sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp giúp học sinh học tốt dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5 - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phước Vĩnh Đông, ngày 06 tháng 4 năm 2016

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh học tốt

dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5”
A) SƠ LƯỢC LÝ LỊCH:
- Ông (bà): Võ Thị Phương Diễm
- Năm sinh: 1987
- Nơi thường trú: Tổ 8 – ấp I – xã Phước Vĩnh Tây – huyện Cần Giuộc –
tỉnh Long An
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Vĩnh Đông
- Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn 5
- Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp 5A1

B) NỘI DUNG:
1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học nền tảng. Mỗi
môn học ở Tiểu học đều góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát
triển những cơ sở ban đầu về nhân cách con người Việt Nam. Trong đó, môn
Toán giữ vị trí rất quan trọng trong thực tiễn cuộc sống. Đó là công cụ cần
thiết để học các môn học khác, để nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt

khó, đa dạng và phức tạp như loại toán chuyển động đều mà thời lượng dành
cho ít như vậy nên học sinh không được củng cố và rèn luyện kĩ năng nhiều
chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài.

* Trong hơn bốn năm giảng dạy ở lớp 5, tôi nhận thấy khi học về
phần giải toán chuyển động đều học sinh thường bộc lộ một số hạn chế
sau:
a) Trình độ học sinh không đồng đều, nhất là kĩ năng giải toán, khả
năng tư duy, suy luận của một số học sinh còn rất hạn chế.
b) Không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ về dữ kiện, điều
kiện đưa ra trong bài toán.
Ví dụ: Quãng đường AB dài 25km. Trên đường đi từ A đến B, một
người đi bộ 5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B. Tính vận tốc của
ô tô. (Bài tập 3/140 SGK Toán 5)
Gần 1/3 số học sinh tìm vận tốc bằng phép tính: v = 25 : 0,5 = 50
(km/giờ). Còn đa số học sinh đều nhận ra được:
- Quãng đường người đó đi được bằng ô tô là: 25 – 5 = 20 (km)
- Vận tốc của ô tô là: 20 : 0,5 = 40 (km/giờ)
c) Chưa nắm rõ ý nghĩa vật lí của các đại lượng một cách trọn vẹn.
Cho nên khi giải các bài toán về chuyển động đều các em còn lúng túng ở
khâu chọn phép tính giải, chọn đơn vị đo.
Ví dụ: Một ô tô đi được quãng đường 135km hết 3 giờ. Một xe máy
cũng đi quãng đường đó hết 4 giờ 30 phút. Hỏi mỗi giờ ô tô đi nhiều hơn xe
máy bao nhiêu km? (Bài tập 1/144 SGK Toán 5)
Thật ra, đây chỉ là bài toán yêu cầu học sinh so sánh vận tốc của hai xe
nhưng rất ít và hầu như không học sinh nào nhận ra dù đây là bài toán nằm ở
tiết Luyện tập chung.

Người viết: Võ Thị Phương Diễm


- Học sinh cải thiện tình trạng trên và học tốt hơn phần giải toán
chuyển động đều. Cụ thể là:
+ Phải nhớ và nắm được cách giải từng dạng toán ở dạng tường minh
nhất.
+ Phải nắm được các thao tác, từ đó có thể vận dụng một cách linh
hoạt vào việc giải những bài toán có chất lượng phức tạp hơn.
- Phát huy khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh.
- Bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê học Toán.
- Bản thân nâng cao chất lượng dạy – học mảng kiến thức này.
- Khẳng định lại tính hiệu quả và tính khả thi của giải pháp mà cách
đây hai năm tôi đã áp dụng có hiệu quả ở lớp mình phụ trách.
3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Sau đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện để giúp học sinh học
tốt phần giải toán chuyển động đều:
3.1. Giúp học sinh nắm được các kiến thức có liên quan:
Người viết: Võ Thị Phương Diễm

