thu hoạch đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục - Pdf 37

Con ngời có vai trò quyết định đối với mọi quá trình phát triển kinh tế xã
hội. Trong lĩnh vực kinh tế và sản xuất, V.I. Lênin đã khẳng định, lực lợng sản
xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động. Vâng
đúng vậy; t tởng con ngời là trung tâm cuộc sống và ngày nay gọi là trung tâm
của sự phát triển gắn liền với lịch sử văn hoá, văn minh nhân loại. Con ngời đợc coi là chủ đề của lịch sử, của mọi giá trị, mọi nền văn minh. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát
triển toàn diện con ngời Việt Nam. Đây là vấn đề trung tâm của mọi đờng lối
chiến lợc, sách lợc của Đảng và đợc xác định là nguồn gốc, động lực của sự
phát triển toàn diện đất nớc. Quan điểm đó, không chỉ dừng lại ở t tởng chỉ
đạo mà còn là chủ trơng chiến lợc, là sự bảo đảm cho tơng lai, tiền đồ của dân
tộc. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH chỉ rõ:
Nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất của chúng ta là tiềm lực con ngời Việt
Nam, trong đó có tiềm lực trí tuệ và mọi chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh
phúc con ngời là động lực lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội 1. Để thực hiện chủ trơng chiến lợc
đó, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu đợc Đảng xác định là phải
phát triển giáo dục; bởi chỉ có phát triển giáo dục mới tạo ra nguồn nhân lực
có chất lợng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy đất nớc phát triển nhanh và bền vững.
Hơn 60 năm qua, kể từ khi Nhà nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời,
Đảng ta đã đa ra nhiều quan điểm, chủ trơng chiến lợc để chỉ đạo phát triển
nền giáo dục Việt Nam. Các quan điểm, chủ trơng đó đợc thể hiện ở hầu hết
các văn kiện thông qua các kỳ Đại hội cũng nh các Hội nghị của Đảng bàn về
công tác giáo dục, đào tạo: Hội nghị Trung ơng 4 khoá (VII), Hội nghị Trung
1

ng Céng sn Vit Nam, Cng lnh xy dùng Êt níc trong thêi kú qu é ln ch ngha x héi, Nxb Sù tht, H, 1991, tr. 13.


ơng 2 (khoá VIII), Đại hội Đảng lần thứ IX; Đại hội X; trong Hiến pháp và Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt
là các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng trong những năm tới

ninh, quốc phòng, đồng thời tạo ra sức mạnh bên trong to lớn thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Ngợc lại, các lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng có tác động, ảnh
hởng to lớn đến giáo dục. có thể nói rằng, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời sự phát triển kinh tế - xã hội
cũng là mục tiêu và tạo ra sức mạnh cho giáo dục.
Đảng và Nhà nớc ta đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, luôn luôn
dành sự quan tâm và tạo điều kiện để phát triển giáo dục. Dân tộc ta có truyền
thống yêu nớc, lao động cần cù, thông minh và tinh thần hiếu học. Đảng và
Chính phủ ta đang phát huy những đặc điểm này để xây dựng một nền giáo dục
Việt Nam tiên tiến, hiện đại, hớng tới một xã hội học tập nhằm đáp ứng nhu cầu
đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn diện của con ngời Việt nam
trong thời đại mới, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nhiều chính sách phát triển gioá
dục đã đợc xây dựng và thực hiện, trong đó có chính sách mở rộng hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm khai thác nguồn lực của các nớc tiên
tiến phục vụ cho sự nghiệp giáo dục nớc nhà.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát triển
khách quan, trong đó vừa diễn ra quá trình hợp tác để phát triển, đồng thời vừa
là quá trình cạnh tranh gay gắt giữa các nớc. Sự đua tranh quyết liệt trên nhiều
lĩnh vực giữa các quốc gia, yêu cầu và điều kiện ra nhập hoạt động trong một số
tổ chức quốc tế nh: Tổ chức thơng mại thế giới ( VVTO) đã và đang đặt ra cho


