SKKN vận dụng kiến thức lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản vợ nhặt của kim lân ở trường THPT thường xuân 2 - Pdf 37

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí quan trọng số một ở nhà
trường phổ thông và không bị bất kỳ quốc gia nào coi nhẹ. Ở nước ta cũng vậy,
môn Ngữ văn là môn học có vị trí và tầm quan trọng ở nhà trường phổ thông.
Ngoài chức năng công cụ, môn Ngữ văn còn góp phần rất lớn hình thành và phát
triển các năng lực chung cũng như góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và
các phẩm chất cao đẹp của người học. Hơn nữa, môn Ngữ văn vốn là một môn
học có đặc thù riêng. Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động
của mình, nó cung cấp cho người đọc những kiến thức
Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung
cấp cho người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn
trong tâm hồn con người, khơi gợi lên một thế giới kỳ ảo, huyền diệu và lung
linh sắc màu bởi vẻ đẹp nhân văn trong mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm.
Từ đó, nó tác động tới tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và
phát triển nhân cách cho con người. Chính vì lẽ đó nên môn Văn là môn học
không khô khan như một số môn khoa học tự nhiên như Toán, Lí, Hóa… trong
chương trình phổ thông. Tuy nhiên, học sinh lười học, chán học môn Văn đang
là thực trạng được “rung chuông” nhiều năm nay. Thậm chí, có những tác phẩm
dù rất có giá trị văn chương nhưng lại trở thành gánh nặng với người học.
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân gây nên, song cơ bản không phải do
bản thân môn Ngữ văn mà do quan niệm, phương pháp dạy học chưa phù hợp,
chưa đáp ứng được yêu cầu môn học đề ra. Giáo viên dạy Ngữ văn chưa phát
huy được thế mạnh của bộ môn, chưa chỉ ra cho các em nhận thức được đây là
bộ môn khoa học, cần phải só sự học tập, nghiên cứu nghiêm túc. Giáo viên
chưa tái hiện được không khí văn chương, chưa tạo được những rung động cần
thiết của học sinh trước những hình tượng văn học trong giờ học. Bởi thế, học
sinh rơi vào tình trạng thụ động, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh
làm cho không khí học tập mệt mỏi, làm cho giờ học trở nên khô khan, nặng nề.
Từ thực tế đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn

1

thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”
Từ năm học 2012 – 2013, bộ GD&ĐT đã đưa vấn đề dạy học theo hướng
"tích hợp, liên môn" vào giảng dạy trong các trường phổ thông. Tuy nhiên, đây
là một hình thức dạy học mới, giáo viên chưa được tiếp xúc nhiều và chưa có
kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy, việc vận dụng kiến thức liên môn trong giảng
dạy các bộ môn nói chung và trong Ngữ văn nói riêng còn gặp nhiều khó khăn
lúng túng.
Với hướng dạy liên môn, bộ môn Ngữ văn có rất nhiều thế mạnh. Bởi văn
học thuộc nhóm khoa học xã hội, nên giữa Lịch sử và Văn học có mối quan hệ
với nhau, kiến thức môn này sẽ hỗ trợ cho môn kia. Lịch sử sẽ cung cấp cho ta
những tư liệu mà nhờ đó học sinh có thể nhận thức một cách rõ ràng, chính xác
những đơn vị kiến thức trong tác phẩm văn chương ( nhân vật, bức tranh đời
sống....)
Trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn, người giáo viên đóng vai trò quan trọng
trong việc làm sống lại tác phẩm. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những kiến thức
trong sách giáo khoa thì khó có thể thu hút các em đi sâu tìm hiểu, khám phá đời
sống của tác phẩm. Để tạo nên những cảm xúc thực sự trước một tác phẩm văn
học thì việc vận dụng kiến thức lịch sử vào giảng dạy văn bản văn học là điều

