nhằm bổ sung cho bản thân
những kinh nghiệm, biện pháp nâng cao chất lượng trong việc giáo dục đạo đức
cho học sinh lớp 2 ở Trường Tiểu học Tân Thành A nơi tôi đang công tác. Nhằm
góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói
riêng ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đây cũng
chính là mong muốn, nguyện vọng lớn nhất của bản thân khi thực hiện nghiên cứu
đề tài này.
Đề tài này được nghiên cứu theo chương trình môn đạo đức lớp Hai theo
sách giáo khoa. Đối tượng là học sinh lớp 2- Ấp 2 Trường Tiểu học Tân Thành A.
Giúp học sinh nắm trong việc hình thành nhân cách nhằm xây dựng và phát triển
con người làm chủ cho tương lai đất nước. Nó hình thành những cơ sở ban đầu về
đạo đức cho học sinh, giúp các em đối xử đúng đắn qua các mối quan hệ hàng
ngày. Nhằm đào tạo các em trở thành những con người phát triển toàn diện như
mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
Nguyên nhân làm cho học sinh vi phạm chuẩn mực, hành vi đạo đức là
còn rất nhiều. Nhưng ở phạm vi đề tài này tôi chỉ nêu những nguyên nhân có liên
quan trực tiếp đến gia đình học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp và của chính bản
thân các em học sinh. Những nguyên nhân khác nằm ngoài khả năng nghiên cứu
của bản thân nên tôi xin phép được không đề cập đến trong phạm vi đề tài này.
Mục đích mà tôi nghiên cứu đề tài này là nhằm hình thành và phát triển
năng lực, phẩm chất của học sinh lớp 2. Nhằm góp một phần nhỏ bé của mình
vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

3



Cuối

Tổng số HS

Năm học

nhưng còn hạn chế
Hoàn thành môn học

hành vi ứng xử, chưa
mạnh dạn

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

2013- 2014

26

22

84,6 %

4


mướn kiếm sống nên không có nhiều thời gian để quan tâm, giáo dục con cái.
Thậm chí, có một số gia đình cha mẹ đi làm xa hàng mấy tháng trời mới về nhà
một lần; gửi con cái lại cho nội, ngoại, họ hàng chăm sóc. Do thiếu sự quan tâm,

5


chia sẻ của cha mẹ; thiếu sự quản lý giáo dục của người lớn. Các em dễ dàng học
theo thói hư, tật xấu của bạn bè; dần dần trở thành những học sinh lêu lõng; có
hành vi, thói quen đạo đức không chuẩn mực, phù hợp.
Do một số bậc làm cha, làm mẹ mà chưa thật sự gương mẫu đối với con
cái trong sinh hoạt, ứng xử với nhau hàng ngày. Trước mặt con cái mà cải vã với
nhau và sẵn sàng buông ra những lời lẽ thô tục. Hàng ngày, phải sống trong hoàn
cảnh gia đình như vậy nên làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn luyện đạo đức
của các em. Trong xã hội ngày càng xuất hiện nhiều các loại tệ nạn; gây ảnh
hưởng không nhỏ đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức học sinh.
Do ý thức học tập và rèn luyện của học sinh chưa cao; các em chưa chủ
động, tích cực, tự giác trong học tập; còn ham chơi, lười học nên kết quả học tập
yếu kém. Từ đó các em tỏ ra chán nản, không còn mục tiêu phấn đấu, vươn lên;
trở thành những học sinh cá biệt có thói quen, hành vi đạo đức không phù hợp.
Do sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh chưa thường
xuyên, chặt chẽ; chưa tích cực hỗ trợ lẫn nhau trong việc giáo dục đạo đức cho
học sinh. Trong quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh giáo viên chưa động viên,
khen thưởng, khích lệ học sinh kịp thời; chưa tạo được sự say mê, hứng thú cho
học sinh trong học tập, rèn luyện. Bản thân giáo viên còn xem trọng việc dạy
chữ, dạy kiến thức cho học sinh; chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục, rèn
luyện hình thành hành vi, thói quen đạo đức cho học sinh.

