1
1
MỞ ĐẦU
Quản lý tiến trình nghiệp vụ (Business process management viết tắt là
BPM) đang thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quản trị doanh nghiệp
và các nhà nghiên cứu khoa học máy tính. Một trong những mối quan tâm
lớn của các nhà quản trị doanh nghiệp là cải tiến các hoạt động của doanh
nghiệp với mục đích tạo ra các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nữa
các yêu cầu của khách hàng trong môi trường thương mại điện tử. Công
nghệ thông tin trở thành phương tiện để trợ giúp, tối thiểu hoá các giai đoạn,
đơn giản quá trình quản lý, rút gọn thời gian và công sức để đạt được hiệu
quả và lợi ích cho các doanh nghiệp.
BPM mang lại những lợi ích đáng kể bằng cách áp dụng những kỹ thuật
của công nghệ thông tin vào thương mại. Với yêu cầu ngày càng tăng về thời
gian và áp lực về giá thành, BPM đang được yêu cầu phải linh hoạt hơn và
phải quản lý các ca sử dụng một cách thông minh để thay thế những luồng
xử lý cứng nhắc. BPM bao gồm các phương pháp, kỹ thuật và công cụ nhằm
hỗ trợ việc thiết kế, xây dựng các quy tắc, quản lý và phân tích các thao tác
nghiệp vụ [9]. Mô hình hóa nghiệp vụ (Business modeling – BM) đóng vai
trò quan trọng trong vòng đời BPM. Mô hình hóa nghiệp vụ bao gồm xây
dựng những mô hình khái niệm cho những khía cạnh khác nhau của nghiệp
vụ như kiến trúc, các tiến trình, các ràng buộc, các tài nguyên Những luật
nghiệp vụ (Business rules - BR) và những tiến trình nghiệp vụ(Business
process – BP) là các yếu tố để vạch ra những yêu cầu của hệ thống phần
mềm nói chung.
2
2
Mặc dù luật nghiệp vụ và tiến trình nghiệp vụ được xem như là những
thành phần quan trọng của BPM nhưng nó chưa biểu diễn được tất cả các
cấu trúc nghiệp vụ [2]. Do đó, việc tìm ra cách kết hợp các ngôn ngữ luật và
ngôn ngữ mô hình nghiệm vụ là cần thiết để có thể biểu diễn được tốt hơn và
Phạm vi nghiên cứu
- Các vấn đề liên quan đến BPM, ngôn ngữ mô hình hóa luật nghiệp vụ,
ngôn ngữ mô hình tiến trình nghiệp vụ.
CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn duợc trình bày theo bố cục sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TIẾN TRÌNH NGHIỆP VỤ
Nội dung chương này tiếp cận mảng nghiên cứu về BPM.Trả lời cho
những câu hỏi về tiến trình nghiệp vụ là gì? BPM là gì? Chu trình BPM?
Các chuẩn BPM?
CHƯƠNG 2: CÁC NGÔN NGỮ MÔ HÌNH HÓA NGHIỆP VỤ Ở
MỨC CAO
4
4
Chương này giới thiệu các ngôn ngữ ở mức cao của ngôn ngữ luật
nghiệp vụ và ngôn ngữ mô hình tiến trình nghiệp vụ. So sánh các ngôn ngữ
luật nghiệp vụ và ngôn ngữ mô hình tiến trình nghiệp vụ.
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HÓA NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG LUẬT
NGHIỆP VỤ VÀ MINH HỌA.
Chương này đề xuất việc kết hợp ngôn ngữ luật nghiệp vụ và ngôn ngữ
mô hình tiến trình nghiệp vụ từ đó hướng vào phân tích và xây dựng minh
họa kết hợp ngôn ngữ luật nghiệp vụ và ngôn ngữ mô hình tiến trình nghiệp
vụ. Với minh họa xây dựng được, thống kê kết quả, phân tích, đánh giá ưu
điểm, hiệu quả và khả năng áp dụng, mở rộng.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN QUẢN LÝ TIẾN TRÌNH NGHIỆP VỤ
Quản lý tiến trình nghiệp vụ (Business process management viết tắt là
BPM) đang thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quản trị doanh nghiệp
và nghiên cứu khoa học máy tính. Một trong những mối quan tâm lớn của
các nhà quản trị doanh nghiệp là cải tiến các hoạt động của doanh nghiệp với
mục đích tạo ra các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng hơn nữa các yêu cầu
6
việc các hoạt động được thực hiện như thế nào trong phạm vi của một doanh
nghiệp. Do đó Thomas H. Davenport đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Một tiến trình nghiệp vụ là một tập thứ tự các hoạt động cụ thể theo
không gian và thời gian với thời điểm bắt đầu, kết thúc và xác định rõ các
đầu vào và đầu ra- một cấu trúc cho các hoạt động”.
