SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU
..................................................................................................................
2
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập,
rèn luyện ở lớp, ở nhà
.............................................................................................
20
3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán.
................
23
3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh
.................................................
27
3.5.7. Phối hợp kịp thời với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. . 29
.
III.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
...............................................................................
31
1.Kết luận
GV
Giáo viên
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định vị thế cùng sự bình đẳng giữa
các quốc gia, dân tộc trong cùng khu vực hay trên thế giới là chất lượng nguồn nhân lực.
Việc tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật và kỹ
năng làm việc cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong
xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay là một đòi hỏi khách
quan.
Để đáp ứng yêu cầu khách quan ấy, giáo dục đào tạo là công cụ quan trọng bậc
nhất, có ý nghĩa quyết định trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Vai trò
quan trọng của giáo dục đào tạo thể hiện ở chỗ nó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nguồn
nhân lực không chỉ trên bình diện xã hội rộng lớn, mà còn có khả năng tiếp cận đến từng
cá nhân, từ đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò tạo nguồn trực tiếp về mặt chủ thể cho
các quá trình phát triển kinh tế xã hội và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế xã
hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, cơ hội học tập
và nâng cao trình độ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn. Đến nay,
các tỉnh miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ. Tuy
nhiên chất lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp so với mặt
bằng của cả nước.
sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong, một số hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên
quan đến việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh DTTS.
Học sinh DTTS ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong, chất lượng và hiệu quả đào
tạo của nhà trường trong những năm gần đây, những thuận lợi – khó khăn và điều
kiện dạy học của nhà trường.
Chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm kinh tế và xã hội của khu
vực.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số phương pháp dạy và học, những thành tựu trong việc đổi mới
phương pháp dạy học đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các khối từ lớp 1 đến
lớp 5 đặc biệt là kết quả của việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số của các
giáo viên đứng lớp và các giáo viên bộ môn ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp số liệu về thực trạng chất lượng học sinh dân tộc thiểu số ở trường
Tiểu học Lê Hồng Phong, tổng hợp các số liệu về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật
chất.
hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.
Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: Là nhằm
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi:
4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
Đảng và nhà nước luôn quan tâm coi trọng công tác dân tộc và giáo dục dân tộc có
đường lối chính sách rõ ràng, pháp luật rõ ràng, các văn bản dưới luật chi tiết cụ
thể.
Các cấp quản lí ngành Giáo dục luôn quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là chất
lượng giáo dục HSDTTS.
Công tác xã hội hóa giáo dục ở thôn buôn được nâng cao, các tổ chức đoàn thể
tham gia nhiệt tình.
Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu
số cò thấp, tỉ lệ chuyên cần của HSDTTS vẫn chưa cao.
Phong tục tập quán, đặc điểm tâm lí, văn hóa dân tộc cũng tác động, ảnh hưởng
đến chất lượng học tập của các em.
Đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Êđê ở hai buôn Eana và buôn Drai còn gặp
nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của các em.
2.2. Thành công và hạn chế
5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
a. Thành công:
HSDTTS được huy động đến trường cao. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói
riêng và xã Eana nói chung được cấp trên công nhận đạt Phổ cập GDTH đúng độ
tuổi.
Chất lượng sử dụng tiếng Việt của các em HS DTTS chưa cao.
Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Việt – Mường có nhiều đặc điểm khác hẳn so với tiếng
Êđê thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me về cấu trúc, cú pháp, … nên các em HSDT tiếp
thu tiếng Việt rất khó.
2.3. Mặt mạnh và mặt yếu
a. Mặt mạnh:
Bản thân đã nhiều năm phụ trách lớp có tỷ lệ HSDTTS cao, giao tiếp trực tiếp với
HSDTTS và phụ huynh nên nắm bắt được nhiều thông tin phản hồi từ phía gia
đình học sinh.
6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
Công tác xã hội hóa giáo dục được Cấp ủy và Ban tự quản thôn buôn, các tổ chức
Đoàn Thanh niên, hội Phụ nữ quan tâm, ủng hộ.
Đội ngũ giáo viên được tập huấn đầy đủ về TCTV và có tinh thần tích cực học
Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề cao coi trọng công tác giáo
dục dân tộc.
Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lí giáo dục.
Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tích cực đổi mới phương
pháp dạy học và trăn trở với chất lượng HSDT.
Một số tập tục lạc hậu trong cộng đồng dân tộc bị bãi bỏ, điều kiện tự nhiên
không còn ưu đãi cho cuộc sống tự nhiên mà yêu cầu sản xuất, phát triển kinh tế,
7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
giao lưu văn hóa,.. cần phải biết thông tin, khoa học kĩ thuật cũng là yếu tố tác
động khiến đồng bào DTTS thay đổi nhận thức và có nhu cầu cần phải học.
Nguyên nhân, các yếu tố tác động làm cho chất lượng học tập tiếng Việt của
HSDT còn hạn chế là:
Nội dung chương trình học chưa thực sự phù hợp, người dạy thì hạn chế về ngôn
8
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến
trường.
Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các
em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ
hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử
dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ
đẻ rất tự nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người
địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến
thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực
trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở
buôn, làng, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn
ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng
tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên
ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em thụ động,
thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi trường cộng đồng dân
cư nhỏ hẹp.
2.5.2. Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc.
Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở
đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống
trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của
bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn
mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người
không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống
hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số nơi đây không có sự hồn nhiên
của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày hai buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên
nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo cho cuộc sống vật chất. Nghe những đồng nghiệp tâm
hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường,
hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư ấy cũng phần nào
làm cho tinh thần học tiếng Việt của các em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị
suy giảm.
Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em
một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các
em ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là
điều hiển nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải
phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học,
đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với
việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân
thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến trường. Học tập
lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em. Đối với người dân tộc Êđê, không gian
10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
sống của họ rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và
đương nhiên sẽ không có không gian sống cá nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của
người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc thù này của người Tây Nguyên khắc sâu
trong các em về truyền thống văn hóa, về cội nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống
đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một không gian chung cho tất cả những người
trong gia đình. Chính vì vậy, việc tạo một không gian học tập cho học sinh là điều không
thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho
chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút. Đối với các em, tự học là chủ yếu,
bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn,
hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó
khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con, em mình. Điều này cho thấy đa
số các em không được nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình. Việc
Xây dựng môi trường tốt nhất về vật chất và tinh thần để các em học sinh dân tộc
thiểu số có điều kiện học tập tốt hơn.
11
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
Tạo điều để các em học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội học tập, nâng cao kiến
thức ngoài thời gian học ở lớp.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
3.2.1. Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em học sinh dân tộc
Giao viên noi chung, giao viên chu nhiêm noi riêng muôn co nh
́
́
́
̉
̣
́
́ ́ ưng biên phap giao
̃
̣
́
́
duc phu h
̣
̀ ợp vơi hoc sinh va
́ ̣
̃ ức độ
hai long cua hoc sinh đôi v
̀ ̀
̉
̣
́ ới lơp hoc, đôi v
́ ̣
́ ới từng môn hoc. T
̣
ừ đo giao viên co thê đ
́ ́
́ ̉ ưa ra
nhưng đê nghi, s
̃
̀
̣ ự giup đ
́ ỡ đôi v
́ ới môi ca nhân môt cach phu h
̃ ́
̣ ́
̀ ợp nhât .
́
Đê tim hiêu tâm t
̉ ̀
̉
ư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh về lớp học co thê co nhiêu
́ ̉ ́
̀
cach khac nhau nh
́
́ ̉ ̀
̉
̀ ững hoc̣
sinh nay qua cac ban cung l
̀
́ ̣
̀ ơp, cung đia ban. Cân kiên tri trong môt sô tr
́
̀
̣
̀
̀
̀
̣ ́ ường hợp cu thê.
̣ ̉
3.2.2. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng
Môi trường tâm lý thoải mái trong học tập và hoạt động sẽ tạo điều kiện cho HS
tham gia hiệu quả hơn vào bài học và các hoạt động của lớp học nói chung. Nó còn góp
phần kiến tạo nên một bầu không khí tâm lý, tinh thần hài hòa, cân bằng trong lớp học,
giúp HS được làm quen với một “xã hội thu nhỏ” lành mạnh, có văn hóa, có sự tôn trọng
và chia sẻ của mọi thành viên. Điều này không chỉ giúp ích cho quá trình học tập trong
nhà trường, mà còn mang lại lợi ích thiết thực về sau khi các em gia nhập cuộc sống của
những người trưởng thành, thực sự tham gia vào môi trường xã hội rộng lớn.