các nớc đang phát triển, trong đó có nớc ta, những cơ hội và thách thức mới về
chất lợng nguồn nhân lực để nâng cao năng xuất lao động, chất lợng hàng hoá dịch vụ, năng lực cạnh tranh.
Cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã và đang tiếp tục diễn ra, với những bớc tiến nhảy vọt mang tính đột phá. thế giới đã và đang chuyển từ kỷ nguyên
công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức. Khoa
học công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp có tác động tới tất cả các
lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng, sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của
xã hội. Khoảng cách giữa các phát minh khoa học công nghệ và áp dụng vào
thực tiễn ngày càng thu hẹp lại; kho tàng kiến thức của nhân loại ngày càng đa
dạng, phong phú. Thông tin và tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu cho phát

ở nớc ta, sự nghiệp CNH,HĐH đợc tiến hành trong điều kiện phát triển nhiều
loại hình sản xuất, dịch vụ làm cho thị trờng lao động đợc mở rộng, loại hình
nhân lực trở nên đa dạng, nhu cầu học tập tăng lên; mặt khác cũng làm thay đổi
quan niệm về giá trị, ảnh hởng đến việc xác định động cơ học tập, lựa chọn
ngành nghề, đồng thời cũng ảnh hởng đến các quan hệ trong nhà trờng và ngoài
xã hội. Cơ chế thị trờng cũng tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, góp phần tăng
thêm cách biệt về cơ hội và điều kiện học tập giữa các tầng lớp dân c. Mặc dầu
đã đạt đợc nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội, song về cơ bản nớc ta


vẫn là một nớc nghèo đang phát triển, cơ cấu kinh tế chậm chuyển đổi, sức
cạnh tranh cha cao, lao động trình độ thấp và d thừa, thu nhập quốc dân GDP
trên đầu ngời còn thấp, các nguồn nhân lực đầu t cho giáo dục còn hạn chế. Vì
thế, việc hội nhập quốc tế cũng là một cách để chúng ta huy động nguồn nhân
lực của các nớc và các tổ chức quốc tế vào phát triển nền giáo dục nớc nhà. Xã
hội tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đồng thời cũng đòi hỏi giáo dục phải
đáp ứng những nhu cầu của xã hội ; phải kịp thời điều chỉnh cơ cấu và quy mô,
nâng cao hiệu quả giáo dục để đáp ứng nhanh nhu cầu nhân lực của nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Để đi tắt đón đầu từ một nớc kém phát
triển, vai trò của giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ lại càng có tính quyết
định.
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đây là quan điểm chỉ đạo quan trọng đã
đợc khẳng định nhiều lần trong nhiều năm qua. Về mặt thuật ngữ, lần đầu tiên
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã khẳng định: Phát triển giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Kể từ đó
đến nay quan điểm này luôn đợc nhấn mạnh lại một cách mạnh mẽ và từng bớc
đợc triển khai thực hiện trong toàn xã hội một cách cụ thể hơn. Tuy nhiên,
chúng ta cũng nhận thấy rằng không phải chỉ từ khi giáo dục đợc khẳng định là
quốc sách hàng đầu thì sự nghiệp giáo dục của chúng ta mới đợc coi trọng.
Ngay sau khi nớc Việt nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày 08/09/1945 Chủ tịch