Rummler và Brache (1995) [6] “Một tiến trình bao gồm một dãy các
bước được thiết kế nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ”
Johansson et. al. (1993) [7] “Một tiến trình là một tập các hoạt động
được liên kết với nhau bao gồm một hoạt động vào và chuyển đổi hoạt động
vào nhằm tạo ra đầu ra. Việc chuyển đổi xảy ra trong tiến trình từ đầu vào
phải tăng thêm giá trịvà mang lại kết quả hữu dụng hơn và hiệu quả cho
khách hàng "
Các thành phần cơ bản của quá trình nghiệp vụ bao gồm :
- Đầu vào
- Đầu ra
- Các hoạt động : được vận hành theo một cấu trúc nhất định nhằm xử lý dữ
liệu ở đầu vào và đưa ra kết quả ở đầu ra.
Một ví dụ về tiến trình nghiệp vụ : Tiến trình bán hàng.
Hình 1.1 Tiến trình bán hàng.
7
7
Quá trình đặt hàng hiện được thể hiện ở hình 1.1. Công ty sẽ nhận được
nhiều đơn đặt hàng, mỗi đơn đặt hàng trong số đó sẽ được xử lý như mô tả
trong hình 1.1.
Hình 1.2. Các thành phần cơ bản của tiến trình nghiệp vụ
Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể tập hợp được các đặc tính của
một tiến trình nghiệp vụ :
Tính xác định: Định rõ đầu vào và đầu ra.
Tính thứ tự: Các hoạt động của tiến trình nghiệp vụ phải có thứ tựtheo không
Xét về hướng tiếp cận, BPM được xem như là một sự mở rộng của các
hệ thống quản lý luồng công việc [9].
Theo Workflow Management Coalition (WfMC) “Luồng công việc là
sự tự động hoá một phần hay toàn bộ tiến trình nghiệp vụ, trong quá trình
đó các tài liệu, thông tin hay các tác vụ được chuyển từ người này đến người
khác để thực hiện theo một tập các quy tắc hướng thủ tục.”
“Một hệ thống định nghĩa, xây dựng và quản lý việc thực thi các luồng
công việc thông qua việc sử dụng các phần mềm, thực thi trên một hay nhiều
luồng công việc, có khả năng biên dịch các định nghĩa tiến trình, tương tác
với các thành phần tham gia luồng công việc dưới sự hỗ trợ của các công cụ
và các ứng dụng công nghệ thông tin”.
Định nghĩa luồng công việc và hệ thống quản lý luồng công việc nhấn
mạnh vào sự thực thi của các tiến trình đó là việc sử dụng các phần mềm để
thực hiện các tiến trình thao tác. Tuy nhiên trong những năm gần đây, rất
nhiều nhà nghiên cứu và chuyên môn nhận thấy rằng việc tập trung vào sự
thực thi rất hạn chế. Kết quả là của sự hạn chế đó là sự ra đời của BPM [10],
[9]. Mặc dù tồn tại nhiều định nghĩa BPM nhưng hầu hết các định nghĩa của
BPM bao gồm định nghĩa quản lý luồng công việc.
Theo W.M.P Van der Aalst [9] “BPM bao gồm các khái niệm, phương
pháp, và kỹ thuật để hỗ trợ việc thiết kế, quản lý, cấu hình, ban hành, và
phân tích các tiến trình nghiệp vụ và giao tác liên quan đến con người, các tổ
chức, ứng dụng, các tài liệu và các nguồn thông tin khác nhằm hỗ trợ cho các
tiến trình nghiệp vụ”
10
10
Các công cụ hỗ trợ cho việc quản lý các tiến trình nghiệp vụ giao tác
gọi là các hệ thống quản lý tiến trình nghiệp vụ BPMS (Business Process
Management Systems).
Theo [9], “một BPMNS là hệ thống phần mềm chung được điều khiển
bởi sự biểu diễn các tiến trình một cách tường minh nhằm phối hợp sự thực
kỹ thuật sử dụng chung một công cụ để thiết kế logic của tiến trình nghiệp
vụ. Dựa trên logic đó, đội kỹ thuật tiến hành các hoạt động tích hợp và triển
khai cần thiết để vận hành hệ thống.