GV cũng thu nhận được nhiều lợi ích nếu cùng HS tạo ra được một môi trường
tâm lí thuận lợi cho việc học tập, như: dễ dàng hơn trong quản lý hành vi và hoạt động
của HS, huy động được HS tham gia tốt hơn vào quá trình học tập, HS đạt được kết quả
học tập tích cực hơn, xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, giúp đỡ, giúp GV quản lý lớp
hiệu quả hơn,…
12
thầytrò là một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo nên bầu không khí tâm lý của
lớp học và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của quản lý lớp hcoj. Ngoài hoạt động học
tập hàng ngày, trong điều kiện và hoàn cảnh cho phép, GV có thể cùng HS và một số GV
khác tổ chức các hoạt động nhóm nhỏ, trò chơi tương tác, câu lạc bộ, hoạt động ngoại
khóa và giáo dục ngoài giờ lên lớp theo các chủ đề do HS đề xuất hoặc có sự tham gia và
13
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
gợi ý của nhà trường/phụ huynh HS,… Qua những hoạt động đa dạng như vậy, GV tạo
điều kiện tốt nhất cho HS dần dần học cách tự quản, tự tổ chức hoạt động của mình;
biết liên kết và giao lưu với lớp và khối lớp khác, trường khác để cùng tổ chức hoạt động
chung.
Một số dạng hoạt động khác cũng có thể giúp gắn kết HS và tạo điều kiện cho
GV hiểu thêm về HS của mình, như: thăm gia đình HS, thường xuyên trao đổi với ban cán
sự lớp để có hướng giúp đỡ các HS gặp khó khăn đột xuất hoặc thuộc diện phải trợ giúp
thường xuyên; xây dựng các cặp đôi và nhóm “bạn giúp bạn” về hoạt động học tập hoặc
trợ giúp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; tổ chức các buổi sinh hoạt lớp trong đó HS
được “nói về mình”, thể hiện cá tính, những năng lực, sở trường bản thân hoặc chỉ đơn
giản là tranh luận, đóng góp ý kiến cá nhân về một chủ đề nào đó đang được bàn luận
trong lớp/trường/xã hội, v.v.
Bản thân GV luôn cư xử một cách tôn trọng, hiểu biết, chan hòa và thân thiện với
HS. Sự gương mẫu của người giáo dục luôn luôn và vẫn sẽ là một trong những phương
pháp sư phạm quan trọng nhất của khoa học dạy học và giáo dục – môn khoa học đặc
biệt của con người và vì con người. Nếu bản thân GV không cảm thấy thoải mái, hứng
thú mỗi khi bước vào lớp học, không hành xử gương mẫu như chính những gì mình mong
muốn HS phải thể hiện, thì khó có thể tin rằng GV đó sẽ tạo ra được một môi trường
học tập hứng khởi và bầu không khí tâm lý thuận lợi cho sự phát triển nhân cách và sự
tiến bộ của HS. Sự gương mẫu đòi hỏi GV không chỉ cần có chuyên môn, có hiểu biết
cấp sản phẩm của mình để trang trí, bày biện cho các góc này, hoặc GV tìm cách liên hệ
với các đơn vị trong trường như Đoàn thanh niên, thư viện trường… để yêu cầu hỗ trợ
về nguồn tài liệu. GV nên hỏi ý kiến của chính HS trong việc bài trí lớp học và tôn trọng
nguyện vọng, sáng kiến, ý tưởng riêng của các em trong sự hài hòa với điều kiện và qui
định của nhà trường. Một không gian lớp học sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho HS yêu quí
lớp của mình hơn và cảm thấy vui thích, phấn khởi mỗi khi đến trường.