Trang 3


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2015 - 2016

Đây là một giải pháp mới mà tôi vừa bổ sung và áp dụng trong năm
học này. Để thực hiện tốt việc giải toán về chuyển động đều, học sinh cần
nắm và vận dụng thành thạo các kiến thức sau:
a. Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài:

= 10m
=0,1hm

1m
= 10dm
=
0,1dam

1dm
= 10cm
= 0,1m

cm
(xăng-ti-

mm
(mi-li-

mét)

mét)

1cm
= 10mm
= 0,1dm

1mm
= 0,1cm

- Khi chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, giáo viên cần lưu ý học sinh:



PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC

Đề tài sáng kiến kinh

nghiệm
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Năm học: 2015 - 2016

cần thiết. Bên cạnh những bài tập củng cố, tơi còn linh hoạt tổ chức một số trò
chơi học tập đơn giản như “Tìm nhà cho thỏ”, “Gà mẹ tìm con”, “Đồn kết”,
“Tìm kho báu”, … để lơi cuốn học sinh hứng thú tham gia vào bài.
3.2. Giúp học sinh nắm vững các ý nghĩa vật lí, cơng thức tính từng đại
lượng liên quan:
Để làm được điều này thì ngay trên lớp, khi dạy bài mới, tơi đã chú trọng
giúp học sinh hiểu rõ bản chất, ý nghĩa vật lí hoặc hình thành những biểu tượng
đơn giản về từng loại đại lượng; hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới
dựa trên vốn kinh nghiệm của các em thơng qua những gợi ý, rồi tơi mới chốt
kiến thức.
a. Vận tốc:
- Vận tốc của một chuyển động cho biết mức độ chuyển động nhanh hay
chậm của chuyển động đó trong một đơn vị thời gian.
Ví dụ: Vận tốc của ơ tơ là 42,5 km/giờ nghĩa là trung bình mỗi giờ ơ tơ đi
được 42,5km. Và giáo viên phải giúp học sinh hiểu được theo chiều ngược lại
rằng nếu đề bài hỏi: “Trung bình mỗi giờ ơ tơ đi được bao nhiêu km?” thì tức là
hỏi vận tốc của ơ tơ.
- Muốn tính vận tốc ta lấy qng đường chia cho thời gian đi (v = s : t)
- Giáo viên cần phải nhấn mạnh với học sinh:

Năm học: 2015 - 2016

- Thời điểm đến: là lúc kết thúc một chuyển động đều.
- Muốn tính thời gian đi ta lấy thời điểm đến trừ thời điểm khởi hành.

 Chú ý:

Khi sử dụng các đại lượng trong một hệ thống đơn vị cần lưu ý

học sinh:
- Nếu qng đường là km, thời gian đi là giờ thì vận tốc là km/giờ.
- Nếu qng đường là m, thời gian đi là phút (hoặc giây) thì vận tốc là
m/phút (hoặc m/giây).
- Với cùng một vận tốc thì qng đường tỉ lệ thuận với thời gian đi.
- Trong cùng một thời gian đi thì qng đường tỉ lệ thuận với vận tốc.
- Trên cùng một qng đường thì vận tốc và thời gian đi là hai đại lượng
tỉ lệ nghịch.
3.3. Hình thành thói quen giải tốn tích cực cho học sinh trong các giờ
học tốn:
Trong q trình hệ thống hóa các bài tốn chuyển động đều, tơi thấy để đi
được đến bước dùng cơng thức cơ bản để tìm đáp số của bài tốn, học sinh phải
phân tích, suy luận từ những dữ kiện của bài tốn, vận dụng những kiến thức có
sẵn, tháo gỡ mâu thuẫn và các tình huống đặt ra trong bài tốn để cuối cùng đưa
bài tốn về dạng cơ bản, điển hình. Ở mỗi bài lại có các bước phân tích, tìm tòi
lời giải khác nhau. Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phải có khả năng phân tích, suy
luận, xử lí linh hoạt, chính xác các dữ kiện, tình huống bài tốn đưa ra. Do đó,
việc hình thành cho học sinh thói quen giải tốn tích cực sẽ giúp học sinh lựa
chọn được lời giải, phép tính giải đúng, khơng giải tốn một cách máy móc, rập
khn.
Để thực hiện điều này, tơi đã tiến hành theo 5 bước:

