Bộ quốc phòng
cục quân y
báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp nhà nớc
nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp
quân-dân y trong phòng chống dịch bệnh
nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai,
thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác
M số KC 10.23
chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Phạm Ngọc Giới
5956
25/7/2006
Hà Nội- 03/2006
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
tóm tắt
K
ết hợp quân - dân y (KHQDY) thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức
khoẻ cho nhân dân và bộ đội là truyền thống và là nét đặc thù của Ngành
Y tế Việt Nam. Trong thời bình, KHQDY đi vào chiều sâu xây dựng tiềm lực y tế quân sự (YT-QS), xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) của đất nớc, sẵn sàng ứng phó
kịp thời cho các tình huống quân sự cũng nh phòng chống dịch bệnh nguy hiểm,
khu vực; là nơi có nguy cơ bị khủng bố cao. Bài học kinh nghiệm về PCDB qua các vụ
dịch SARS tại Việt Nam và các nớc Đông Nam á trong những năm vừa qua và đặc
biệt là đợt sóng thần cuối tháng 12/2004 tại khu vực bờ biển Thái Bình Dơng thuộc
Đông Nam á và dịch cúm týp A-H5N1 tại Việt Nam và một số nớc lân cận hiện nay
cho thấy, việc xây dựng hệ thống cảnh báo, phát hiện sớm thiên tai, thảm hoạ, dịch
bệnh cũng nh việc xây dựng về tổ chức, lực lợng và trang bị cho toàn bộ hệ thống
ứng phó thiên tai, thảm hoạ, dịch bệnh của mỗi quốc gia là hết sức quan trọng và cấp
thiết. Ngân sách đầu t ban đầu tuy không nhỏ, nhng nếu so với những thiệt hại về
kinh tế - xã hội, về ngời và tài sản mà các quốc gia đã phải gánh chịu thì không thể so
sánh đợc.
Khái niệm về tình huống khẩn cấp trong đề tài là để chỉ tình huống khi xảy
ra: dịch bệnh nguy hiểm, KBSH và hậu quả thiên tai, thảm hoạ có yếu tố sinh học
(có nguy cơ bùng phát dịch bệnh tối nguy hiểm sau thiên tai hoặc thảm họa sinh học).
Các khái niệm "khủng bố sinh học" và "thảm hoạ sinh học" dùng trong đề tài
này đợc hiểu là:
3
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
- Khủng bố sinh học: Là việc con ngời sử dụng tác nhân sinh học (TNSH) để đe
doạ cộng đồng, gây ra ổ bệnh truyền nhiễm nhng ở phạm vi hẹp
- Thảm hoạ sinh học: Là thảm hoạ dịch bệnh nguy hiểm xảy ra do sự bất cẩn của
con ngời khi sử dụng TNSH trong quá trình nghiên cứu hoặc do con ngời chủ ý sử
dụng các TNSH để uy hiếp, gây tổn thất lớn cho đối phơng (chiến tranh sinh học).
Khái niệm "khắc phục hậu quả sau thiên tai, thảm hoạ" trong hoạt động
KHQDY sử dụng trong đề tài này chỉ giới hạn trong lĩnh vực YTDP, nghĩa là: khắc
phục hậu quả sau thiên tai, thảm hoạ có yếu tố sinh học bao gồm việc tổ chức, điều
động, sử dụng các lực lợng, trang bị, vật t y tế của quân y, dân y đến khu vực xảy ra
"Xây dựng mô hình KHQDY trong chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân
và bộ đội ở một số xã vùng sâu, vùng xa thuộc biên giới bộ Việt Nam" Mã số KHCN-11-01-02A.
"Xây dựng mô hình KHQDY nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân
và lực lợng vũ trang trên các đảo, quần đảo thuộc lãnh hải Việt Nam"
- Mã số KHCN-11-01-02B.
-
Năm 1998, Cục Quân y chủ trì đề tài cấp Bộ Quốc phòng "Nghiên cứu
xây dựng mô hình KHQDY chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và bộ đội
ở khu vực trọng điểm quốc phòng - an ninh (QP-AN) khu vực miền núi
Tây Bắc".
-
Năm 2001, Cục Quân y chủ trì đề tài cấp Nhà nớc mã số KC.10-08
Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Bệnh xá QDY
tại khu vực trọng điểm thuộc Chơng trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà
nớc giai đoạn 2001-2005 Khoa học và công nghệ phục vụ chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng - Mã số KC.10.