6



bồ hòn cũng vuông.”Do đó, nếu không có được sự thân tình, thiện cảm với nhau
thì sẽ rất khó trong việc bàn bạc, thống nhất.
Giáo viên và cha mẹ học sinh phải biết số điện thoại của nhau để tiện lợi
trong việc thông báo, trao đổi khi cần thiết. Vì nếu không biết số điện thoại thì
khi học sinh có vấn đề gì giáo viên phải đi đến tận nhà để thông báo điều này sẽ
không kịp thời và làm mất rất nhiều thời gian.
Ví dụ: Giáo viên tư vấn cho cha mẹ học sinh dù hoàn cảnh gia có khó
khăn, thiếu thốn đến đâu đi nữa. Nhưng cha mẹ phải cố gắng dành thời gian để
quan tâm, trò chuyện với con cái. Vì chỉ có thông qua việc trò chuyện cha mẹ
mới hiểu được con cái của mình muốn gì, việc học hành ra sao, các em có những
thuận lợi, khó khăn gì trong quá trình học tập, rèn luyện để kịp thời động viên,
giúp đỡ.
Đối với những gia đình khá giả giáo viên nên tư vấn cho phụ huynh không
nên nuông chìu con cái của mình một cách quá mức, không cho các em nhiều
tiền. Để tập cho các em tính không ỷ lại, tránh việc các em sử dụng đồng tiền
vào mục đích tiêu cực; tư vấn cho cha mẹ khi con cái phạm lỗi không nên dùng
những lời lẽ đay nghiến cay độc đối với trẻ, không đánh đập mà phải biết vị tha,
dùng những lời nhẹ nhàng để khuyên răn, dạy dỗ, giáo dục các em.
Nhằm để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh thì trước hết
phải nâng cao kết quả học tập của các em. Muốn thực hiện được điều này chúng
ta cần tìm hiểu rõ nguyên nhân làm cho học sinh có học lực yếu kém, thực hiện
tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, quan tâm sát đến từng đối tượng học sinh
trong quá trình giảng dạy. Tỳ theo trình độ nhận thức của từng đối tượng học
sinh mà giáo viên giao nhiệm vụ học tập sao cho phù hợp, vừa sức tránh đưa ra
những yêu cầu quá dễ làm cho học sinh nhàm chán hoặc đưa ra những yêu cầu
quá khó gây căng thẳng, tạo áp lực cho học sinh. Vì vậy, trong quá trình giảng
dạy, giáo dục học sinh giáo viên phải kết hợp theo dõi, tìm hiểu, nắm thật chắc

8



Cho nên khi chúng ta hiểu rõ được hoàn cảnh của mỗi em thì sẽ dễ dàng gần gũi,
quan tâm và giáo dục các em hơn.
Ví dụ: Trong tập thể lớp hai có em Phan Văn Bằng, là học sinh có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn, em Bằng đến trường không được đầy đủ, như các bạn
cùng lớp. Những ngày đầu tiên nhận lớp, tôi thấy bạn bè trong lớp tỏ ra xa lánh,
ngại tiếp xúc với cậu bé có vẻ lắm lem của gia đình nghèo, em Bằng lại thuộc
diện học sinh còn chưa đạt theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn học. Hoàn cảnh
này làm tôi rất băn khoăn và lo lắng. Trong bài “Chia sẻ vui buồn cùng bạn” là
một bài học nội dung đạo đức sâu sắc và rất phù hợp với lứa tuổi các em, bài học
thể hiện văn hoá ứng xử với bạn bè cùng trang lứa. Trong tiết học đạo đức về nội
dung “Chia sẻ vui buồn cùng bạn” tôi không dành nhiều thời gian để kể những
câu chuyện đạo đức, hay làm các bài tập tình huống trong sách. Sau khi giảng
cho các em về cách ứng sử trong quan hệ bạn bè, tôi đã liên hệ đến trường hợp
của em Bằng. Phân tích cho các em thấy hoàn cảnh khó khăn của Bằng chỉ có
thể đáng thương chứ không hề đáng ghét, đáng bị cô lập. Đồng thời kêu gọi tinh
thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa bạn bè trong lớp với nhau sau một thời
gian quan sát thấy em Thắm đã dần hoà đồng với bạn bè hơn, tôi chủ động an ủi
- động viên em không nên mặc cảm, đồng thời tế nhị nhắc nhở những học sinh
khác vui chơi tự nhiên cùng Bằng. Sau một thời gian được sự giúp đỡ của bạn bè
và quan tâm của thầy thì tình hình học tập của em được cải thiện và khả quan
hơn.
3. Xây dựng cho học sinh động cơ, ý thức học tập đúng đắn, tích cực
phụ đạo học sinh yếu kém tiến bộ trong học tập.
Trong quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh giáo viên cần xây dựng cho
các em có một động cơ, ý thức học tập, rèn luyện đúng đắn. Phải làm cho các em
thấy được học tập là quyền lợi đồng thời cũng là nghĩa vụ của bản thân. Học tập