Năm học: 2015 - 2016



Bước 3: Hướng dẫn học sinh tìm cách giải:
Dựa vào tóm tắt, tơi đã giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho
và cái phải tìm bằng những câu hỏi gợi mở: Muốn trả lời câu hỏi của bài tốn thì
cần biết những gì? Cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy, cái
gì đã biết, cái gì chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết cái gì? …,
cứ như thế đi dần đến những điều đã cho trong đề tốn. Từ những định hướng
trên, học sinh sẽ suy luận, tính tốn để tìm ra con đường đi từ những điều đã cho
đến đáp số của bài tốn.

 Lưu ý: Việc giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách giải cho các bài tốn
là vơ cùng quan trọng. Vì nó khơng chỉ dạy học sinh nắm phương pháp giải, giúp
học sinh tích cực tìm tòi, khám phá ra cách giải cho các bài tốn, mà mục đích
quan trọng nhất là dạy học sinh cách học. Cho nên cần phải xác định giáo viên
chỉ là người tổ chức hướng dẫn, định hướng, gợi mở cho học sinh chứ tuyệt đối
khơng được làm thay học sinh.



Bước 4: Học sinh viết bài giải:
Học sinh có thể trình bày từng phép tính riêng biệt hoặc trình bày dưới
dạng biểu thức gồm vài phép tính.



Bước 5: Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả:
Khi giải xong, học sinh cần thử lại xem đáp số tìm được có phù hợp với

nghiệm
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Năm học: 2015 - 2016

* Cơng thức vận dụng là:

v=s:t ;
s=vxt ;
t=s:v
Ở dạng này, tơi đã dần hình thành kĩ năng giải tốn cho học sinh qua thao
tác hướng dẫn bằng những câu hỏi gợi mở:
- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?
- Muốn tìm yếu tố đó ta làm thế nào?
- Đơn vị của yếu tố cần tìm là gì?
Ví dụ: Một ca nơ đi với vận tốc 15,2 km/giờ. Tính qng đường đi được
của ca nơ trong 3 giờ. (Bài tập 1/141 SGK Tốn 5)
HS dễ dàng tìm được qng đường bằng phép tính: 15,2 x 3 = 45,6 (km)
Ví dụ: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12,6 km/giờ. Tính
qng đường đi được của người đó. (Bài tập 2/141 SGK Tốn 5)
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề tốn:

s = ?km
t = 15 phút
v = 12,6 km/giờ
- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?
- Muốn tính qng đường đi được của người đó ta làm thế nào?
- Nhìn vào đơn vị vận tốc, theo em, qng đường và thời gian phải đo
bằng đơn vị gì?
- Trước khi tính qng đường ta phải làm gì?

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Năm học: 2015 - 2016

- Sau khi hướng dẫn tóm tắt bài tốn:
s = ?km
A

B
t đến = 12 giờ 15 phút

t khởi hành = 7 giờ 30 phút
v = 46 km/giờ

- Học sinh sẽ giải được bài tốn trên theo 2 bước như hướng dẫn:
Thời gian ơ tơ đi từ A đến B là:
12 giờ 15 phút - 7 giờ 30 phút = 4 giờ 45 phút = 4,75 giờ
Độ dài qng đường AB là:
46 x 4,75 = 218,5 (km)
Đáp số: 218,5km
b) DẠNG 2: Hai chuyển động ngược chiều gặp nhau, khởi hành cùng
lúc:
Ví dụ: Qng đường AB dài 180km. Một ơ tơ đi từ A đến B với vận tốc
54km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ. Hỏi kể từ
lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ơ tơ gặp xe máy? (Bài tập 1(a)/144 SGK Tốn 5)
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:
t gặp nhau = ?giờ
A