Những vấn đề đã nghiên cứu và giải quyết trong các đề tài trên tập trung vào việc
xây dựng các giải pháp và mô hình KHQDY trong lĩnh vực xây dựng tiềm lực YT-QS
trong KVPT về tổ chức thu dung cấp cứu, điều trị, nhằm xây dựng một hệ thống điều trị
KHQDY liên hoàn từ tuyến xã tới tuyến huyện, tỉnh ở các khu vực trọng điểm QP-AN
quân y, dân y ở 7 tỉnh, thành phố đại diện cho 6 vùng địa lý của Việt Nam và kết quả
hoạt động KHQDY trong PCDB nguy hiểm, khắc phục hậu quả sau thảm họa trong 12
năm (1992-2003).
2. Đề xuất đợc giải pháp KHQDY trong PCDB nguy hiểm, khủng bố sinh học
và khắc phục hậu quả sau thảm họa sinh học.
Để hoàn thành đợc 2 mục tiêu trên, đề tài đã tập trung vào các nội dung nghiên
cứu sau:
- Thu thập, điều tra đánh giá thực trạng tổ chức, biên chế của hệ thống YTDP
quân y, dân y tại các địa điểm lựa chọn nghiên cứu đại diện cho các vùng lãnh thổ trong
cả nớc và kết quả KHQDY trong PCDB trong 12 năm (1992-2003) tại 61 tỉnh, thành
phố trong cả nớc.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về hệ thống YTDP QDY và hoạt động KHQDY
trong PCDB tại các khu vực nghiên cứu, đề tài đề xuất các giải pháp KHQDY trong
PCDB nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp
khác bao gồm:
Cơ chế quản lý, điều hành và triển khai lực lợng y tế cơ động theo
phơng thức KHQDY của Ban QDY tỉnh, thành phố trong tình huống
khẩn cấp.
Mô hình Đội YTDPCĐQDY tỉnh, thành phố trong tình huống khẩn cấp.
Các giải pháp và mô hình đề xuất của đề tài đợc diễn tập thực nghiệm tại Thành
phố Hồ Chí Minh, một địa bàn trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của cả
6
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
chơng một
tổng quan
1.1. Nguy cơ và chiến lợc chung của y tế toàn cầu Phòng
chống dịch bệnh nguy hiểm, tối nguy hiểm và vũ khí sinh
học.
Thông báo về tình trạng sức khoẻ thế giới năm 2002 với chủ đề: "Giảm rủi ro,
nâng cao cuộc sống khoẻ mạnh". Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã gửi
thông điệp: "Hiện nay đang là thời kỳ nguy hiểm cho một cuộc sống khoẻ mạnh của thế
giới. ở nhiều nơi, một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của sức khoẻ đang hoành
hành cùng với liên minh là sự đói nghèo, tạo ra một gánh nặng gấp đôi của bệnh tật, sự
bất lực và tình trạng chết trẻ của nhiều triệu ngời. Bây giờ là lúc chúng ta sát cánh
cùng nhau để chống lại mối đe doạ này".
Về dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và tối nguy hiểm, WHO và nhiều tạp chí
của Mỹ đã nhận định: Bất chấp những nỗ lực nhất của chúng ta nhằm ngăn chặn sự tấn
công của những mầm bệnh nguy hiểm mới và những mầm bệnh tối nguy hiểm; những
mầm bệnh truyền nhiễm có lẽ không bao giờ chịu lắng đi hoàn toàn. Những mầm bệnh
vi khuẩn trở nên không ổn định, thậm chí thay đổi, đi đến thích nghi, sẵn sàng tấn công
khi hệ thống bảo vệ của chúng ta suy yếu. Chính vì vậy, chúng ta phải sẵn sàng đối phó
với bất cứ mối đe doạ nào. Thách thức này đòi hỏi mỗi quốc gia cần kiểm soát chặt chẽ
dịch bệnh, không ngừng nâng cao hiểu biết của chúng ta qua nghiên cứu; chuẩn bị tốt
nhất bằng cách củng cố vững chắc hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và trang bị
sẵn cho cộng đồng, cho mỗi quốc gia để có khả năng quyết định những hành động
phòng chống những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và tối nguy hiểm.
Chỉ mới vài thập kỷ trớc đây, cộng đồng đã tin rằng khoa học đã chiến thắng
các bệnh truyền nhiễm bằng cách tạo ra kháng sinh và những chiến lợc bảo vệ sức
khoẻ cộng đồng hùng hậu. Bằng chứng là những thành tựu to lớn chiến thắng các bệnh
áp dụng những thành tựu nghiên cứu;
-
Xây dựng cơ sở và huấn luyện;
-
Dự phòng và kiểm soát.