Kết hợp việc dạy học hàng ngày với các hoạt động “khởi động”, “thư giãn” nhỏ
hoặc trò chơi đơn giản để tạo hứng thú học tập và tăng cường tinh thần đồng đội, tính
hợp tác cũng như rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau cho HS. Một số thầy cô giáo chúng
ta thường chỉ coi trọng chất lượng giờ giảng dạy trên lớp mà không chú ý nhiều đến
những dạng hoạt động “xây dựng tinh thần nhóm” hoặc mang tính “khởi động”, “thư
giãn”, giúp HS tạo cảm giác thỏai mái, hứng thú trước, trong, hoặc giữa các tiết học. Đó
có thể là những trò chơi nho nhỏ, một vài động tác thể dục vui đơn giản, đôi ba câu đố
vui/đố mẹo… được GV hoặc chính HS đưa ra và chỉ cần 57 phút để thực hiện. Thời
gian đầu, nếu HS chưa quen, GV chủ động chuẩn bị trước một số hoạt động để tổ chức
cho HS. Sau đó, căn cứ vào năng lực của HS trong lớp, GV có thể cử ra một nhóm nhỏ HS
(bao gồm thành viên đại diện của từng tổ trong lớp) chuyên phụ trách các hoạt động khởi
15
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
động như vậy của lớp, và các thành viên của nhóm lần lượt thay nhau tổ chức hoạt động
cho lớp.
Những dạng hoạt động này không chỉ giúp HS ‘tái tạo’ lại năng lượng cho việc
học tập, mà còn có thể làm cho các em thêm gắn bó, đoàn kết, nâng cao tinh thần tập thể
và kỹ năng hợp tác nhóm thông qua sự tương tác cá nhân để giải quyết nhiệm vụ mà các
hoạt động đặt ra. Những hoạt động như vậy nếu được tổ chức thường xuyên chắc chắn
sẽ giúp khích lệ tinh thần chung của tập thể lớp, góp phần tích cực vào việc kiến tạo
một bầu không khí tâm lý thoải mái, an toàn, thân thiện cho lớp học.
khăn của mình, bản thân HS có thêm động lực để cố gắng hơn trong học tập và rèn
luyện. Đồng thời, GV cũng được HS thêm yêu mến, tin cậy để có thể sẵn lòng chia sẻ
nhiều hơn những khó khăn, khúc mắc của mình trong cuộc sống hoặc học tập.
Quan tâm đến khó khăn của HS còn góp phần giúp GV xây dựng và duy trì được
một tập thể lớp đoàn kết, tương trợ, nơi HS cảm thấy mình là một phần có ý nghĩa của
cộng đồng lớp học và tích cực tham gia các hoạt động chung. Từ đó, từng bước hình
thành, củng cố tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể cho HS. Điều này càng có ý nghĩa
đối với nhóm thiểu số HS dân tộc thường hay mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp trong một
tập thể có đông HS người Kinh hơn.
Một số cách thức thực hiện việc quan tâm đến những khó khăn của học sinh
Lập hồ sơ chi tiết của từng HS và thường xuyên cập nhật, bổ sung. Hồ sơ HS ở
đây không chỉ thuần túy là một bản ‘trích ngang’ những thông tin về hoàn cảnh cá nhân,
gia đình của HS như quan niệm truyền thống, mà còn bao gồm cả các sản phẩm trong quá
trình học tập và hoạt động của HS như bài tập/bài thi các môn học, các bản thu hoạch,
tranh vẽ sáng tác, bài thơ dự thi, bài báo tường, các nhận xét của những GV khác về HS,
bằng chứng về việc khen thưởng/kỷ luật, v.v. Túi hồ sơ hoàn thiện của một HS chính là
“cửa sổ để quan sát tư duy và quá trình học tập của HS”, mà GV thông qua đó có thể nhìn
rõ hơn bức tranh sinh động, chân thực về các HS của mình bao gồm cả những thuận lợi,
khó khăn mà em đó gặp phải trong học tập và cuộc sống.