3


cần thiết, nó góp phần làm cho bài giảng trở nên sinh động và hấp dẫn, nâng cao
hứng thú học tập của học sinh.
" Vợ nhặt" là tác phẩm nổi tiếng của Kim Lân. Đây là tác phẩm được đánh
giá cao về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, cùng trong tình trạng
chung của môn Ngữ văn, học sinh không mấy hứng thú khi tìm hiểu tác phẩm
này. Hoặc có tìm hiểu, có học nhưng hiểu chưa đủ hoặc không đúng về tác phẩm
Làm thế nào nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn, kích thích sự hứng thú
học văn cho học sinh. Để hoàn thành nhiệm vụ này đòi hỏi giáo viên dạy văn

khác nhau ngoài cách truyền đạt có tính chất hệ thống trong nhà trường. Đồng
thời, học sinh cũng có thể vận dụng những kiến thức của nhiều lĩnh vực đời sống
trong việc tìm hiểu lí giải những vấn đề văn học. Điều đó, cũng dễ dẫn đến sự
nhàm chán khi ngồi nghe thầy cô giáo giảng văn với cách dạy truyền thống.
Với tác phẩm "Vợ nhặt", học sinh thường chỉ thích đọc mà không thích
học. Các em thích đọc vì lời văn gần gũi đời thường, đôi lúc pha chút hài hước;
cách mô tả nhân vật khá độc đáo, ấn tượng ( Nhân vật Thị ); sự kiện có khả năng
thu hút trí tò mò của học sinh ( nạn đói năm Ất Dậu của nước ta ). Nhưng để
học và lĩnh hội được chiều sâu của văn bản, để hiểu được tư tưởng cùng cảm
hứng nghệ thuật của tác phẩm này thì không phải là điều đơn giản. Bối cảnh xã
hội Việt nam phản ánh trong tác phẩm là thời điểm những năm 1944-1945 của
thế kỉ XX cho đến bây giờ đã có một khoảng cách khá xa đối với các em. Hơn
nữa, để hiểu tác phẩm, học sinh cũng phải có những hiểu biết nhất định về lịch
sử nước nhà vào thời điểm đó. Thực tế lại cho thấy, kiến thức lịch sử của học
sinh hiện nay đang ở mức báo động. Đây chính là điểm mấu chốt dẫn đến tình
trạng các em không hứng thú khi học tác phẩm này.
Đứng trước thực trạng trên, yêu cầu đối với giáo viên khi dạy tác phẩm
"Vợ nhặt" cần vận dụng kiến thức môn lịch sử vào quá trình học tập của học
sinh nhằm giúp các em hiểu thấu đáo tác phẩm.
III. Giải pháp và cách tổ chức thực hiện:
1. Các giải pháp :
Để giúp giờ dạy phong phú hấp dẫn, để học sinh hiểu được những đơn vị
kiến thức trong tác phẩm "Vợ nhặt", chúng ta cần vận dụng kiến thức của Lịch
sử vào giờ học.
- Vận dụng tư liệu lịch sử ở lời dẫn vào bài dạy..
5


- Vận dụng tư liệu lịch sử ở phần Tiểu dẫn.
- Vận dụng tư liệu lịch sử ở phần Đọc hiểu văn bản.