180km


Năm học: 2015 - 2016

+ Vận tốc của xe máy là 36 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung bình mỗi
giờ xe máy đi được 36km)
+ Sau mỗi giờ, cả ơ tơ và xe máy đi được bao nhiêu km? (54 + 36 = 90
(km))
+ Tìm thời gian đi để hai xe gặp nhau, ta làm thế nào? (180 : 9 = 2 (giờ))
+ Học sinh trình bày bài giải hồn chỉnh và kiểm tra đáp số.
c) DẠNG 3: Hai chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau, khởi hành
cùng lúc:
Ví dụ: “Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12 km/giờ, cùng lúc đó
một người đi xe máy từ A cách B là 48km với vận tốc 36 km/giờ và đuổi theo xe
đạp. Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp?” (Bài tập
1(a)/145 SGK Tốn 5)
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:
t đuổi kịp = ?giờ

A

48km
v xe máy = 36 km/giờ

B

C

v xe đạp = 12 km/giờ

* Học sinh nhìn vào sơ đồ và tìm cách giải:


 Tóm lại: Sau khi hướng dẫn ví dụ mẫu trong SGK (bài tập 1(a)/144
– dạng 2; bài tập 1(a)/145 – dạng 3), tơi đã hướng dẫn học sinh rút ra các bước để
giải bài tốn thuộc hai dạng này như sau:
Bước 1: Xác định các điều kiện cần thiết:
- Xác định hai chuyển động cùng chiều hay ngược chiều;
- Xác định được khoảng cách ban đầu giữa hai chuyển động khi chúng
xuất phát cùng lúc (s);
- Xác định được vận tốc của hai chuyển động (v1, v2 )
Bước 2:
- Tìm tổng vận tốc của hai chuyển động ngược chiều: v1 + v2
- Tìm hiệu vận tốc của hai chuyển động cùng chiều: v2 – v1 (nếu v2 > v1)
Bước 3:
- Tìm thời gian gặp nhau (hai chuyển động ngược chiều):
t gặp nhau =

s
v1  v 2

- Tìm thời gian đuổi kịp (hai chuyển động cùng chiều):

s
v2  v1
d) DẠNG 4: Hai chuyển động cùng chiều, đuổi kịp nhau, lệch thời điểm
xuất phát:
Đây thực ra cũng là một dạng “biến thể” của dạng 3 (hai chuyển động cùng
chiều đuổi kịp nhau, khởi hành cùng lúc). Nếu học sinh nắm được cách giải của
các dạng bài cơ bản ở trên và có khả năng tư duy, suy luận tốt sẽ thì sẽ dễ dàng
giải được dạng tốn này.
Ví dụ 1: Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ. Sau 3 giờ,

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

+ Học sinh nhìn vào sơ đồ và dễ dàng xác định đây là bài tốn dạng 3 (hai
chuyển động cùng chiều, khởi hành cùng lúc).
+ Tìm các điều kiện để giải bài tốn dạng này thì thấy còn thiếu khoảng
cách ban đầu của hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc. Khoảng cách đó chính là
độ dài qng đường AC do xe đạp đi được trong 3 giờ.
+ Từ định hướng đó, học sinh sẽ giải được bài tốn này như sau:
Khoảng cách ban đầu của hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc là:
12 x 3 = 36 (km)
Hiệu vận tốc của hai xe là:
36 – 12 = 24 (km/giờ)
Thời gian đi để xe máy đuổi kịp xe đạp là:
36 : 24 = 1,5 (giờ) = 1 giờ 30 phút
Đáp số: 1 giờ 30 phút
Ví dụ 2: Một xe máy đi từ A lúc 7 giờ với vận tốc 40km/giờ. Đến 7 giờ 30
phút, một ơ tơ cũng đi từ A đuổi theo xe máy với vận tốc 60km/giờ. Hỏi ơ tơ đuổi
kịp xe máy lúc mấy giờ? (Bài tập 3/28 BTCC kiến thức và kĩ năng mơn Tốn 5 –
tập hai – Chương trình của SEQAP)
* Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài tốn:
v xe máy = 40 km/giờ