Kế thừa những t tởng của Nghị quyết Trung ơng hai (khoá VIII) và
những t tởng trớc đó về công tác giáo dục đào tạo của Đảng. Đại hội Đảng lần
thứ IX đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là điều kiện để
phát huy nghuồn lực của con ngời- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững. Thực tế, trong xã hội vẫn tồn tại những cách
hiểu, cách suy nghĩ cha đúng về giáo dục đào tạo. Nhiều ngời vẫn cho rằng giáo
dục là chính sách phúc lợi xã hội, mọi ngời đều có quyền hởng thụ.Coi giáo dục
là quốc sách hàng đầu, tức là giáo dục phải đợc u tiên nhất; phải bao cấp cho nó
nhiều nhất; tất cả giành cho giáo dục. Cách hiểu nh trên chúng ta thấy có phần
đúng nhng cha đủ. Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng, ngời đã giành nhiều công sức
chăm lo cho nền giáo dục nớc nhà đã chỉ ra rằng: Coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu tức là mọi ngời đợc hởng thụ sự giáo dục mà nói phỏng theo ý của
Bác Hồ Ai ai cũng đợc học hành. Không chỉ hởng thụ mà mọi ngời phải cống
hiến, có trách nhiệm cống hiến và cống hiến tất cả những gì mình có thể cho
giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu. Vốn là dân tộc có
truyền thống hiếu học và ham học, nhân dân ta mong muốn, đòi hỏi một cách
thiết tha quyền đợc giáo dục; giáo dục phải đợc đặt ở vị trí hàng đầu tức là vị
trí hàng thứ nhất, giáo dục phải đợc u tiên hàng đầu trong mọi chính sách
quốc gia, phải đi trớc một bớc làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội và con ngời; phải quan tâm tăng tỷ trọng ngân sách cho giáo dục và chính
sách phát triển giáo dục đúng đắn.
Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu còn đợc thể hiện ở chính sách phát
triển giáo dục, coi giáo dục là bộ phận hữu cơ quan trọng trong chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội. Chính sách phát triển giáo dục không nằm ngoài, không
tách khỏi chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội. Đây là cách nhận thức mới


trong những năm gần đây, trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đợc thể

đã dạy: Muốn có chủ nghĩa xã hội, trớc hết phải có con ngời xã hội chủ
nghĩa. Điều đó có nghĩa rằng coi con ngời là trung tâm của đờng lối kinh tế,
chính trị, xã hội và phát triển con ngời một cách toàn diện là nhân tố hàng đầu
đi trớc một bớc, là mục tiêu và động lực cho phát triển xã hội phát triển dân
tộc.
Ngày nay, chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều này cũng có nghĩa là, giáo dục phải
có chính sách phát triển toàn diện con ngời tạo tiêu đề quan trọng để đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hóa. Đảng ta xác định sự nghiệp giáo dục, đào
tạo hiện nay phải thực hiện tốt phơng châm giáo dục toàn diện con ngời Việt
nam; đồng thời phải góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng
nhân tài. Chúng ta thực hiện chủ trơng giáo dục không chỉ đào tạo con ngời có
trình độ và tay nghề điêu luyện trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà
đó còn là những ngời có t duy linh hoạt, sáng tạo và có kỷ luật. Đó là xu thế
của thời đại thế kỷ XXI là thế kỷ của kỹ thuật và nhân văn(2)
Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, xuất hiện một nền kinh tế mới
của thời đại thông tin, đó là kinh tế tri thức. Sự xuất hiện của nền kinh tế mới
này làm cho ngời ta càng nhìn thấy rõ hơn trí tuệ của con ngời kết tinh trong
đó. Trong nền kinh tế tri thức, nguồn lực con ngời là yếu tố chủ yếu cạnh
tranh trong thị trờng, u thế về tri thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế về
vốn, nguồn nguyên liệu và công nhân rẻ. Khi đó các nớc chậm phát triển thiếu
vốn, thiếu tri thức tiên tiến sẽ ngày càng tụt hậu hơn so với các nớc phát triển.
Để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu, các nớc đang phát triển cần
sớm có một chiến lợc đúng đắn để phát triển nguồn lực con ngời có trí tuệ cao.
Để giải quyết đợc vấn đề đó phải không ngừng phát triển giáo dục, xem giáo
Phạm Minh Hạc, phát triển giáo dục, phát triển con ngời phục vụ phát trỉen xã hội kinh tế, Nxb Khoa học
xã hội, H.1996, Tr 230
(2)


