Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc tại trường Tiểu học Lê Hồng Phong - Pdf 63

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
MỤC LỤC
 I.PHẦN MỞ ĐẦU                                                                                                                   
 
..................................................................................................................
   
 2
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, 
 rèn luyện ở lớp, ở nhà                                                                                              
 
.............................................................................................
    
 20
 3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán.                 
 
................
    
 23
 3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh                                                  
 
.................................................
    
 27
 3.5.7. Phối hợp kịp thời với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.   .  29
.    
 III.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ                                                                                
 
...............................................................................
    
 31
 1.Kết luận                                                                                                                          


GV

Giáo viên

 1


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định vị  thế  cùng sự  bình đẳng giữa  
các quốc gia, dân tộc trong cùng khu vực hay trên thế giới là chất lượng nguồn nhân lực. 
Việc tập trung đầu tư  phát triển nguồn nhân lực có trình độ  khoa học ­ kỹ  thuật và kỹ 
năng làm việc cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước trong  
xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay là một đòi hỏi khách  
quan.
Để đáp ứng yêu cầu khách quan ấy, giáo dục ­ đào tạo là công cụ quan trọng bậc  
nhất, có ý nghĩa quyết định trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Vai trò 
quan trọng của giáo dục ­ đào tạo thể hiện ở chỗ nó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nguồn  
nhân lực không chỉ trên bình diện xã hội rộng lớn, mà còn có khả năng tiếp cận đến từng  
cá nhân, từ đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò tạo nguồn trực tiếp về mặt chủ thể cho  
các quá trình phát triển kinh tế ­ xã hội và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế ­ xã  
hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, cơ hội học tập  
và nâng cao trình độ  của đồng bào các dân tộc thiểu số  ngày càng nhiều hơn. Đến nay,  
các tỉnh miền núi đã hoàn thành phổ  cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ. Tuy  
nhiên chất lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp so với mặt 
bằng của cả nước.

sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong, một số hoạt động ngoài giờ  lên lớp có liên 
quan đến việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh DTTS.

­

Học sinh DTTS  ở  trường Tiểu học Lê Hồng Phong, chất lượng và hiệu quả  đào 
tạo của nhà trường trong những năm gần đây, những thuận lợi – khó khăn và điều  
kiện dạy học của nhà trường.

­

Chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Lê Hồng Phong.

­

Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm kinh tế và xã hội của khu 
vực.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số phương pháp dạy và học, những thành tựu trong việc đổi mới  
phương pháp dạy học đối với học sinh dân tộc thiểu số   ở  tất cả  các khối từ  lớp 1 đến  
lớp 5 đặc biệt là kết quả của việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số của các  
giáo viên đứng lớp và các giáo viên bộ môn ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
5. Phương pháp nghiên cứu
­

Tổng hợp số  liệu về  thực trạng chất lượng học sinh dân tộc thiểu số   ở  trường 
Tiểu học Lê Hồng Phong, tổng hợp các số  liệu về  đội ngũ giáo viên, cơ  sở  vật 
chất.


hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.
Chất   lượng   giáo   dục   là   sự   đáp   ứng   mục   tiêu   đề   ra   của   giáo   dục:   Là   nhằm
đào   tạo   con   người   Việt   Nam   phát   triển   toàn   diện,   có   đạo   đức,   tri   thức,   sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã  
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp  ứng  
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi và khó khăn
a.  Thuận lợi:  

 4


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
­

Đảng và nhà nước luôn quan tâm coi trọng công tác dân tộc và giáo dục dân tộc có 
đường lối chính sách rõ ràng, pháp luật rõ ràng, các văn bản dưới luật chi tiết cụ 
thể. 

­

Các cấp quản lí ngành Giáo dục luôn quan tâm chỉ  đạo sát sao, đặc biệt là chất 
lượng giáo dục HSDTTS.

­

Công tác xã hội hóa giáo dục  ở  thôn buôn được nâng cao, các tổ  chức đoàn thể 
tham gia nhiệt tình.


­

Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu 
số cò thấp, tỉ lệ chuyên cần của HSDTTS vẫn chưa cao.