v xe máy = 40 km/giờ

t1 = 7 giờ

t2 = 7 giờ 30 phút
B

A

Năm học: 2015 - 2016

40 x 0,5 = 20 (km)
Hiệu vận tốc của hai xe là:
60 – 40 = 20 (km/giờ)
Thời gian đi để ơ tơ đuổi kịp xe máy là:
20 : 20 = 1 (giờ)
Đáp số: 1 giờ
e) DẠNG 5: Chuyển động của thuyền lúc xi dòng nước và ngược dòng
nước:
(Đây là nội dung đã được Bộ GD&ĐT giảm tải nhưng tơi cũng xin đề cập
đến vì nội dung này giáo viên có thể dùng để bồi dưỡng cho những học sinh có
năng khiếu Tốn học.)

*

Để dạy – học tốt nội dung này, tơi đã hướng dẫn để giúp học sinh hiểu
rằng: Nếu dòng nước chảy thì bản thân dòng nước cũng là một chuyển động. Cho
nên khi vật chuyển động trên dòng nước thì dòng nước có ảnh hưởng đến chuyển
động của vật cụ thể:
- Nếu vật chuyển động ngược dòng thì có lực cản của dòng nước.
- Nếu vật chuyển động xi dòng thì có thêm vận tốc của dòng nước.
- Vận tốc xi dòng = vận tốc của vật + vận tốc dòng nước
- Vận tốc ngược dòng = vận tốc của vật – vận tốc dòng nước
Từ đó, ta suy ra được:
- Vận tốc dòng nước = (vận tốc xi dòng – vận tốc ngược dòng) : 2
- Vận tốc của vật = (vận tốc xi dòng + vận tốc ngược dòng) : 2
Ví dụ: Một thuyền máy đi xi dòng từ bến A đến bến B. Vận tốc của
thuyền máy khi nước lặng là 22,6 km/giờ và vận tốc dòng nước là 2,2 km/giờ. Sau
1giờ 15 phút thì thuyền đến bến B. Tính độ dài qng sơng AB. (Bài tập 4/162

- Dựa vào lưu ý: “Nếu vật chuyển động xi dòng thì có thêm vận tốc của
dòng nước”. Muốn tìm vận tốc thuyền máy khi xi dòng nước ta làm thế nào?
(ta lấy: 22,6 + 2,2 = 24,8 (km/giờ)
- Thời gian thuyền máy đi từ bến A đến bến B biết chưa? (1 giờ 15 phút)
- Muốn tính độ dài qng sơng AB, ta làm thế nào?
Đổi: 1 giờ 15 phút = 1,25 giờ
24,8 x 1,25 = 31(km)
Như vậy, dù bài tốn về chuyển động đều đang ở dạng nào thì điều quan
trọng đối với học sinh là phải biết cách tóm tắt đề tốn. Nhìn vào tóm tắt xác định
đúng dạng tốn để chọn phép tính phù hợp và trình bày bài giải đúng.
Khi giải các bài tốn dạng này, cần có cách giải linh hoạt, khơng áp đặt, để
học sinh lựa chọn cách giải, lời giải và phép tính giải phù hợp với u cầu đặt ra
của mỗi bài tốn (nhất là khi giải các bài tốn có nội dung thực tế). Đặc biệt,
khuyến khích và trân trọng những học sinh cố gắng suy nghĩ, tìm tòi những cách
giải mới, hay và sáng tạo. Bởi vì q trình tìm tòi những cách giải khác nhau của
bài tốn cũng là q trình rèn luyện trí thơng minh, óc sáng tạo và khả năng suy
nghĩ linh hoạt cho học sinh.
3.5. Luyện tập – thực hành:
Để hình thành kĩ năng giải tốn có lời văn cho học sinh mà ở đây là kĩ năng
giải các bài tốn về chuyển động đều khơng phải chỉ nói bằng lí thuyết là đủ mà
phải luyện tập thường xun. Chính vì vậy, trong từng tiết dạy trên lớp, tơi đều
hướng dẫn chậm và kĩ ở mỗi dạng bài mới trong SGK. Đối với những học sinh
chưa nắm bắt được nội dung bài học ngay trên lớp thì tơi sẽ hướng dẫn lại cho các
em trong giờ ra chơi và các tiết ơn luyện.
Ngồi những nội dung thực hành (2 tiết / tuần) trong quyển Bài tập củng cố
kiến thức và kĩ năng mơn Tốn (Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục
trường học - SEQAP) nhằm góp phần giúp học sinh đạt được chuẩn kiến thức, kĩ
năng mơn Tốn một cách vững chắc thì mỗi tuần, lớp tơi còn có thêm 1 tiết
Luyện Tốn. Đây là tiết giúp giáo viên ơn tập, giúp đỡ thêm cho những học sinh
còn chưa hồn thành ở một nội dung Tốn học nào đó. Đồng thời, đây cũng là tiết