hoa văn hoá trí tuệ nhân loại; chúng ta lựa chọn nội dung ấy cho phù hợp với
bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngày nay là gắn phát triển vào giáo dục trong điều
kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ với đấu
tranh giải phóng dân tộc và chăm lo xây dựng, phát triển sức mạnh dân tộc
trong tơng lai. Giáo dục con ngời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức sức khoẻ và thẩm mỹ, phát triển đợc năng lực của cá nhân. Để đáp ứng
nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trờng gắn với đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hóa; giáo dục phải đào tạo những con ngời lao động có
kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, trung thành với lý tởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc
Ngay từ khi ra đời Đảng đã xác định: chúng ta xây dựng Nhà nớc Việt
Nam đi theo con đờng xã hội chủ nghĩa; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền
tảng t tởng. Cuối thế kỷ XX, khi chủ nghĩa xã hội ở một số nớc lâm vào khủng
hoảng và thoái trào. Kẻ thù đẩy mạnh sự chống phá vào nền tảng t tởng của
Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh. Đề phòng khuynh hớng, phi chính trị hoá trong giáo dục, đào tạo; Đảng ta khẳng định: chúng ta
xây dựng nền giáo dục theo định hớng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa MácLênin và t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng. Thực hiện công bằng trong
giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng đợc học hành; có những chính sách
khuyến khích để ngời học giỏi phát triển đợc tài năng.
3. Quan điểm phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, tiến hành khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an
ninh


Xuất phát từ nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trờng kết hợp với
giáo dục gia đình và xã hội.Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kỳ Đại hội trớc, Đại hội X chỉ rõ: Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn
đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển
nhanh nguồn nhân lực chất lợng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành. Chú trọng
phát hiện, bồi dỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn

Phát triển giáo dục phải dựa trên nền tảng tinh thần văn hoá dân tộc,
thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, góp phần củng cố thế trận toàn dân;
an ninh nhân dân. Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trờng kết
hợp với giáo dục gia đình và xã hội. Đẩy mạnh và nâng cao chất lợng chơng
trình giáo dục quốc phòng trong đông đảo các tầng lớp nhân dân. Luôn chú
trọng giáo dục góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lợc là xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Trong phát triển giáo dục, hiện nay có một số nớc phát triển đang rất
quan tâm đến mô hình gắn đào tạo nhà trờng với hoạt động nghiên cứu khoa
học và cơ sở sản xuất kinh doanh; thực hiện nhất thể hoá trong giáo dục. Đây
là một mô hình giáo dục có nhiều u điểm mà ta đã và đang lựa chọn, kế thừa
để vận dụng cho phù hợp với nền giáo dục Việt Nam.
Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội là quan
điểm chỉ đạo nhất quán đợc Đảng ta quan tâm ngay từ khi xây dựng nền giáo
dục mới Việt Nam. Đây là một trong những quan điểm cơ bản, có tính nguyên
tắc trong thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng. Ngày nay, trong sự phát
triển mạnh mẽ của thông tin, của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đòi hỏi
giáo dục phải nhanh chóng nắm bắt định hớng cho việc đa những thành tự của
khoa học công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.


4. Quan điểm giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nớc và của toàn
dân.
Đây là quan điểm thể hiện sự huy động sức mạnh của toàn dân tham gia
vào sự nghiệp giáo dục; tiến tới xây dựng một xã hội học tập, tạo điều kiện
cho mọi ngời, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ đợc học tập thờng xuyên, học tập
suốt đời.
Để huy động đợc sức mạnh của toàn dân tộc tham gia và sự nghiệp giáo
dục trớc hết cần tăng cờng sức mạnh lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp. Căn

Trong một thời gian dài, do ta quan niệm giáo dục là một bộ phận của
kiến thức thợng tầng, mang tính phúc lợi xã hội, phản ánh tính nhân đạo và
nhân văn của xã hội ta nên giáo dục chậm phát triển. Cũng do sự nhận thức
không đầy đủ này mà ta đầu t cho giáo dục còn hạn chế, cha gắn chính sách
phát triển giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những nguyên nhân mà chất lợng nền giáo dục của chúng ta
thấp hơn một số nớc trong khu vực và trên thế giới là chúng ta cha tích cực
chạy đua để nâng cao chất lợng giáo dục. Theo đánh giá của một chuyên gia
trong ngành giáo dục nớc ta là chúng ta đã đầu t cho giáo dục theo kiểu dự án.
Trong giáo dục, đào tạo; chúng ta giữ đợc định hớng xã hội chủ nghĩa
nhng so với các nớc phát triển thì ta có sự tụt hậu hơn cả về nội dung, nhất là
phơng pháp giáo dục. Điều này cũng có nghĩa là tính hiện đại trong nền giáo
dục của chúng ta còn lạc hậu hơn so với thế giới và khu vực.
Thực trạng việc phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta những năm qua còn rất nhiều vấn đề đáng đợc quan tâm: cơ
, Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục- đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, H1999, tr13