­

Phong tục tập quán, đặc điểm tâm lí, văn hóa dân tộc cũng tác động,  ảnh hưởng 
đến chất lượng học tập của các em.

­

Đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Ê­đê ở hai buôn Eana và buôn Drai còn gặp 
nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của các em.

2.2. Thành công và hạn chế

 5


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
a.  Thành công:  
­

HSDTTS được huy động đến trường cao. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói  
riêng và xã Eana nói chung được cấp trên công nhận đạt Phổ cập GDTH đúng độ 
tuổi.

­


­

Chất lượng sử dụng tiếng Việt của các em HS DTTS chưa cao.

­

Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Việt – Mường có nhiều đặc điểm khác hẳn so với tiếng  
Êđê thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me về cấu trúc, cú pháp, … nên các em HSDT tiếp 
thu tiếng Việt rất khó. 

2.3. Mặt mạnh và mặt yếu    
a.   Mặt mạnh:  
­

Bản thân đã nhiều năm phụ trách lớp có tỷ lệ HSDTTS cao, giao tiếp trực tiếp với 
HSDTTS và phụ  huynh nên nắm bắt được nhiều thông tin phản hồi từ  phía gia  
đình học sinh.

 6


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
­

Công tác xã hội hóa giáo dục được Cấp ủy và Ban tự quản thôn buôn, các tổ chức 
Đoàn Thanh niên, hội Phụ nữ quan tâm, ủng hộ. 

­

Đội ngũ giáo viên được tập huấn đầy đủ  về  TCTV và có tinh thần tích cực học  

­

Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề  cao coi trọng công tác giáo  
dục dân tộc.

­

Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lí giáo dục.

­

Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tích cực đổi mới phương  
pháp dạy học và trăn trở với chất lượng HSDT.

­

Một số  tập tục lạc hậu trong cộng đồng dân tộc bị  bãi bỏ, điều kiện tự  nhiên 
không còn ưu đãi cho cuộc sống tự nhiên mà yêu cầu sản xuất, phát triển kinh tế, 

 7


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
giao lưu văn hóa,.. cần phải biết thông tin, khoa học kĩ thuật cũng là yếu tố  tác 
động khiến đồng bào DTTS thay đổi nhận thức và có nhu cầu cần phải học.
Nguyên nhân, các yếu tố  tác động làm cho chất lượng học tập tiếng Việt của  
HSDT còn hạn chế là: 
­

Nội dung chương trình học chưa thực sự phù hợp, người dạy thì hạn chế về ngôn 

 8


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến  
trường.
Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở  bậc Mầm non nhưng đối với các 
em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ 
hoàn toàn xa lạ. Sự  tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử 
dụng ngôn ngữ  trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử  dụng ngôn ngữ  mẹ 
đẻ  rất tự  nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người  
địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến 
thức về tiếng Việt  ở họ  quá ít ỏi, cũng có lẽ  vì bản năng ngôn ngữ  mẹ  đẻ  thường trực 
trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ  xã, huyện về  chủ trì một cuộc họp nào đó ở 
buôn, làng, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn  
ngữ  sẽ   ảnh hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử  dụng  
tiếng mẹ đẻ  khi rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể  sử dụng tiếng Việt, quên 
ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em thụ động,  
thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi trường cộng đồng dân 
cư nhỏ hẹp.
2.5.2. Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc.
Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở 
đây đã biết ý thức về  nguồn gốc của mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở  con người sống  
trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của  
bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn  
mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người  
không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống  
hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số nơi đây không có sự hồn nhiên  
của tuổi trẻ, không chỉ  có "ngày hai buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên  
nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo cho cuộc sống vật chất. Nghe những đồng nghiệp tâm  

hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát mà các em không chỉ  dành cho đến trường,  
hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư  ấy cũng phần nào  
làm cho tinh thần học tiếng Việt của các em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị 
suy giảm.
Như  đã phân tích  ở  trên, chính điều kiện sống như  thế  đã không tạo cho các em
một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các  
em ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về  tiếng Việt  ở  các em hạn chế, ít  ỏi là  
điều hiển nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải  
phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ  học, 
đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với 
việc kiềm hãm sự phát triển tư  duy  ở  các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân  
thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập 
lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em. Đối với người dân tộc Ê­đê, không gian 