bản thân tự rút kinh nghiệm trong những bài giải sau, cũng như giúp phụ huynh
đánh giá đúng thực chất năng lực học tập của con em mình ở lớp. Qua đó, phụ
huynh sẽ có biện pháp phối hợp với giáo viên nhằm giúp các em đạt được kết quả
tốt nhất khi học giải tốn chuyển động đều.
* Bên cạnh đánh giá của thầy đối với trò, giáo viên cũng cần hướng dẫn,
khuyến khích học sinh tham gia đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn
một cách khách quan, trung thực.
3.6. Trò chơi học tập:
Đối với mơn Tốn ở Tiểu học, nếu mỗi giáo viên chỉ truyền đạt, giảng giải
theo các tài liệu đã có sẵn trong SGK, trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài
dạy một cách rập khn, máy móc thì sẽ làm cho học sinh học tập một cách thụ
động. Điều đó sẽ khiến cho việc học tập của các em thật tẻ nhạt, đơn điệu và kết
quả học tập thường khơng cao. Nó là một trong những ngun nhân gây cản trở
việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo, sẵn sàng
thích ứng với những đổi mới diễn ra hằng ngày. Vì vậy người giáo viên phải gây
được hứng thú học tập cho các em bằng cách lơi cuốn các em tham gia vào các
hoạt động học tập. Trò chơi học tập là một hoạt động mà các em hứng thú nhất.
Hiểu được điều đó nên sau mỗi giờ học tốn về chuyển động đều, tơi đều tổ
chức hoạt động củng cố bài cho học sinh bằng những trò chơi học tập thú vị để
củng cố về cơng thức tính qng đường, vận tốc, thời gian đi, củng cố kĩ năng
giải các dạng tốn cơ bản, chuyển đổi các đơn vị đo thời gian, … như:
- “Tìm nhà cho thỏ” : Học sinh sẽ tìm những chú thỏ có đáp án đúng về
tính vận tốc (hoặc qng đường, thời gian đi, …), về chuyển đổi các đơn vị đo đại
lượng hoặc về thực hiện các phép tính với số vào ngơi nhà phù hợp có chứa đề
bài phù hợp.