Sự phát triển của vũ khí sinh học (VKSH) song song với lịch sử xung đột trong
quá trình phát triển của xã hội loài ngời từ nhiều thế kỷ trớc. Hiện nay, mặc dù có
những hạn chế bởi các công ớc quốc tế nhng việc nghiên cứu tác nhân BC vẫn đang
đợc đẩy mạnh ở nhiều nớc và rất có thể tác nhân sinh học, hoá học (Biological Chemical - BC) sẽ trở thành chất độc quân sự thế hệ thứ 3 tiêu biểu vào những năm đầu
của thế kỷ 21. Nhiều ngời dự đoán rằng chất độc BC sẽ đợc đa vào trang bị của
quân đội và các nớc tiên tiến trong những năm tới. VKSH dùng đợc cả ở tiền tuyến
và hậu phơng với chức năng nh một vũ khí chiến thuật hoặc chiến lợc; sử dụng đợc
ở mọi thời điểm: trớc - trong - và sau chiến đấu; VKSH trong chiến tranh và cả trong
hoà bình có thể sử dụng dới dạng khủng bố, dễ sử dụng trong nhiều điều kiện địa lý,
khí hậu, có thể dùng công khai hoặc bí mật; có thể đạt nhiều mục đích nh sát thơng
sinh lực đối phơng, huỷ diệt gia súc mùa màng, gây những hậu quả trớc mắt và lâu
dài thông qua "hiệu ứng dây chuyền" nh đói kém - dịch bệnh - tạo ổ bệnh thiên nhiên
mới.
9
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
VKSH đã đợc sử dụng ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng từ sau Chiến tranh
phù hợp với các yêu cầu của các TNSH sử dụng chế tạo VKSH. Ngời ta cũng có thể
10
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
tạo ra các TNSH có những đặc tính kỳ lạ (ví dụ: nh vi khuẩn dịch hạch nhng lại tiết ra
ngoại độc tố của bạch hầu, virus cúm nhng lại tiết ra độc tố của rắn hổ mang Cobra,
các mầm bệnh có khả năng kháng lại các loại thuốc kháng sinh hiện có... ) khiến đối
phơng khó có thể xác định tác nhân gây bệnh để đối phó.
Sự phát triển VKSH ngày càng tăng vì lý do:
-
Các thành tựu công nghệ sinh học (kỹ thuật gen, kỹ thuật tái tổng hợp
AND...) ngày càng phát triển - là cơ sở tạo ra các loại VKSH mới.
-
VKSH là giải pháp thay thế các vũ khí sát thơng hàng loạt rẻ tiền hơn,
có tính khả thi hơn về kỹ thuật.
-
VKSH không tấn công không bị cấm bởi công ớc quốc tế về VKHH,
VKSH.
-
Chế độ kiểm soát, thẩm định VKSH theo công ớc về VKSH ngày càng
Các cơ sở đang sử dụng tiêu chuẩn công nghiệp Biolevel 1- 4 không liên
quan đến chơng trình sản xuất VKSH tấn công nhng không loại trừ khả
năng có ý định sản xuất VKSH của họ.
Các tiến bộ trong kỹ thuật lên men và công nghệ sinh học cho phép xây
dựng các kho VKSH chỉ trong vòng vài ngày, vài tuần. Vì vậy, các kho
vật liệu, kho VKSH rất khó bị thanh tra quốc tế phát hiện.
11
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
Các trang bị lỡng dụng: máy tạo aerosol nông nghiệp gắn trên máy bay,
máy bay không ngời láicó thể dùng làm phơng tiện mang VKSH.
Các phơng tiện chuyên dụng của vũ khí thông thờng: đạn pháo, bom
chùm, máy bay quân sự, tên lửa hành trình, hệ thống định vị tên lửa toàn
cầu là những phơng tiện mang VKSH có sức hấp dẫn.
Anh, Mỹ tuyên bố công khai: Hiện có khoảng 10 - 11 nớc đang có chơng
trình VKSH tấn công. Nhng nhiều nguồn tin cho rằng số lợng thực tế còn nhiều hơn.