Việc xây dựng, quản lý và cập nhật hồ sơ HS có thể hiệu quả hơn nếu GV huy
động được sự tham gia của hội đồng tự quản lớp trong công việc này, vì hơn ai hết, HS
hiểu rõ hoàn cảnh và một số khó khăn, trở ngại trong cuộc sống của bạn bè mình. Hội
đồng tự quản lớp hoặc một số HS có trách nhiệm trong lớp học có thể cung cấp những
nguồn thông tin xác thực, cập nhật nhất về hoàn cảnh, điều kiện, những thay đổi trong
cuộc sống của các thành viên trong lớp, giúp GV hiểu rõ hơn về tập thể HS của mình và
những khó khăn mà các em phải đối mặt.
17
sự tin cậy lớn hơn đối với cả HS lẫn gia đình các em.
Thiết lập và duy trì mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa GV với HS, từ đó biết
và hiểu rõ hơn những khó khăn đặc thù của từng HS. Một số GV thường e ngại rằng việc
duy trì mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa GVHS có thể phần nào làm cho HS quên
18
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
mất khoảng cách cần thiết giữa thầy và trò theo truyền thống lễ nghi phương Đông, hoặc
khiến HS cảm thấy “nhờn” với thầy cô, từ đó khó khăn hơn trong giáo dục các em. Tuy
nhiên, nếu GV có bản lĩnh, thực sự hiểu tâm sinh lý tuổi HS và có sự nhạy cảm nghề
nghiệp cần thiết để cân bằng được mối quan hệ với HS thì nỗi lo ngại đó sẽ không thành
hiện thực.
Tăng cường sự tham gia và ý thức trách nhiệm của hội đồng tự quản và tập thể
HS để HS có ý thức tự quan tâm đến thành viên lớp mình và tìm cách hỗ trợ nhau. Trong
một số trường hợp nhất định, HS tự giúp nhau sẽ hiệu quả và thiết thực nhất.
Giao trách nhiệm cụ thể cho Ban cán sự lớp trong việc tìm hiểu hoàn cảnh một số
HS đặc biệt trong lớp để có hướng giúp đỡ hiệu quả. Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tế nhị,
tránh gây tổn thương, mặc cảm đến em HS đang gặp khó khăn. Bên cạnh đó, GV cũng
không thể phó mặc hoàn toàn việc này cho Ban cán sự lớp, mà cần thường xuyên theo
dõi, đôn đốc và giám sát công việc của các em để có những chỉ dẫn hoặc can thiệp kịp
thời.
Chú trọng xây dựng và duy trì bầu không khí tập thể lớp học đoàn kết thân ái,
luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Muốn vậy, trước hết bản thân GV phải làm gương tốt cho
HS bằng cách luôn cư xử đúng mực với người khác, tận tình giúp đỡ người gặp khó khăn
bất kể đó là đồng nghiệp, HS, hay những hoàn cảnh không may khác xung quanh mình.
HS rất có ấn tượng với cách cư xử, lối sống hàng ngày của GV, do vậy một gương GV
nhân ái, luôn biết quan tâm giúp đỡ những người xung quanh sẽ là bài học ‘sống’ giá trị
nhất để tác động tới các em. Mặt khác, GV có thể phối hợp với Đoàn thanh niên và Ban
khăn của nhau, và GV cũng sẽ nắm được nhiều thông tin hơn về HS của mình.
Tích cực tìm kiếm những cách thức tác động, phối hợp với các lực lượng trong và
ngoài nhà trường để góp phần giải quyết những khó khăn của HS. Đôi khi những vấn đề,
khó khăn mà HS gặp phải trong học tập, đời sống vượt quá khả năng giải quyết, xử lý
của GV, ví dụ HS có những cú sốc nặng nề về tinh thần, tình cảm phải cần tới sự hỗ trợ
và tư vấn chuyên môn của chuyên gia tâm lý, HS có khả năng học tập tốt nhưng gia đình
gặp khó khăn về kinh tế có thể sẽ phải bỏ học giữa chừng nếu không được trợ giúp chi
phí học tập, v.v. Với những trường hợp như vậy, GV không chỉ cần phát hiện được khó
khăn của HS mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối để tác động, liên kết
với các lực lượng, cá nhân trong và ngoài nhà trường có thể cung cấp sự trợ giúp tới HS.