10



Ví dụ: Trong giảng dạy giáo viên phải phân tích cho học sinh thấy được
học tập là để sau này bản thân của chính các em có được việc làm ổn định, có thu
nhập để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và nếu ai ai cũng có công ăn việc
làm ổn định thì sẽ góp phần làm cho đất nước chúng ta ngày càng thêm giàu đẹp
như lời của Bác Hồ: “ Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc
Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu
được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em ”.
4 .Hình thành thói quen đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp. Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với tổng phụ trách đội.Tổ chức
những hoạt động cộng đồng - xã hội
Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Để giúp các em bớt thời gian chơi vô
bổ. Ngoài những giờ học, vào giờ ra chơi nên tổ chức cho học sinh vui chơi với
các trò chơi dân gian như: nhảy dây, bắn bi, bịt mắt bắt dê, thi kể chuyện, thi
chạy nhanh, thi hát hay múa, ô ăn quan, chơi chuyền... Hoặc tập cho học sinh
những bài tập thể dục với gậy, vòng để rèn luyện thân thể vui chơi nhưng bổ ích.
Các em không còn thời gian để gây gổ hay chửi thề. Thông qua đó giúp học sinh
có tinh thần tập thể, đoàn kết.
Lứa tuổi tiểu học, học sinh rất ham hoạt động do đó cần phải tổ chức cho
các em được tham gia nhiều các hoạt động “chơi mà học – học mà chơi” như tổ
chức các cuộc thi tìm hiểu, vẽ tranh nói về ước mơ của em, về chủ đề môi
trường...
Ở trường Tiểu học, hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú, đa dạng.
Trong đó, có những hoạt động được tổ chức thực hiện theo tiến độ thời gian
ngày, hàng tuần, hàng tháng.
Ví dụ: Hoạt động 15 phút truy bài đầu giờ, đọc báo, văn nghệ; 20 phút ra
chơi thì bao gồm thể dục giữa giờ, vui chơi giải trí; sinh hoạt Sao; hoạt động thi
đua trong tháng ( thay đổi theo ngày )..., có những hoạt động được tổ chức theo



Tổ chức trồng cây xanh để làm đẹp cảnh quang, cho các em dọn dẹp, làm
sạch những nơi công cộng, với những công việc vừa sức…để các em có thói
quen bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh nơi công cộng.
Ví dụ: Giáo viên chủ nhiệm kết hợp tổng phụ trách tổ chức cho các em tham
gia các hoạt động cho học sinh: đóng vai, múa hát, đọc thơ, ca dao, tục
ngữ phong phú, đa dạng nói về quê hương, đất nước, con người, về cách ứng xử
của các nhân vật khác nhau, nhờ đó mà có thể giáo dục hình thành cho các em
tình yêu quê hương, đất nước, yêu lao động yêu con người, biết cách ứng xử
trong các mối quan hệ xã hội và biết tỏ thái độ đối với các sự vật hiện tượng
trong cuộc sống.
5. Trong quá trình giảng dạy, giáo dục học sinh giáo viên phải vừa là
một người thầy mẫu mực; vừa là một người bạn thật sự gần gũi, thân thiết
của học sinh. Giáo viên phải thật sự kiên trì, bền bỉ, tránh nóng vội; cần động
viên, khen thưởng, khích lệ học sinh kịp thời, đúng lúc:
Trong giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng nếu
giáo viên chúng ta lúc nào cũng đóng vai trò là một ông thầy nghiêm nghị, xa
cách, một người bề trên đối với học sinh thì sẽ làm cho các em ngại gần gũi, giao
tiếp, không dám chia sẻ, tâm sự khi gặp những khó khăn, vướng mắc. Nói như
vậy thì không phải giáo viên chúng ta lại quá dễ dàng. Mà người thầy giáo, cô
giáo phải biết dung hoà trong quá trình giảng dạy, giáo dục. Phải biết lúc nào
mình giữ vai trò là một người thầy nghiêm khắc, mẫu mực; lúc nào là một người
bạn thật sự thân thiết, gần gũi và đáng tin cậy đối với học sinh. Có như vậy, thì
khi có những vấn đề khó khăn, thắc mắc các em sẽ mạnh dạn, tự tin trao đổi, tâm
sự với thầy cô mà không ngại ngùng, che giấu. Từ đó, giáo viên hiểu được tâm
tư, nguyện vọng; mặt mạnh, mặt yếu của học sinh; những ưu điểm cần bồi
dưỡng, phát huy và những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Nắm được điều này sẽ
giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp, hình thức giảng dạy, giáo dục