Bớc 1: Xây dựng chiến lợc phối hợp;
Bớc 2: Xác định thông tin;
Bớc 3: Chuẩn bị thông báo;
Bớc 4: Lựa chọn phơng thức phối hợp;
Bớc 5: Chuyển thông báo;
Bớc 6: Theo dõi và đánh giá.
12
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
2.
họa:
2.
3.
Tổ chức Uỷ ban cứu hộ Quốc gia.
Tổ chức Ban điều hành khắc phục về y tế.
Tổ chức Uỷ ban trợ giúp về y tế.
Quản lý nạn nhân: Việc quản lý nạn nhân đợc chia làm 3 giai đoạn:
Tìm và cấp cứu;
Vận chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế và điều trị;
Phân bố bệnh nhân ở các bệnh viện khi cần thiết.
quan trọng, nhng không thể dự báo tất cả các trờng hợp thảm họa.
Chiến lợc xác định việc chuẩn bị phòng chống thảm họa là một hoạt
động liên ngành, thờng xuyên và việc tham gia của y tế là cần thiết
với những nội dung:
Chuẩn bị kế hoạch hành động chung.
Chuẩn bị kế hoạch của từng bệnh viện.
Xây dựng cơ sở vật t y tế để sử dụng trong thảm họa.
Để thực hiện chiến lợc và kế hoạch trên, tại các quốc gia phát triển, có tiềm
lực về kinh tế, đã thành lập cả một hệ thống guồng máy đủ nhân lực và trang thiết bị,
phơng tiện sẵn sàng đáp ứng, phản ứng nhanh khi có tình huống khủng bố hoặc đe doạ
khủng bố, thảm hoạ sinh học; trong đó, có việc thành lập các đơn vị đặc nhiệm chống
KBSH và xây dựng thành một quy trình cụ thể để xử lý khi có tình huống. Sơ đồ quy
trình xử lý tình huống KBSH tại thành phố Vancouver (Canada):
14
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
- Liên kết với các cấp khác của chính phủ
(tỉnh, liên bang, nớc ngoài)
Ngời quản lý
Giám đốc cảnh sát
Giám đốc cứu hoả
Nhân viên y tế
Quản lý kỹ thuật chung
Trung tâm phối hợp
cấp cứu vùng
Nhóm hành động
Y tế cộng đồng
Y tế môi trờng
Nhóm hậu cần
Nhóm kế hoạch
Nhóm tài chính
Hình 1- Sơ đồ quy trình xử lý tình huống KBSH tại Vancouver City
Nh vậy, có thể nhận thấy là: Vấn đề PCDB nguy hiểm, VKSH và khắc phục hậu
quả thiên tai, thảm họa đã và đang là vấn đề thời sự đợc toàn thế giới quan tâm, tìm ra
các giải pháp hiệu quả để bảo vệ cộng đồng và vấn đề cơ bản là phối hợp hành động,
hợp tác khoa học kỹ thuật để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong lĩnh vực YTDP.
15
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu về TNSH và phòng chống VKSH ở Việt Nam
hiện mới đang ở vạch xuất phát nếu không muốn nói là hầu nh cha có gì.
16
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
Cùng với những nguy cơ bùng phát dịch bệnh tối nguy hiểm và KBSH trên thế
giới; thời gian qua, tại Việt Nam cũng rải rác đã xảy ra một vài vụ đe doạ KBSH; trong
đó có một số vụ điển hình nh:
02 vụ thả chất "bột mầu trắng" trong buồng vệ sinh trên máy bay của
Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam airlines) vào tháng
11/2001,
Nhiều vụ gửi bu phẩm có bột mầu trắng trong năm 2001 tại một số
cơ quan hành chính của Việt Nam và các cơ quan ngoại giao của các
nớc tại Đà Nẵng, Hà Nội, Đắc Lắc, Long An
Tuy các vụ việc trên mới chỉ là đe doạ khủng bố, cha xác định rõ là KBSH
nhng khi tiến hành cách ly, xử lý bệnh phẩm, vệ sinh môi trờng đã nảy sinh nhiều
vấn đề bất cập từ khâu tổ chức lực lợng làm nhiệm vụ đến quy trình lấy bệnh phẩm,
bảo đảm trang bị chuyên dùng cho cán bộ y tế khi tiếp xúc với bệnh phẩm, đến phơng
tiện khử trùng, tẩy uế
Do thực tế điều kiện kinh tế - xã hội cha cho phép, chúng ta cha xây dựng
đợc một quy trình xử lý mang tính chuyên nghiệp cũng nh cha có hệ thống ứng phó
từ các cơ quan đến các phân đội đặc nhiệm phản ứng nhanh đối với các tình huống dịch
bệnh tối nguy hiểm, KBSH nh các nớc phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất
một phân đội YTDP theo mô hình thích hợp, với trang bị đầy đủ để có thể đáp ứng các
nhiệm vụ trong tình huống khẩn cấp đang là một vấn đề hết sức bức xúc, mang tính
chiến lợc hiện nay.