3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện
ở lớp, ở nhà
Tao c
̣ ơ hôi giup cac em hoc sinh bi
̣
́ ́
̣
ết được các biểu hiện về tinh thần trách nhiệm
đối với bản thân, gia đình, và trường lớp, biêt th
́ ực hiện công việc với tinh thần trách
nhiệm va quý m
̀
ến, trân trọng những bạn có tinh thần trách nhiệm la môt viêc lam co y
̀ ̣
̣
̀
́ ́
nghia l
̃ ơn lao. Cha ông ta co câu “Hoc th
́
́ ương phap day hoc theo h
́ ̣
̣
ương phat huy tinh
́
́
́
tich c
́ ực chu đông cua ng
̉ ̣
̉
ươi hoc lai cang cân co s
̀ ̣ ̣ ̀
̀ ́ ự giup đ
́ ỡ lân nhau trong hoc tâp
̃
̣ ̣ ở lớp, ở
nha. Nh
̀ ưng bai tâp co tinh h
̃
̀ ̣
́ ́ ợp tac cao ma cac thây cô giao giao cho cac em th
́
̀ ́
̀
́
́
ực hiên rât
̣
́
́ ở nha. Đo la s
̀ ́ ̀ ự giup đ
́ ỡ nhau trong cuôc sông nh
̣
́
ư
cung nhau chia se sach v
̀
̉ ́ ở, tai liêu, cung nhau đi r
̀ ̣
̀
ừng lây cui vê nâu ăn, cung thôi c
́ ̉ ̀ ́
̀
̉ ơm hay
rửa bat, cung lam cac bai tâp, ...
́ ̀
̀
́ ̀ ̣
Tô ch
̉ ưc cac nhom hoc tâp, đôi ban cung tiên
́ ́
́
̣ ̣
̣
̀
́
Học nhóm là một phần quan trọng để tạo ra một lớp học hiệu quả. Tuy nhiên, đây
không chỉ là học sinh “làm việc cùng nhau” đơn thuần mà là cùng hợp tác học tập dưới
hình thức học nhóm. Mục tiêu chính yếu của học nhóm là giúp học sinh chủ động học tập
ệu quả, trước hết giao viên cân giup t
́
̀
́ ưng hoc
̀
̣
sinh xác định trách nhiệm của bản thân, ngoài ra các thành viên trong nhóm cần có ý thức
tự giác: tự giác về thời gian, bài vở, tự giác “phát biểu”...
Hãy hoàn thành tất cả các bài tập có thể, dàn ý bài học thuộc và các bài đọc tham
khảo, đối với các môn xã hội.
Trình bày những gì mình đã chuẩn bị và biết đặt ra các câu hỏi
Tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như
ý kiến của họ.
Mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu người khác phải trình bày ý kiến, phát biểu
và đóng góp.
Có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với bạn.
Một nhóm học tâp c
̣ ần biết
Mỗi nhóm học chỉ từ 35 người. Nhóm đông hơn sẽ khó quản lý và giao công
việc.
Mỗi nhóm học cần phải làm quen với cách thức hoạt động của cả nhóm, cần đưa
ra những nguyên tắc chung thống nhất mà mọi người đều đồng ý.
Phải luôn chia sẻ những kinh nghiệm cũng như hiểu biết của mình về vấn đề
đang thảo luận với cả nhóm.
Cố gắng để hiểu ý kiến, quan điểm của các thành viên khác. Không chỉ trích
người khác nếu người đó đưa ra một quan điểm trái ngược với mình hoặc mình không
đồng ý.
Không ngại hỏi những điều mình chưa biết hoặc còn thắc mắc.
22
ược hình thành, tạo
dựng và khẳng định trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đo. B
́ ản sắc văn hóa
dân tộc là biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử. Giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách dân tộc. Cốt cách dân tộc được
coi là "chất", là "bộ gien" của mỗi dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là
bảo vệ, giữ gìn bộ gien quý đó.