 10


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
sống của họ  rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và 
đương nhiên sẽ  không có không gian sống cá nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của  
người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc thù này của người Tây Nguyên khắc sâu 
trong các em về truyền thống văn hóa, về cội nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống 
đặc biệt  ấy qua kiến trúc nhà  ở  của họ, một không gian chung cho tất cả  những người  
trong gia đình. Chính vì vậy, việc tạo một không gian học tập cho học sinh là điều không  
thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho 
chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút. Đối với các em, tự  học là chủ  yếu,  
bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả  năng hướng dẫn,  
hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó 
khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con, em mình. Điều này cho thấy đa 
số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình. Việc  

Xây dựng môi trường tốt nhất về vật chất và tinh thần để các em học sinh dân tộc  
thiểu số có điều kiện học tập tốt hơn.

 11


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
­

Tạo điều để  các em học sinh dân tộc thiểu số  có cơ  hội học tập, nâng cao kiến 
thức ngoài thời gian học ở lớp.

3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
3.2.1. Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em học sinh dân tộc 
Giao viên noi chung, giao viên chu nhiêm noi riêng muôn co nh
́
́
́
̉
̣
́
́ ́ ưng biên phap giao
̃
̣
́
́ 
duc phu h
̣
̀ ợp vơi hoc sinh va 
́ ̣

̃ ức độ  
hai long cua hoc sinh đôi v
̀ ̀
̉
̣
́ ới lơp hoc, đôi v
́ ̣
́ ới từng môn hoc. T
̣
ừ đo giao viên co thê đ
́ ́
́ ̉ ưa ra 
nhưng đê nghi,  s
̃
̀
̣ ự giup đ
́ ỡ đôi v
́ ới môi ca nhân môt cach phu h
̃ ́
̣ ́
̀ ợp nhât .
́
Đê tim hiêu tâm t
̉ ̀
̉
ư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp học co thê co nhiêu
́ ̉ ́
̀ 
cach khac nhau nh
́

́ ̉ ̀
̉
̀ ững hoc̣  
sinh nay qua cac ban cung l
̀
́ ̣
̀ ơp, cung đia ban. Cân kiên tri trong môt sô tr
́
̀
̣
̀
̀
̀
̣ ́ ường hợp cu thê.
̣ ̉
3.2.2. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng
Môi trường tâm lý thoải mái trong học tập và hoạt động sẽ tạo điều kiện cho HS  
tham gia hiệu quả hơn vào bài học và các hoạt động của lớp học nói chung. Nó còn góp  
phần kiến tạo nên một bầu không khí tâm lý, tinh thần hài hòa, cân bằng trong lớp học, 
giúp HS được làm quen với một “xã hội thu nhỏ” lành mạnh, có văn hóa, có sự tôn trọng 
và chia sẻ  của mọi thành viên. Điều này không chỉ  giúp ích cho quá trình học tập trong  
nhà trường, mà còn mang lại lợi ích thiết thực về sau khi các em gia nhập cuộc sống của  
những người trưởng thành, thực sự tham gia vào môi trường xã hội rộng lớn.
GV cũng thu nhận được nhiều lợi ích nếu cùng HS tạo ra được một môi trường 
tâm lí thuận lợi cho việc học tập, như: dễ dàng hơn trong quản lý hành vi và hoạt động 
của HS, huy động được HS tham gia tốt hơn vào quá trình học tập, HS đạt được kết quả 
học tập tích cực hơn, xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, giúp đỡ,  giúp GV quản lý lớp  
hiệu quả hơn,…

 12

thầy­trò là một trong những nhân tố  quan trọng nhất tạo nên bầu không khí tâm lý của 
lớp học và có  ảnh hưởng lớn đến hiệu quả  của quản lý lớp hcoj. Ngoài hoạt động học  
tập hàng ngày, trong điều kiện và hoàn cảnh cho phép, GV có thể cùng HS và một số GV 
khác tổ  chức các hoạt động nhóm nhỏ, trò chơi tương tác, câu lạc bộ, hoạt động ngoại 
khóa và giáo dục ngoài giờ lên lớp theo các chủ đề do HS đề xuất hoặc có sự tham gia và  