14


phép. Vì tâm lí của con người chúng ta ai ai cũng thích được khen, mà đối với trẻ
em lại càng thích được khen hơn.
Đầu năm học lớp tôi giảng dạy có em Nguyễn Văn Khắc, nhà nghèo, cha
mẹ phải đi làm mướng ở tận Mộc Hóa lâu lâu mới về nhà một lần. Em sống ở
nhà với ông, bà nội. Do cha mẹ không có ở gần bên chăm sóc, dạy dỗ nên em
xưng hô với bạn bè và mọi người một cách rất là hỗn xược; trong lớp viết thước
của bạn bè cần xài thì tự lấy chứ không cần hỏi mượn ai. Sau khi tìm hiểu tôi
được biết là em rất thích được đi học và mơ ước sau này sẽ trở thành giáo viên
để giúp cho quê hương; nhưng cha mẹ nói là nhà nghèo nên học hết lớp 5 phải
nghỉ học để ở nhà đi làm phụ giúp cha mẹ . Em nhờ tôi nói với cha mẹ là cho em
được tiếp tục đi học. Tôi vui vẻ nhận lời và khuyên em muốn trở thành một
người thầy trong tương lai thì ngay từ bây giờ phải hết sức cố gắng học tập,
không ngừng trau dồi, rèn luyện đạo đức, xưng hô với bạn bè phải gọi bạn xưng
tên, muốn mượn đồ dùng của bạn phải hỏi mượn, khi được đồng ý thì mới lấy và
khi sử dụng xong trả bạn phải có lời cảm ơn. Từ đó về sau, mỗi lần tôi nhìn thấy
em hỏi mượn đồ của bạn và cảm ơn bạn sau khi sử dụng là tôi kịp thời tuyên
dương, khen ngợi em trước tập thể lớp. Nhờ vậy, mà hiện nay tôi thấy em có tiến
bộ rất nhiều cả trong học tập lẫn hành vi, thói quen đạo đức.
Ví dụ : Giờ ra chơi, Nhật Phi hay trêu chọc và phá chỗ các bạn chơi, Tôi
đã gọi Phi lại, nhắc nhở và khuyên em vài lần. Từ đó, Phi hiểu ra và không trêu
chọc bạn nữa.
Nhưng không phải khi học sinh có những biểu hiện hành vi đạo đức không
tích cực thì giáo viên phê bình, nhắc nhở hay khiển trách ngay mà cần chờ thời
điểm thích hợp nhắc nhở học sinh. Không nên phê bình hay khiển trách học sinh
trước mặt bạn bè làm cho học sinh mặc cảm hoặc tự ái và nếu như thế thì có kết
quả giáo dục ngược lại. Nếu học sinh có biểu hiện tốt, chúng ta cần tuyên dương
kịp thời, đúng lúc. Mỗi ngày một ít, những hành vi chuẩn mực được từ từ khắc

16


Đối với 3 tiết dạy dành cho địa phương, tôi tiến hành khảo sát xem những
vấn đề nào cần phải tăng cường giáo dục để từ đó biên soạn các tiết dạy này cho
sát với tình hình thực tế ở địa phương.
Khi giảng dạy môn đạo đức, tôi thường xuyên đổi mới phương pháp, hình
thức dạy học để tạo hứng thú cho các em khi tham gia học tập. Bên đổi mới
phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng, nó ảnh hưởng
sâu sắc đến chất lương và hiệu quả dạy học. Việc đánh giá kết quả học tập có
nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thái độ học tập, kiểm tra vấn đáp, trắc
nghiệm, bày tỏ thái độ…
Từ đó, học sinh có điều kiện thể hiện được bản thân và đặc biệt thực hiện
được hành vi đạo đức của mình trong cuộc sống hằng ngày.
Do đó, việc đánh giá phải được thể hiện trên tất cả các mặt: kiến thức, tình
cảm thi độ và kỹ năng hành vi ứng xử của các em ở gia đình, nhà trường, cộng
đồng.
Ví dụ: Dạy bài “ Lịch sự khi đến nhà người khác ” chỉ cần học sinh biết
khi đến nhà người khác cần phải bấm chuông hoặc rõ cửa, biết chào hỏi người
lớn trong nhà…, là đã đạt được yêu cầu, mục tiêu của bài học. Qua đó đánh giá
được các em từ những nhận xét trên.
- Năm học : 2014- 2015 Bộ GD & ĐT Ban hành kèm theo thông tư số:
30/2014/TT/BGDĐT về việc ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học.
Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong Quy định này là những hoạt động quan sát,
theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư
vấn, hướng dẫn, động viện học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết
quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất
của học sinh tiểu học.