(3 4)
(


cấu đào tạo bậc đại học, ngành học còn bất hợp lý, một số ngành bung ra đào
tạo một cách tự phát: kinh tế, luật... Trình độ đào tạo mất cân đối, cơ cấu về
trình độ là 1-1,5-3,5 (1 đại học, 1,5 trung học chuyên nghiệp, 3,5 sơ cấp),
trong khi đó với trình độ sản xuất ở nớc ta, theo kinh nghiệm của các nớc
trong khu vực, thờng là 1-4-10 hoặc 1-5-20(5) . Sự bất hợp lý về cơ cấu vùng,
miền khắc phục chậm (tính đến năm 2002 , bình quân cả nớc có 120 sinh
viên/một vạn dân)...
Tóm lại, những hạn chế, bất cập trên đây cần phải đợc khắc phục trong
thời gian tới đây. Bốn quan điểm cơ bản đợc thể hiện trong chiến lợc giáo dục
2001-2010 là những định hớng cơ bản, quan trọng nhằm khắc phục những hạn

của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Tích cực đổi mới nội dung, chơng trình, phơng pháp đào tạo; nghiên
cứu vận dụng nhiều phơng pháp dạy học mới phát huy tính tích cực của ngời
học. Nội dung dạy học vừa đảm bảo khoa học và hiện đại, đồng thời phù hợp
với đờng lối quốc phòng và xây dựng lực lợng vũ trang nhân dân Việt nam.
Việc quy hoạch, đào tạo và sử dụng đợc coi trọng và quan tâm đúng
mức. Đã huy động đợc sức mạnh của các lực lợng tham gia vào quá trình giáo
dục, đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật.
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới, công tác giáo
dục đào tạo ở các trờng quân sự còn bộc lộ một số tồn tại, khuyết điểm:
Đầu t cho công tác đào tạo mới đáp ứng đợc một phần nhu cầu và quan
điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Cơ sở vật chất kỹ thuật mới cơ
bản đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ, quy mô trình độ bậc đại học, cấp học. So
với yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo hiện nay và những năm tiếp theo thì
vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các học viện, nhà trờng phải thực hiện
tiêu chí đảm bảo chất lợng đào tạo của Nhà nớc. Đầu t xây cơ bản cho các học
viện, nhà trờng mới đạt 37% so với nhu cầu


Điều kiện làm việc, học tập, sinh hoạt ở các nhà trờng còn nhiều khó
khăn: vũ khí, trang bị lạc hậu hơn với ở đơn vị, thiếu về số lợng, chất lợng
thấp; các trung tâm huấn luyện thực hành cha đợc đầu t đúng mức, ảnh hởng
trực tiếp đến rèn luyện thực hành cho học viên.
Hệ thống nhà trờng quân đội còn khép kín, Phơng pháp đào tạo còn
giản đơn, nặng về truyền thụ lý thuyết, nguồn thông tin khoa học hạn hẹp.
Đội ngũ nhà giáo còn thiếu về số lợng, tỷ lệ đạt chuẩn còn thấp, chế độ
u đãi, chính sách khuyến khích đối với nhà giáo chậm đợc bổ sung, sửa đổi...
Những hạn chế trên đây có cả những nguyên nhân chủ quan và khách
quan; một trong những nguyên nhân quan trọng là chúng ta cha quán triệt và
cụ thể hoá các quan điểm giáo dục của Đảng vào các nhà trờng quân đội. Trớc




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status