 13


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
gợi ý của nhà trường/phụ  huynh HS,… Qua những hoạt động đa dạng như  vậy, GV tạo 
điều kiện tốt nhất cho HS dần dần học cách tự  quản, tự  tổ  chức hoạt động của mình;  
biết liên kết và giao lưu với lớp và khối lớp khác, trường khác để cùng tổ chức hoạt động 
chung. 
Một số  dạng hoạt động khác cũng có thể  giúp gắn kết HS và tạo điều kiện cho  
GV hiểu thêm về HS của mình, như: thăm gia đình HS, thường xuyên trao đổi với ban cán 
sự lớp để có hướng giúp đỡ các HS gặp khó khăn đột xuất hoặc thuộc diện phải trợ giúp 
thường xuyên; xây dựng các cặp đôi và nhóm “bạn giúp bạn” về hoạt động học tập hoặc  
trợ giúp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; tổ chức các buổi sinh hoạt lớp trong đó HS 
được “nói về mình”, thể hiện cá tính, những năng lực, sở trường bản thân hoặc chỉ đơn 
giản là tranh luận, đóng góp ý kiến cá nhân về  một chủ đề  nào đó đang được bàn luận  
trong lớp/trường/xã hội, v.v.
­ Bản thân GV luôn cư xử một cách tôn trọng, hiểu biết, chan hòa và thân thiện với  
HS. Sự gương mẫu của người giáo dục luôn luôn và vẫn sẽ là một trong những phương  
pháp sư  phạm quan trọng nhất của khoa học dạy học và giáo dục – môn khoa học đặc  
biệt của con người và vì con người. Nếu bản thân GV không cảm thấy thoải mái, hứng  
thú mỗi khi bước vào lớp học, không hành xử gương mẫu như chính những gì mình mong 
muốn HS phải thể  hiện, thì khó có thể  tin rằng GV đó sẽ  tạo ra được một môi trường  
học tập hứng khởi và bầu không khí tâm lý thuận lợi cho sự  phát triển nhân cách và sự 
tiến bộ  của HS. Sự gương mẫu đòi hỏi GV không chỉ  cần có chuyên môn, có hiểu biết  

cấp sản phẩm của mình để trang trí, bày biện cho các góc này, hoặc GV tìm cách liên hệ 
với các đơn vị  trong trường như  Đoàn thanh niên, thư  viện trường… để  yêu cầu hỗ  trợ 
về nguồn tài liệu. GV nên hỏi ý kiến của chính HS trong việc bài trí lớp học và tôn trọng 
nguyện vọng, sáng kiến, ý tưởng riêng của các em trong sự hài hòa với điều kiện và qui  
định của nhà trường. Một không gian lớp học sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho HS yêu quí 
lớp của mình hơn và cảm thấy vui thích, phấn khởi mỗi khi đến trường.
­ Kết hợp việc dạy học hàng ngày với các hoạt động “khởi động”, “thư giãn” nhỏ 
hoặc trò chơi đơn giản để  tạo hứng thú học tập và tăng cường tinh thần đồng đội, tính  
hợp tác cũng như rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau cho HS. Một số thầy cô giáo chúng  
ta thường chỉ  coi trọng chất lượng giờ  giảng dạy trên lớp mà không chú ý nhiều đến 
những dạng hoạt động “xây   dựng tinh thần nhóm” hoặc mang tính “khởi động”, “thư 
giãn”, giúp HS tạo cảm giác thỏai mái, hứng thú trước, trong, hoặc giữa các tiết học. Đó 
có thể là những trò chơi nho nhỏ, một vài động tác thể  dục vui đơn giản, đôi ba câu đố 
vui/đố  mẹo… được GV hoặc chính HS đưa ra và chỉ  cần 5­7 phút để  thực hiện. Thời 
gian đầu, nếu HS chưa quen, GV chủ động chuẩn bị trước một số hoạt động để tổ  chức  
cho HS. Sau đó, căn cứ vào năng lực của HS trong lớp, GV có thể cử ra một nhóm nhỏ HS  
(bao gồm thành viên đại diện của từng tổ trong lớp) chuyên phụ trách các hoạt động khởi 