Người viết: Võ Thò Phương Diễm

Trang 16


tốn trong SGK bằng những con vật dễ thương như bác Kiến, chú Ong, cơ Bướm,
bác Rùa đi dự tiệc bằng ơ tơ, … đặt trong những tình huống truyện cực kì dễ
thương và ngộ nghĩnh kèm những số liệu đơn giản (học sinh có thể nhẩm tính
được). Mục đích là để rèn cho học sinh khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén, kĩ
năng suy luận, tính tốn nhanh khi giải các dạng bài về chuyển động đều.
c) “Đuổi hình bắt chữ”: HS dựa vào nội dung bức tranh để đốn ra đó là
đại lượng gì và nêu quy tắc tìm đại lượng đó. Hoặc dựa vào tình huống trong
tranh (thực ra đó là một dạng tóm tắt bài tốn bằng tranh cho sinh động), học sinh
sẽ suy luận, nhẩm tính và thơng báo ẩn số của bài tốn. Đây là hình thức mà học
sinh lớp tơi hứng thú tham gia nhiều nhất.
Song song đó, tơi cũng ln tạo điều kiện, động viên và khuyến khích
những học sinh tiếp thu bài chậm, kĩ năng nhẩm tính, giải tốn còn hạn chế tham
gia để vừa giúp các em ơn tập, củng cố vừa tạo hứng thú học tập cho các em. Tất
nhiên, thỉnh thoảng cũng cần có những phần thưởng nho nhỏ để động viên, khích
lệ tinh thần học tập của các em. Tuy nhiên, giáo viên cũng khơng nên q lạm
dụng vì dễ biến “trò chơi học tập” thành cuộc tranh đua vì giải thưởng thì sẽ
khơng hay.
4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC:

Người viết: Võ Thò Phương Diễm

Trang 17


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC

Đề tài sáng kiến kinh

nghiệm
Năm học: 2015 - 2016

gần 50%

Đúng dưới 50%
hoặc
sai hồn tồn
Tổng số
Tỉ lệ
00
00%

Tỉ lệ
39,5%

Tổng số
11

Tỉ lệ
28,9%

Tổng số
12

Tỉ lệ
31,6%

65,8%

11

28,9%

một q trình tìm tòi, học hỏi và tích lũy kiến thức, kinh nhiệm của riêng bản thân
mỗi người. Nhưng sau khi áp dụng các giải pháp trên, tơi nhận thấy học sinh lớp
tơi học tốt hơn hẳn mảng giải tốn chuyển động đều so với những năm học trước
mặc dù kĩ năng tính và giải tốn của các em ở đầu năm học thì thua xa những
năm học trước.
Với những kết quả đã đạt được, tơi tin rằng, nếu mạnh dạn áp dụng thì các
giải pháp trên hồn tồn có thể áp dụng được cho tất cả các lớp 5 ở bất kì trường
Tiểu học nào khi giáo viên giảng dạy về phần giải tốn chuyển động đều. Điều
quan trọng là giáo viên phải có sự tìm tòi, ham học hỏi, phải sáng tạo, linh hoạt,
khéo léo trong việc vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp và hình thức tổ chức
dạy - học khác nhau. Giáo viên cũng cần phải xác định rõ: mình chỉ là người

Người viết: Võ Thò Phương Diễm

Trang 18


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC

Đề tài sáng kiến kinh

nghiệm
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Năm học: 2015 - 2016

hướng dẫn, đưa ra phương pháp giúp học sinh học tập còn học sinh phải là
người hoạt động tích cực tìm tòi và lĩnh hội tri thức để biến nó thành vốn q của
bản thân. Muốn được như vậy, cần phải có sự kiên trì của cả hai phía giáo viên và
học sinh trong suốt q trình học tập của các em.

trợ để các em có được sự thoải mái khi học tập.
Vì thời gian có hạn và năng lực nhận thức còn hạn chế nên khó tránh khỏi
những thiếu sót. Tơi cũng rất mong nhận được những đóng góp chân thành của

Người viết: Võ Thò Phương Diễm

Trang 19


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN GIUỘC

Đề tài sáng kiến kinh

nghiệm
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯỚC VĨNH ĐÔNG

Năm học: 2015 - 2016

anh chị em đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để những giải pháp của tơi được
hồn thiện hơn, giúp học sinh lớp tơi học tốt hơn mảng kiến thức này trong những
năm học tiếp theo.
Thủ trưởng đơn vị xác nhận, đề nghị
(ký, đóng dấu)

...............................................................................

Người viết
(ký, ghi rõ họ tên)

Võ Thị Phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status