18




26

24

92,3 %

2

7,7 %

2014- 2015

28

27

96,4 %

1

3,6 %

24

24

100 %

0

Trong quá trình dạy và áp dụng những kinh nghiệm trên nhằm góp phần
hình thành nên những thói quen đạo đức cho học sinh ở lớp 2, việc rèn luyện
chuẩn mực, hành vi, thói quen đạo đức đúng đắn, phù hợp cho các em là một việc
làm vô cùng quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Vì học sinh có phẩm chất
đạo đức tốt thì sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao kết quả học tập của bản
thân. Sau này sẽ trở thành những người công dân tốt, người lao động chân chính
có ích cho xã hội.
Giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh phải phối hợp thường xuyên,
chặt chẽ; tích cực hỗ trợ lẫn nhau trong giáo dục đạo đức học sinh.
Trong quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cho học sinh người giáo viên
phải hết sức kiên trì, bền bỉ, tuyệt đối không được nóng vội; kịp thời động viên,
khen thưởng, khích lệ các em khi có những biểu hiện tốt về mặt đạo đức.
Đi sâu quan sát vào thực tế, hoàn cảnh của học sinh để tìm hiểu tình trạng
đạo đức để tìm cách giải quyết.
Giáo viên cần xây dựng động cơ, ý thức học tập, rèn luyện đúng đắn cho
học sinh.
Giáo dục hình thành thói quen đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp. Từ xác định mục tiêu của giáo dục đạo đức học sinh qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo
dục thân thiện, hiệu quả, phù hợp với các em.
Giáo dục đạo đức thong qua tấm gương của bạn.
Giáo dục, hình thành thói quen đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo
đức. Từ đó các em biết đượcchuẩn mực đạo đức để tự mình rèn luyện trở thành
người học sinh tốt, chăm ngoan.
Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với tổng phụ trách đội.Tổ chức những hoạt

21


động cộng đồng - xã hội. Thông qua đó các em khắc sâu thêm chuẩn mực hành

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Trần Ái “ Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học
ở Tiểu học, lớp 2” – Nhà xuất bản giáo dục.
2.TS. Bùi Văn Sơm : “ Hướng dẫn cán bộ quản lý trường học và giáo viên
viết sáng kiến kinh nghiệm”- Nhàn xuất bản tổng hợp Thành Phố Hồ Chí
Minh.Năm 2005.
3. Lưu Thu Thủy : “Sách giáo viên đạo đức lớp 2” – Nhà xuất bản giáo dục
4. TS. Lê Thanh Oai : “ Tạp chí giáo dục” - Nhà xuất bản giáo dục số 343
5. TS. Lê Thanh Oai : “ Tạp chí giáo dục” - Nhà xuất bản giáo dục số 363
6. GSTS. Đinh Quang Báo : “ Tạp chí giáo dục” - Nhà xuất bản giáo dục số
36
7.Ths. Lê Tiến Thành : “Dạy học môn đạo đức ở Tiểu học ” Tạp chí Giáo
Dục số 269
8.Đặng Thị Kim Nhân : Công văn số : 223 ngày 03/5/2012. Về việc hướng
dẫn trình bày sáng kiến kinh nghiệm.

23


MỤC LỤC
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài : ………………………… ……………………………Trang 1
II. Lịch sử đề tài :………………………………………………………. ....Trang 2
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :…………………………………….Trang 3
IV. Mục đích nghiên cứu :……………………………………………….. .Trang 3
PHẦN II : NỘI DUNG
I. Thực trạng đề tài :……………………………………………………….Trang 4
II. Các giải pháp:………………………………………………………… .Trang 7
III. Kết quả :……………………………………….....................................Trang 19
PHẦN III : KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status