 15


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
động như vậy của lớp, và các thành viên của nhóm lần lượt thay nhau tổ chức hoạt động  
cho lớp.
Những dạng hoạt động này không chỉ  giúp HS ‘tái tạo’ lại năng lượng cho việc  
học tập, mà còn có thể làm cho các em thêm gắn bó, đoàn kết, nâng cao tinh thần tập thể 
và kỹ năng hợp tác nhóm thông qua sự tương tác cá nhân để giải quyết nhiệm vụ mà các 
hoạt động đặt ra. Những hoạt động như vậy nếu được tổ chức thường xuyên chắc chắn 
sẽ  giúp khích lệ  tinh thần chung của tập thể  lớp, góp phần tích cực vào việc kiến tạo  
một bầu không khí tâm lý thoải mái, an toàn, thân thiện cho lớp học.  

khăn của mình, bản thân HS có thêm động lực để  cố  gắng hơn trong học tập và rèn  
luyện. Đồng thời, GV cũng được HS thêm yêu mến, tin cậy để  có thể  sẵn lòng chia sẻ 
nhiều hơn những khó khăn, khúc mắc của mình trong cuộc sống hoặc học tập. 
Quan tâm đến khó khăn của HS còn góp phần giúp GV xây dựng và duy trì được  
một tập thể lớp đoàn kết, tương trợ, nơi HS cảm thấy mình là một phần có ý nghĩa của 
cộng đồng lớp học và tích cực tham gia các hoạt động chung. Từ  đó, từng bước hình 
thành, củng cố tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể cho HS. Điều này càng có ý nghĩa  
đối với nhóm thiểu số HS dân tộc thường hay mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp trong một 
tập thể có đông HS người Kinh hơn.

 Một số cách thức thực hiện việc quan tâm đến những khó khăn của học sinh
­ Lập hồ sơ chi tiết của từng HS và thường xuyên cập nhật, bổ sung. Hồ sơ HS ở 
đây không chỉ thuần túy là một bản ‘trích ngang’ những thông tin về  hoàn cảnh cá nhân, 
gia đình của HS như quan niệm truyền thống, mà còn bao gồm cả các sản phẩm trong quá 
trình học tập và hoạt động của HS như  bài tập/bài thi các môn học, các bản thu hoạch,  
tranh vẽ sáng tác, bài thơ dự thi, bài báo tường, các nhận xét của những GV khác về HS, 
bằng chứng về việc khen thưởng/kỷ luật, v.v. Túi hồ sơ hoàn thiện của một HS chính là 
“cửa sổ để quan sát tư duy và quá trình học tập của HS”, mà GV thông qua đó có thể nhìn 
rõ hơn bức tranh sinh động, chân thực về các HS của mình bao gồm cả những thuận lợi,  
khó khăn mà em đó gặp phải trong học tập và cuộc sống.
Việc xây dựng, quản lý và cập nhật hồ  sơ  HS có thể  hiệu quả  hơn nếu GV huy  
động được sự tham gia của hội đồng tự  quản lớp trong công việc này, vì hơn ai hết, HS  
hiểu rõ hoàn cảnh và một số  khó khăn, trở  ngại trong cuộc sống của bạn bè mình. Hội  
đồng tự quản lớp hoặc một số HS có trách nhiệm trong lớp học có thể  cung cấp những  
nguồn thông tin xác thực, cập nhật nhất về hoàn cảnh, điều kiện, những thay đổi trong 
cuộc sống của các thành viên trong lớp, giúp GV hiểu rõ hơn về tập thể HS của mình và  
những khó khăn mà các em phải đối mặt. 