KHQDY trong nhiệm vụ PCDB, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân và bộ
tế, các hoạt động KHQDY trong lĩnh vực PCDB, nhất là dịch bệnh nguy hiểm cha có
sự thống nhất chỉ đạo trong cả nớc. Đặc biệt, trong chiến dịch phòng chống bệnh viêm
đờng hô hấp cấp (SARS) xảy ra trong tháng 3, 4 năm 2003 vừa qua (mắc 68 ca, chết 5
ca), tuy Ngành Y tế Việt Nam đã dập tắt kịp thời không để lây lan rộng, nhng trong
công tác cấp cứu, điều trị, đặc biệt là xử lý vệ sinh khu vực, cách ly điều trị cho bệnh
nhân cũng phát sinh nhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu, bổ sung để chủ động phòng
chống và khắc phục vệ sinh môi trờng sau vụ dịch.
Trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, thảm họa: Do điều kiện địa lý tự nhiên
của Việt Nam rất phức tạp; mỗi năm có hàng chục vụ bão, lũ lụt, động đất, sạt lở núi...
xảy ra. Điển hình nh cơn bão số 5 (Linda) tháng 1/1997 xảy ra ở Tây Nam Bộ; các cơn
bão số 4, 5, 6 xảy ra tháng 11, 12/1998 ở khu vực miền Trung; 2 đợt lũ lụt trong tháng
11, 12/1999 xảy ra liên tiếp ở các tỉnh miền Trung; các vụ sạt núi, lũ ống, lũ quét ở Sơn
La, Lai Châu; vụ cháy xe khách ở Hà Tây (1993); vụ cháy kho xăng ở Uông Bí (1996);
vụ cháy xe khách ở chợ Đại Bái, Bắc Ninh (2003) và cháy Trung tâm Thơng mại Quốc
tế (ITC) tại Thành phố Hồ Chí Minh (2002) đã gây ra những tổn thất rất lớn về ngời
và tài sản của Nhà nớc, nhân dân. Các hoạt động KHQDY trong khắc phục hậu quả
các vụ thiên tai, thảm họa đã xảy ra hầu hết đều mang tính chất bị động, cha có sự
phối hợp quản lý, điều hành đồng bộ của các cấp nên đáp ứng nhiệm vụ cha kịp thời
và hiệu quả còn hạn chế.
18
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
Từ năm 1996, Cục Quân y đã chủ trì nghiên cứu: "Xây dựng mô hình KHQDY
trong chiến lợc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và bộ đội ở một số xã vùng sâu,
vùng xa thuộc biên giới bộ Việt Nam" và " Xây dựng mô hình KHQDY nhằm chăm sóc,
bảo vệ sức khoẻ nhân dân và lực lợng vũ trang trên các đảo, quần đảo thuộc lãnh hải
Việt Nam". Đây là 2 đề tài nhánh, mã số KHCN.11-01-02A và B thuộc Chơng trình
- Toàn bộ cán bộ, nhân viên quân y, dân y công tác tại các Trung tâm YTDP
tỉnh, thành phố và các Đội VSPD của QK, QĐ thuộc các địa điểm nghiên cứu.
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu.
Đề tài đợc triển khai với thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu can thiệp (dới hình
thức diễn tập) kết hợp với điều tra mô tả cắt ngang có phân tích, trên cơ sở các số liệu
định tính và định lợng.
Trên cơ sở phân tích các số liệu thực trạng tình hình các cơ sở YTDP QDY với
các kỹ thuật thu thập thông tin bằng các phơng pháp định tính và định lợng, nhóm
chuyên gia sẽ đề xuất giải pháp KHQDY là:
Giải pháp tổ chức, điều hành các lực lợng y tế QDY của Ban QDY tỉnh,
thành phố trong tình huống khẩn cấp.
Xây dựng mô hình Đội YTDPCĐQDY (Đội YTDPCĐQDY) để đáp ứng y
tế trong PCDB tối nguy hiểm hoặc KBSH.