nhân dân ta tới chỗ cùng cực. Hậu quả là từ cuối năm 1944-đầu năm 1945 có
gần 2 triệu đồng bào ta bị chết đói.
Đó là những trang sử đen tối, bi thảm nhất trong lịch sử để lại nỗi đau
khổ, cùng cực cho nhân dân Việt Nam một thời. Sự thật bi thảm ấy đã trở thành
nguồn cảm hứng đầy đau đớn cho các nhà văn, nhà thơ, trong đó không thể
không kể đến các tác phẩm xuất sắc: Vợ nhặt của Kim Lân.
Với cách giới thiệu như vậy, giáo viên có thể giúp học sinh nhớ lại bài
học lịch sử đã học ở chương trình lớp 12 (ban cơ bản), đồng thời, khơi dậy lòng
thương cảm, xót xa chân thực và lòng căm thù sâu sắc đối với bọn phát xít, thực
dân. Từ đó, học sinh có tâm thế, khát khao tìm hiểu nội dung của tác phẩm để
hiểu sâu sắc những vấn đề mà nhà văn Kim Lân khắc họa, miêu tả.
2.3 Vận dụng tư liệu lịch sử ở phần Đọc - hiểu văn bản.
Đây là phần trọng tâm của bài học. Nội dung chủ yếu là tìm hiểu ý nghĩa
từ vợ nhặt mà nhan đề đặt ra, từ đó, tìm hiểu tình huống đặc biệt mà Kim Lân
khắc họa trong tác phẩm. Do vậy, giáo viên có thể sử dụng tư liệu lịch sử kết
hợp với tranh ảnh, phim tài liệu khi giảng dạy mục này.
- Khi giảng phần ý nghĩa nhan đề: người giáo viên có thể yêu cầu học sinh phân
tích riêng từng từ: vợ và nhặt. Với từ vợ, ta thấy đó là từ để gọi người vợ trong
gia đình một cách yêu thương, trìu mến, trân trọng. Bởi vợ có một ý nghĩa đặc
biệt thiêng liêng, là người chăm lo, thu vén, giữ lửa hạnh phúc trong mỗi gia
đình. Nhưng từ nhặt lại cho thấy số phận, thân phận người vợ trở nên thảm hại,
rẻ rúng đến cùng cực. Người vợ ấy có thể nhặt được như cái rơm cái rác, như
một vật vô giá trị, mất hết vẻ thiêng liêng, cao quý, trân trọng vốn có của nó. Đó
là sự thật khốn cùng, là sự bi thảm mà con người Việt Nam đã phải trải qua
trong lịch sử.
- Khi giảng phần tình huống truyện: giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu
biểu hiện của tình huống sau đó rút ra ý nghĩa của tình huống. Đặc biệt nhấn
mạnh vào hoàn cảnh sống của nhân vật Tràng, bởi hoàn cảnh sống của nhân vật
chính là hoàn cảnh sống của cả dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đau

chính là sức sống bất diệt của Vợ nhặt. Đặc biệt tình người, lòng nhân ái, sự cưu
mang đùm bọc của những con người nghèo đói là sức mạnh để họ vượt lên cái
chết.
2.4 Vận dụng tư liệu lịch sử ở phần Củng cố và hướng dẫn học bài.
Thay vì cách kiểm tra thông thường là tóm lược nội dung chính của bài
học, giáo viên có thể lòng ghép kiểm tra kiến thức bài học Vợ nhặt với kiến
thức lịch sử. Vốn dĩ kiến thức lịch sử Việt Nam từ năm 1930- 1945 và cụ thể là
nạn đói năm 1945 các em đã được học kĩ trong các tiết học lịch sử lớp 12 ở học
kì I. Vận dụng kiến thức cũ (đã biết- kiến thức lịch sử) giúp học sinh hiểu và
nắm vững hơn kiến thức mới (đang tiếp nhận - kiến thức văn học về tác phẩm
"Vợ nhặt") là hướng dạy học đúng đắn. Giáo viên sẽ đưa ra một số câu hỏi trắc
nghiệm và yêu cầu các em lựa chọn đáp án đúng nhất ngay cuối tiết học. Ngoài
ra, trong quá trình kiểm tra đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh sau tiết học,
giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi tự luận yêu cầu các em làm như một bài
tập giao về nhà như: Em có suy nghĩ gì về tình cảnh của người nông dân VN
trong nạn đói lịch sử năm 1945 thông qua các nhân vật trong tác phẩm?
Trên đây là một số trường hợp mà tôi đã vận dụng tư liệu lịch sử vào
giảng dạy tác phẩm Vợ nhặt. Nội dung cụ thể sẽ được thể hiện trong phần giáo
án vận dụng mà tôi đã trực tiếp giảng dạy ở trường THPT Thường Xuân 2 và
được đồng nghiệp đánh giá là có hiệu quả.