 17


sự tin cậy lớn hơn đối với cả HS lẫn gia đình các em.
­ Thiết lập và duy trì mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa GV với HS, từ đó biết  
và hiểu rõ hơn những khó khăn đặc thù của từng HS. Một số GV thường e ngại rằng việc 
duy trì mối quan hệ  thân thiện, gần gũi giữa GV­HS có thể  phần nào làm cho HS quên  

 18


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
mất khoảng cách cần thiết giữa thầy và trò theo truyền thống lễ nghi phương Đông, hoặc 
khiến HS cảm thấy “nhờn” với thầy cô, từ  đó khó khăn hơn trong giáo dục các em. Tuy 
nhiên, nếu GV có bản lĩnh, thực sự  hiểu tâm sinh lý tuổi HS và có sự  nhạy cảm nghề 
nghiệp cần thiết để cân bằng được mối quan hệ với HS thì nỗi lo ngại đó sẽ không thành 
hiện thực. 
­ Tăng cường sự tham gia và ý thức trách nhiệm của hội đồng tự  quản và tập thể 
HS để HS có ý thức tự quan tâm đến thành viên lớp mình và tìm cách hỗ trợ nhau. Trong  
một số trường hợp nhất định, HS tự giúp nhau sẽ hiệu quả và thiết thực nhất.
Giao trách nhiệm cụ thể cho Ban cán sự lớp trong việc tìm hiểu hoàn cảnh một số 
HS đặc biệt trong lớp để có hướng giúp đỡ hiệu quả. Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tế nhị,  
tránh gây tổn thương, mặc cảm đến em HS đang gặp khó khăn. Bên cạnh đó, GV cũng 
không thể  phó mặc hoàn toàn việc này cho Ban cán sự  lớp, mà cần thường xuyên theo 
dõi, đôn đốc và giám sát công việc của các em để  có những chỉ  dẫn hoặc can thiệp kịp  
thời. 
­ Chú trọng xây dựng và duy trì bầu không khí tập thể  lớp học đoàn kết thân ái,  
luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Muốn vậy, trước hết bản thân GV phải làm gương tốt cho  
HS bằng cách luôn cư xử đúng mực với người khác, tận tình giúp đỡ người gặp khó khăn 
bất kể  đó là đồng nghiệp, HS, hay những hoàn cảnh không may khác xung quanh mình.  
HS rất có ấn tượng với cách cư xử, lối sống hàng ngày của GV, do vậy một gương GV  
nhân ái, luôn biết quan tâm giúp đỡ  những người xung quanh sẽ là bài học ‘sống’ giá trị 
nhất để tác động tới các em. Mặt khác, GV có thể phối hợp với Đoàn thanh niên và Ban  

khăn của nhau, và GV cũng sẽ nắm được nhiều thông tin hơn về HS của mình.
­ Tích cực tìm kiếm những cách thức tác động, phối hợp với các lực lượng trong và  
ngoài nhà trường để góp phần giải quyết những khó khăn của HS. Đôi khi những vấn đề,  
khó khăn mà HS gặp phải trong học tập, đời sống vượt quá khả  năng giải quyết, xử  lý  
của GV, ví dụ HS có những cú sốc nặng nề về tinh thần, tình cảm phải cần tới sự hỗ trợ 
và tư vấn chuyên môn của chuyên gia tâm lý, HS có khả năng học tập tốt nhưng gia đình  
gặp khó khăn về kinh tế có thể sẽ phải bỏ học giữa chừng nếu không được trợ giúp chi 
phí học tập, v.v. Với những trường hợp như vậy, GV không chỉ cần phát hiện được khó 
khăn của HS mà còn giữ  vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối để  tác động, liên kết 
với các lực lượng, cá nhân trong và ngoài nhà trường có thể cung cấp sự trợ giúp tới HS.
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện  
ở lớp, ở nhà
Tao c
̣ ơ hôi giup cac em hoc sinh bi
̣
́ ́
̣
ết được các biểu hiện về tinh thần trách nhiệm  
đối với bản thân, gia đình, và trường lớp, biêt th
́ ực hiện công việc với tinh thần trách 
nhiệm va quý m
̀
ến, trân trọng những bạn có tinh thần trách nhiệm la môt viêc lam co y
̀ ̣
̣
̀
́ ́ 
nghia l
̃ ơn lao. Cha ông ta co câu “Hoc th
́