Đối với các lơp hoc
́ ̣ ở vùng co hoc sinh DTTS, vi
́ ̣
ệc tim hiêu va tôn trong ban săc
̀
̉
̀
̣
̉
́
văn hoa dân tôc, nhât la phong tuc tâp quan có ý nghĩa vô cung quan tr
́
̣
́ ̀
̣ ̣
́
̀
ọng. Co thê thây, môi
́ ̉ ́
̃
dân tôc, môi đia ph
̣
̃ ̣
̣
̀ ̀
́
́
̣
́ ược gia tri, ve đep cua
́ ̣ ̉ ̣
̉
nhưng net ban săc riêng đo đê gi
̃
́ ̉
́
́ ̉ ữ gin va phat huy đông th
̀ ̀ ́
̀
ời giup cac em nhân thây đ
́ ́
̣
́ ược
những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại lâu đời của cộng đồng thiểu số đang cản trở
sự phat triên cua công đông, xa hôi đê các em co th
́
̉
̉
̣
̀
̃ ̣ ̉
́ ưc thay đôi, điêu chinh nhăm h
́
̉
̀
̉
hiên s
̣ ự hiêu biêt cua minh v
̉
́ ̉
̀ ơi dân tôc đo, co nh
́
̣
́ ́ ư vây viêc giao duc, ren luyên cac em hoc
̣
̣
́ ̣
̀
̣
́
̣
sinh DTTS mơi co thê th
́ ́ ̉ ực hiên đ
̣ ược môt cach tôt nhât, hiêu qua nhât.
̣ ́
́
́
̣
̉
́
Tô ch
̉ ưc cac hoat đông vui ch
́ ́
̣
̣
̀
̀ ́
́
ơi nay nên có s
̀
ự tham gia
cua ca giao viên và hoc sinh. H
̉
̉
́
̣
ọc sinh có thể đề nghị các trò chơi, đăc biêt la nh
̣
̣ ̀ ưng tro
̃
̀
chơi cua dân tôc cac em, nh
̉
̣
́
ững trò chơi này được tập thể đồng ý. Giáo viên sẽ là người
xem xét nếu trò chơi nào nguy hiểm, không thích hợp thì gợi ý học sinh các trò chơi khác,
tro ch
̀ ơi nao ma giao viên ch
̀
̀ ́
ưa biêt thi hoc sinh co thê mô ta va h
́ ̀ ̣
́ ̉
́ ̀
̣ ̣
́
Hình thức sinh hoạt cần chuẩn bị chu đáo, cụ thể, có phân công rõ ràng… Có thể
tổ chức vào giờ cuối tuần, giờ sinh hoạt ngoại khoá, trong lớp hoặc ngoài trời… giao viên
́
24
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: Thái Thị Luận
chuẩn bị chủ đề, các câu hỏi gợi ý, phim ảnh, sách báo, tình huống… học sinh có thể trao
đổi nhóm, góp ý kiến cá nhân… có xen kẽ những trò chơi, tạo hứng thú cho học sinh khi
tham gia. Nội dung cần biên soạn phù hợp lứa tuổi, ngắn gọn, dễ hiểu, nhiều hình ảnh
minh họa để học sinh dễ theo dõi…
Giáo viên cần tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, gợi ý học sinh tham gia ý kiến về các
chủ đề liên quan đến học sinh như: “net đep văn hoa dân tôc em” hay “nh
́ ̣
́
̣
ưng điêu ban
̃
̀ ̣
chưa biêt vê phong tuc tâp quan dân tôc tôi”, ...
́ ̀
̣ ̣
́
̣
Tô ch
Trong thời gian này, tuỳ từng nội dung và hình thức cuộc thi, giáo viên cần có kế hoạch
hướng dẫn, giúp học sinh thu thập tài liệu và tìm hiểu nhằm đảm bảo chất lượng tác
phẩm dự thi.
Trước khi phát động cuộc thi, giáo viên cần xác định các thành phần ban tổ chức.
Nếu là cuộc thi ở cấp lớp, ban tổ chức có thể là giáo viên chủ nhiệm và một vài giáo viên
liên quan. Nếu là cuộc thi cấp trường, nhà trường cần xác định một số cán bộ và giáo
viên đóng vai trò ban tổ chức. Ban tổ chức cần xây dựng và thống nhất thể lệ cuộc thi
trong đó xác định rõ: hình thức và nội dung dự thi, đối tượng dự thi, cơ cấu giải thưởng,
thời gian dự thi, nơi nộp bài hoặc trình bày bài dự thi, thời gian công bố giải thưởng,
người liên lạc.
25