9


GIÁO ÁN VẬN DỤNG
Tiết PPCT: 60

VỢ NHẶT
(KIM LÂN)


- Đọc bài, soạn bài trước ở nhà.
III. TIẾN TRÌNH DẠY-HỌC:
1. Ổn định tổ chức (1 phút).
2. Kiểm tra bài cũ (5 phút):
? Phân tích số phận nhân vật Mị sau khi về làm dâu nhà Thống lí Pá Tra? Sức
sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ?
? Nhân vật A Phủ được miêu tả như thế nào trong tác phẩm?
3. Bài mới:
Lời vào bài: Trong lịch sử lâu dài đầy gian khổ, đau thương nhưng cũng vô
cùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ con người lại bị rơi vào tình
cảnh thê thảm, khốn cùng đến thế. Đó là nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bằng
tài năng của mình, nhà văn Kim Lân đã miêu tả nạn đói có một không hai trong
lịch sử đó với nhiều chi tiết cụ thể, chân thật, giàu ý nghĩa nghệ thuật. Cái sự
thực bi thảm đó đã hắt bóng đen lên từng trang viết, ám ảnh người đọc từ đầu
đến cuối tác phẩm. Tiết học hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu sự thật đau thương
đó qua tác phẩm "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân.
Hoạt động 1: Tìm hiểu phần Tiểu dẫn (5 phút).
- Phương pháp/Kĩ thuật: Phát vấn, gợi mở.
- Hình thức tổ chức hoạt động:
+ Hoạt động cá nhân (GV đặt câu hỏi, HS dựa vào SGK và sự hiểu biết của
mình để trả lời).
+ Tích hợp kiến thức lịch sử vào phần giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và bối cảnh
của tác phẩm.
Hoạt động của thầy và trò

Nội dung cần đạt
I. TIỂU DẪN.
1. Tác giả:

- GV yêu cầu 1 HS đọc phần - Kim Lân (1920- 2007), tên khai sinh Nguyễn

truyện Con chó xấu xí (1962).
- GV giới thiệu hoàn cảnh 3. Bối cảnh xã hội của truyện.
lịch sử Việt Nam về kinh tế- - Đầu năm 1940, Phát xít Nhật nhảy vào Đông
chính trị-xã hội cho HS hiểu Dương cùng thực dân Pháp áp bức, bóc lột
thêm về nạn đói năm 1945.

nhân dân ta. Nhân dân ta lâm vào tình cảnh một
cổ hai tròng. Ở Miền Bắc, Nhật bắt nhân dân ta
nhổ lúa trồng đay, còn thực dân Pháp tăng thuế,
ra sức vơ vét thóc gạo. Mùa xuân Ất Dậu năm
1945, nạn đói khủng khiếp chưa từng có trong
lịch sử đã diễn ra. Chỉ trong vòng vài tháng, từ
Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào
ta chết đói thê thảm.
- Nhà văn Kim Lân dựa vào bối cảnh lịch sử đó

để viết nên tác phẩm.
Hoạt động 2: Đọc, tóm tắt tác phẩm và tìm hiểu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
(14 phút).
- Phương pháp/Kĩ thuật: Phát vấn, gợi mở.
- Hình thức tổ chức hoạt động:

12


+ Hoạt động nhóm kết hợp cá nhân (GV đặt câu hỏi, HS dựa vào SGK trao đổi,
thảo luận và trả lời).
+ Tích hợp kiến thức lịch sử vào phần phân tích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm.
Hoạt động của thầy và trò


tình cảnh thê thảm và tủi nhục => Nhan đề Vợ nhặt vừa thể hiện thảm cảnh
của người nông dân Việt Nam của người dân trong nạn đói 1945 vừa bộc lộ
trong nạn đói khủng khiếp sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng, sức
năm 1945.

mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin

(HS thảo luận theo nhóm bàn của con người trong cảnh khốn cùng.
sau đó trình bày. GV nhận xét
và chốt kiến thức)
Hoạt động 3: Tìm hiểu tình huống truyện (10 phút).
13


- Phương pháp/Kĩ thuật: Phát vấn, gợi mở.
- Hình thức tổ chức hoạt động:
+ Hoạt động nhóm kết hợp cá nhân (GV đặt câu hỏi, HS dựa vào SGK trao đổi,
thảo luận và trả lời).
+ Tích hợp kiến thức lịch sử vào phần phân tích tình huống của tác phẩm.
Hoạt động của thầy và trò

Nội dung cần đạt
3. Tìm hiểu tình huống truyện.

- GV nêu vấn đề: Nhà văn đã xây - Tràng - nhân vật có ngoại hình xấu, ăn
dựng tình huống truyện như thế nói cộc cằn, thô kệch, có nguy cơ "ế vợ".
nào? Tình huống đó có những ý - Hoàn cảnh xã hội: Tràng đang phải đối
nghĩa gì?

mặt với nạn đói khủng khiếp, cái chết luôn

chưa hết bàng hoàng.
=> Tình huống truyện bất ngờ nhưng hợp
lí. Qua đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện
thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật
của tác phẩm:
? Giá trị hiện thực và nhân đạo - Giá trị hiện thực: Tố cáo tội ác thực dân,
của tác phẩm qua tình huống phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm
truyện?
(trong bối cảnh bi thảm, giá trị

cảnh chết đói.
Nhặt vợ là cái khốn cùng của cuộc sống.

nhân bản không mất đi, con người Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức người
vẫn cứ muốn được là con người, đàn bà chủ động gợi ý đòi ăn. Chỉ cần vài
muốn được nên người và muốn lời nửa đùa nửa thật thị đã chấp nhận theo
cuộc đời thừa nhận họ như những không Tràng. Giá trị con người bị phủ
con người. Tràng lấy vợ là để tiếp nhận khi chỉ vì cùng đường đói khát mà
tục sự sống, sinh con đẻ cái, phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả
hướng đến tương lai. Người đàn e thẹn. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách
bà đi theo Tràng cũng để chạy con người.
trốn cái đói, cái chết để hướng - Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang
đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự
nhưng lại luôn nói đến chuyện sống và hạnh phúc.
tương lai, chuyện sung sướng về - Giá trị nghệ thuật: Tình huống truyện
sau, nhen lên niềm hi vọng cho khiến diễn biến phát triển dễ dàng và làm
dâu con. Đó chính là sức sống bất nổi bật được những cảnh đời, những thân
diệt của Vợ nhặt. Đặc biệt tình phận đồng thời nổi bật chủ đề tư tưởng tác
người, lòng nhân ái, sự cưu mang phẩm.
đùm bọc của những con người

4.2.Hướng dẫn học tập:
-Dặn dò HS học bài cũ: Em có suy nghĩ gì về tình cảnh của người nông dân VN
trong nạn đói lịch sử năm 1945 thông qua các nhân vật trong tác phẩm?
- Chuẩn bị bài mới: Soạn tiết 62- Nghị luạn về một tác phẩm, một đoạn trích
văn xuô
16