́ ương phap day hoc theo h
́ ̣
̣
ương phat huy tinh
́
́
́  
tich c
́ ực chu đông cua ng
̉ ̣
̉
ươi hoc lai cang cân co s
̀ ̣ ̣ ̀
̀ ́ ự giup đ
́ ỡ lân nhau trong hoc tâp 
̃
̣ ̣ ở lớp, ở 
nha. Nh
̀ ưng bai tâp co tinh h
̃
̀ ̣
́ ́ ợp tac cao ma cac thây cô giao giao cho cac em th
́
̀ ́
̀
́
́
ực hiên rât
̣
́ 

́ ở  nha. Đo la s
̀ ́ ̀ ự  giup đ
́ ỡ nhau trong cuôc sông nh
̣
́
ư 
cung nhau chia se sach v
̀
̉ ́ ở, tai liêu, cung nhau đi r
̀ ̣
̀
ừng lây cui vê nâu ăn, cung thôi c
́ ̉ ̀ ́
̀
̉ ơm hay 
rửa bat, cung lam cac bai tâp, ...  
́ ̀
̀
́ ̀ ̣
Tô ch
̉ ưc cac nhom hoc tâp, đôi ban cung tiên
́ ́
́
̣ ̣
̣
̀
́
Học nhóm là một phần quan trọng để tạo ra một lớp học hiệu quả. Tuy nhiên, đây 
không chỉ là học sinh “làm việc cùng nhau” đơn thuần mà là cùng hợp tác học tập dưới  
hình thức học nhóm. Mục tiêu chính yếu của học nhóm là giúp học sinh chủ động học tập  

ệu quả, trước hết giao viên cân giup t
́
̀
́ ưng hoc
̀
̣  
sinh xác định trách nhiệm của bản thân, ngoài ra các thành viên trong nhóm cần có ý thức 
tự giác: tự giác về thời gian, bài vở, tự giác “phát biểu”... 
­ Hãy hoàn thành tất cả các bài tập có thể, dàn ý bài học thuộc và các bài đọc tham 
khảo, đối với các môn xã hội. 
­ Trình bày những gì mình đã chuẩn bị và biết đặt ra các câu hỏi
­ Tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như 
ý kiến của họ. 
­ Mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu người khác phải trình bày ý kiến, phát biểu  
và đóng góp. 
­ Có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với bạn. 
Một nhóm học tâp c
̣ ần biết 
­ Mỗi nhóm học chỉ  từ  3­5 người. Nhóm đông hơn sẽ  khó quản lý và giao công  
việc. 
­ Mỗi nhóm học cần phải làm quen với cách thức hoạt động của cả nhóm, cần đưa 
ra những nguyên tắc chung thống nhất mà mọi người đều đồng ý. 
­ Phải luôn chia sẻ  những kinh nghiệm cũng như  hiểu biết của mình về  vấn đề 
đang thảo luận với cả nhóm. 
­ Cố  gắng để  hiểu ý kiến, quan điểm của các thành viên khác. Không chỉ  trích 
người khác nếu người đó đưa ra một quan điểm trái ngược với mình hoặc mình không 
đồng ý. 
­ Không ngại hỏi những điều mình chưa biết hoặc còn thắc mắc. 

 22

ược hình thành, tạo  
dựng và khẳng định trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đo.  B
́ ản sắc văn hóa  
dân tộc là biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử. Giữ 
gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách dân tộc. Cốt cách dân tộc được  
coi là "chất", là "bộ  gien" của mỗi dân tộc và giữ  gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là 
bảo vệ, giữ gìn bộ gien quý đó. 
Đối với các lơp hoc 
́ ̣ ở  vùng co hoc sinh DTTS, vi
́ ̣
ệc tim hiêu va  tôn trong ban săc
̀
̉
̀
̣
̉
́ 
văn hoa dân tôc, nhât la phong tuc tâp quan có ý nghĩa vô cung quan tr
́
̣
́ ̀
̣ ̣
́
̀
ọng. Co thê thây, môi
́ ̉ ́
̃ 
dân tôc, môi đia ph
̣
̃ ̣