Khi hoàn thành giải pháp KHQDY trong PCDB nguy hiểm, đáp ứng y tế khắc
phục hậu quả sau thảm hoạ sinh học, sẽ tiến hành diễn tập thực nghiệm tại địa điểm
đợc lựa chọn là Thành phố Hồ Chí Minh với 2 nội dung tình huống khác nhau là:
Tổ chức, điều hành Ban QDY tỉnh, thành phố sử dụng lực lợng y tế QDY
tham gia khắc phục hậu quả sau thảm hoạ (khủng bố) sinh học.
Đội YTDPCĐQDY thực hiện nhiệm vụ xung kích lấy bệnh phẩm "tối
nguy hiểm" (TNSH), gửi đi phân lập, xác định mầm bệnh và tiến hành khử
trùng, tẩy uế khu vực bị KBSH.
Đánh giá kết quả diễn tập, hoàn thiện mô hình và đề xuất các chính sách, cơ
chế tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp đó trong thực tiễn.
Sơ đồ nghiên cứu sẽ đợc triển khai nh sau:
Hình 2- Sơ đồ nghiên cứu
2.2.3. Những phơng pháp nghiên cứu chính.
2.2.3.1. Phơng pháp điều tra cắt ngang có phân tích.
- Điều tra, đánh giá thực trạng về tổ chức biên chế và trang bị cơ bản của những
cơ sở YTDP QDY thuộc địa bàn nghiên cứu; đồng thời, phân tích những bất cập hiện
nay và nêu ra sự cần thiết phải củng cố xây dựng mạng lới YTDP QDY.
- Thu thập, phân tích số liệu thứ cấp qua sổ sách, báo cáo thống kê về tổn thất
ngời, vật chất và kết quả cứu chữa, vận chuyển ngời bị thơng, bị bệnh do các dịch
bệnh nguy hiểm và các vụ thảm họa trong vòng 12 năm gần đây (1992-2003).
- Phân tích, đánh giá hiệu quả các hoạt động KHQDY trong PCDB nguy hiểm và
khắc phục hậu quả sau thảm họa trong 12 năm gần đây (1992-2003).
2.2.3.2. Phơng pháp tiếp cận xây dựng mô hình.
- Trên cơ sở kết quả điều tra cắt ngang có phân tích định tính và định lợng,
nhóm nghiên cứu sẽ phác thảo mô hình các giải pháp KHQDY cần xây dựng, thảo luận,
lấy ý kiến thống nhất giữa các chuyên gia theo phơng pháp sử dụng kỹ thuật hình ảnh
để trao đổi (Meta Plan).
- Hội thảo mở rộng: Nhóm chuyên gia sẽ trình bày phác thảo mô hình các giải
pháp cần xây dựng với các thành viên nghiên cứu và những cán bộ QDY hoạt động
23
Báo cáo tổng kết KH&KT đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kết hợp quân - dân y trong phòng chống dịch
bệnh nguy hiểm, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ và các tình huống khẩn cấp khác" - Mã số KC.10-23
trong lĩnh vực YTDP và tổ chức quản lý để lấy ý kiến thống nhất chung, hoàn chỉnh mô
hình các giải pháp bớc đầu trớc khi triển khai diễn tập mô hình thực nghiệm.
* Xác định mô hình tổng quan bao gồm:
- Mô hình cơ chế quản lý, điều hành các lực lợng y tế QDY theo phơng thức
KHQDY thực hiện các nhiệm vụ trong tình huống khẩn cấp.
- Thu thập số liệu qua sổ sách thống kê, báo cáo về:
Tổn thất về ngời và vật chất trong các vụ dịch bệnh nguy hiểm và trong
một số thảm họa lớn (bão lụt, cháy nổ, dịch bệnh, KBSH...) bằng công cụ
là các bảng kiểm và bảng trống (Dummy tables).
Hoạt động của các cơ sở, phân đội YTDP quân và dân y trong PCDB nguy
hiểm, khắc phục hậu quả sau thảm hoạ trong 12 năm gần đây (1992-2003)
bằng công cụ là các bảng kiểm và bảng trống (Dummy tables).
- Phơng pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn các cán bộ y tế và cán bộ quân y của các Trung tâm YTDP tỉnh
và các Đội VSPD QK, QĐ thuộc địa bàn nghiên cứu về hoạt động của các
cơ sở hoặc phân đội YTDP quân và dân y trong PCDB nguy hiểm, khắc
phục hậu quả sau thảm họa trong 12 năm gần đây (1992-2003).
24