3. Kiểm nghiệm:
Sau khi tiến hành dạy học giáo án vận dụng kiến thức liên môn ( lịch sử
vào giải quyết vấn đề văn học) ở lớp 12A1, so sánh với các lớp 12A2 và các lớp
cùng khối không sử dụng lồng ghép kiến thức lịch sử thì thấy có kết quả.
Thứ nhất, học sinh hứng thú với môn học hơn mọi khi. Các kiến thức lồng
ghép vừa hỗ trợ kiến thức vừa tăng trí tưởng tượng, giúp các em dễ dàng khắc
họa kiến thức hơn.
Thứ hai, học sinh có được hiểu biết toàn diện hơn về bài học. Kiến thức
của các môn học sẽ có tác dụng hỗ trợ cho học sinh, kết hợp với những hiểu biết
của học sinh sẽ giúp cho bài học được phát huy tối đa hiệu quả dạy học.
Thứ ba, dạy học theo hướng liên môn giúp rèn luyện tư duy hệ thống cho
học sinh. Rèn luyện cho các em kĩ năng vận dụng tổng hợp những hiểu biết của
mình để lí giải các tình huống cụ thể trong cuộc sống. Những hiểu biết về Lịch
sử sẽ hỗ trợ khả năng cảm thụ văn học, giúp cho bài thơ được tiếp cận toàn diện
hơn.
Dưới đây là mẫu kết quả so sánh giữa việc vận dụng kiến thức liên môn và
cách dạy học thông thường.
Lớp thể
nghiệm/
đối chứng
Lớp 12A1
Lớp 12A2

50
10
Ghi chú: Lớp 12A1- lớp cơ bản là lớp thể nghiệm. Lớp 12A2 và các lớp khác
ban cơ bản là lớp đối chứng

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận :
17


Dạy học Văn học cũng như các môn học khác, không có một phương
pháp dạy học nào là tối ưu. Người giáo viên phải tuỳ từng kiểu bài, tuỳ vào
từng đối tượng học sinh, tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh….mà tìm tòi và lựa chọn
phương pháp dạy học phù hợp. Sử dụng tư liệu lịch sử vào giảng dạy một tác
phẩm văn học là một trong những phương pháp có hiệu quả cần được coi trọng
đúng mức. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc “cảm”, “hiểu” văn học mà còn
phải biết rút ra những bài học bổ ích cho bản thân từ những câu chuyện vui buồn, khổ đau - hạnh phúc của các nhân vật trong tác phẩm.
Với văn bản "Vợ nhặt”, tôi đã mạnh dạn vận dụng tư liệu lịch sử kết hợp
với một số phương pháp khác vào giảng dạy và được được đồng nghiệp đánh giá
là có hiệu quả. Nhìn chung, đa số học sinh đều hăng hái, tích cực trong quá trình
lĩnh hội kiến thức. Giờ học thực sự không nặng nề, không nhàm chán, tẻ nhạt
mà việc sử dụng các tư liệu lịch sử đã không chỉ góp phần tạo nên những hình
ảnh cụ thể, chân thực, sinh động về những gì đã diễn ra trong quá khứ mà còn
kích thích niềm say mê, hứng thú ở các em trong việc tiếp thu kiến thức. Sau giờ
học, các em không chỉ hiểu rõ về quá khứ bi thương nhưng đáng tự hào của cha
ông. Quan trọng hơn, các em hiểu được giá trị của tình người, niềm tin bất diệt
của con người vào sự sống, vào hạnh phúc, vào tương lai. Từ đó, các em bồi
dưỡng được cho mình những tình cảm đẹp, đầy nhân văn trong cuộc sống. Đó là
chưa kể đến tác dụng trong giáo dục liên môn ở nhà trường THPT mà bài giảng
đem lại. Học sinh không chỉ hiểu sâu sắc về tác phẩm văn học mà còn có điều

Tôi cam đoan đề tài SKKN này do
chính tôi viết, không có quá trình
copy .

Nguyễn Thị Hương

Mục lục
19


Nội dung
A. Đặt vấn đề
B. Giải quyết vấn đề
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng của vấn đề
III. Giải pháp và cách tổ chức thực hiện
1.Các giải pháp.
2.Cách tiến hành
3. Kiểm nghiệm
C.Kết luận và đề xuất

Trang
1
3
3
4
5
5
6
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status