̣
̀ ̀
́
́
̣
́ ược gia tri, ve đep cua
́ ̣ ̉ ̣
̉  
nhưng net ban săc riêng đo đê gi
̃
́ ̉
́
́ ̉ ữ gin va phat huy đông th
̀ ̀ ́
̀
ời giup cac em nhân thây đ
́ ́
̣
́ ược  
những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại lâu đời của cộng đồng thiểu số  đang cản trở 
sự phat triên cua công đông, xa hôi đê các em co th
́
̉
̉
̣
̀
̃ ̣ ̉
́ ưc thay đôi, điêu chinh nhăm h
́
̉

̀
̉ 
hiên s
̣ ự hiêu biêt cua minh v
̉
́ ̉
̀ ơi dân tôc đo, co nh
́
̣
́ ́ ư vây viêc giao duc, ren luyên cac em hoc
̣
̣
́ ̣
̀
̣
́
̣  
sinh DTTS mơi co thê th
́ ́ ̉ ực hiên đ
̣ ược môt cach tôt nhât, hiêu qua nhât.
̣ ́
́
́
̣
̉
́
Tô ch
̉ ưc cac hoat đông vui ch
́ ́
̣

̣
̀
̀ ́
́
ơi nay nên có s
̀
ự tham gia  
cua ca giao viên và hoc sinh. H
̉
̉
́
̣
ọc sinh có thể  đề  nghị  các trò chơi, đăc biêt la nh
̣
̣ ̀ ưng tro
̃
̀ 
chơi cua dân tôc cac em, nh
̉
̣
́
ững trò chơi này được tập thể đồng ý. Giáo viên sẽ  là người  
xem xét nếu trò chơi nào nguy hiểm, không thích hợp thì gợi ý học sinh các trò chơi khác, 
tro ch
̀ ơi nao ma giao viên ch
̀
̀ ́
ưa biêt thi hoc sinh co thê mô ta va h
́ ̀ ̣
́ ̉

́ ̀
̣ ̣
́
Hình thức sinh hoạt cần chuẩn bị chu đáo, cụ  thể, có phân công rõ ràng… Có thể 
tổ chức vào giờ cuối tuần, giờ sinh hoạt ngoại khoá, trong lớp hoặc ngoài trời… giao viên
́
 

 24


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM                                                  GV: Thái Thị Luận
chuẩn bị chủ đề, các câu hỏi gợi ý, phim ảnh, sách báo, tình huống… học sinh có thể trao 
đổi nhóm, góp ý kiến cá nhân… có xen kẽ những trò chơi, tạo hứng thú cho học sinh khi  
tham gia. Nội dung cần biên soạn phù hợp lứa tuổi, ngắn gọn, dễ  hiểu, nhiều hình ảnh 
minh họa để học sinh dễ theo dõi…
Giáo viên cần tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, gợi ý học sinh tham gia ý kiến về các 
chủ  đề  liên quan đến học sinh như: “net đep văn hoa dân tôc em” hay “nh
́ ̣
́
̣
ưng điêu ban
̃
̀ ̣  
chưa biêt vê phong tuc tâp quan dân tôc tôi”, ...
́ ̀
̣ ̣
́
̣
Tô ch

Trong thời gian này, tuỳ từng nội dung và hình thức cuộc thi, giáo viên cần có kế hoạch  
hướng dẫn, giúp học sinh thu thập tài liệu và tìm hiểu nhằm đảm bảo chất lượng tác 
phẩm dự thi. 
Trước khi phát động cuộc thi, giáo viên cần xác định các thành phần ban tổ  chức.  
Nếu là cuộc thi ở cấp lớp, ban tổ chức có thể là giáo viên chủ nhiệm và một vài giáo viên  
liên quan. Nếu là cuộc thi cấp trường, nhà trường cần xác định một số  cán bộ  và giáo 
viên đóng vai trò ban tổ  chức. Ban tổ  chức cần xây dựng và thống nhất thể  lệ  cuộc thi  
trong đó xác định rõ: hình thức và nội dung dự thi, đối tượng dự thi, cơ cấu giải thưởng,  
thời gian dự  thi, nơi nộp bài hoặc trình bày bài dự  thi, thời gian công bố  giải thưởng,  
người liên lạc. 

 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status