BPMNS có thể theo dõi chặt chẽ các hệ thống xử lý đơn hàng, đơn vay
hoặc hệ thống quản lý khách hàng, tiếp nhận các phản hồi, phát hiện các vấn
đề xảy ra đối với các dữ liệu còn thiếu, hướng dẫn từng bước để khắc phục
sự cố xảy ra với luồng thông tin. Với những BPMS gần đây, người sử dụng
làm việc trên một mô hình chia sẻ, các thay đổi của tiến trình trong quá trình
thiết kế có thể được đưa vào thực tế rất nhanh. Những nền tảng này được gọi
là bộ BPM (BPM Suite) bởi vì chúng cung cấp mô hình hóa tiến trình tích
hợp, theo dõi thời gian thực, các ứng dụng trên nền Web và quản lý báo cáo.
Tất cả những chức năng này làm việc cùng nhau để hỗ trợ sự đổi mới tiến
trình một cách nhanh chóng.
Triển khai BPM trên thực tiễn.
Tại các tổ chức, doanh nghiệp, sử dụng nhân viên thực hiện các công
việc lặp đi lặp lại hàng ngày là một tiến trình tốn kém thời gian và tiền bạc.
Tuy nhiên, điều này trở nên trầm trọng hơn khi các công việc bị thay đổi
theo thực tế nghiệp vụ. Thay đổi một tiến trình quen thuộc đối với nhân viên
và ngay cả đối với người quản lý là một quá trình phức tạp và tốn kém, đặc
12
12
biệt đối với các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng phương pháp tiếp cận ngắn
với các mục tiêu trước mắt và trung hạn chứ không phải là cố gắng để biến
đổi văn hóa tổ chức. Các hoạt động lặp đi lặp lại thực sự có thể trở nên dễ
dàng kiểm soát bằng cách thông qua việc sử dụng các bộ BPM (BPM Suite)
nhằm phối hợp giữa những thực thể tham gia vào tiến trình. Trong đại đa số
các tổ chức, các tiến trình phức tạp sẽ phải sử dụng công nghệ để hỗ trợ
những thực thể tham gia vào các tiến trình một cách thuận lợi.
Hình 1.4. Nền tảng dịch vụ BPM
(Nguồn: http://www.ibm.com/developerworks/vn/library/rational
Chuẩn chuyển đổi
(XPDL, BPDM)
Chuẩn thực thi
(BPEL, BPML, WSFL, XLANG, YAWL)
14
14
quán đáp ứng mọi yêu cầu đặt ra. Các tổ chức hay các nhóm chuẩn hóa như
OMG (Object Management Group), OASIS (Organization for the
Advancement of Structured Information Standards) và WfMC (Workflow
Management Coalition) đã đề xuất các chuẩn nhằm chuẩn hóa các sản phẩm
tồn tại hiện nay.Mặc dù tồn tại nhiều chuẩn cho BPM nhưng để phân loại các
chuẩn BPM theo [10] người ta chia làm 4 nhóm chính bao gồm: chuẩn biểu
diễn trực quan, chuẩn thực thi, chuẩn chuyển đổi và các chuẩn chẩn đoán.
Tuy nhiên, luận văn tập trung trình bày vào ba nhóm chuẩn chính sau:
- Chuẩn biểu diễn trực quan (Graphical standards) cho phép người sử dụng
biểu diễn các tiến trình nghiệp vụ, các luồng công việc và các trạng thái của
tiến trình dưới dạng các biểu đồ.
- Chuẩn thực thi (Execution Standards) triển khai thực hiện và tự động hóa các
tiến trình nghiệp vụ trên các máy tính.
- Chuẩn chuyển đổi (Interchange Standards) nhằm mục đích tạo điều kiện cho
việc chuyển đổi dữ liệu. Chuẩn chuyển đổi được xem như là cầu nối giữa
chuẩn biểu diễn trực quan và chuẩn thực thi.
Hình 1.6. Phân loại các chuẩn BPM
15
15
1.4.1. Chuẩn biểu diễn trực quan
Chuẩn biểu diễn trực quan cho phép người sử dụng biểu diễn các luồng
thông tin, các điểm quyết định và các thành phần tham gia vào tiến trình
nghiệp vụ dưới dạng các biểu đồ [11].
UMLActivityDiagrams(UMLAD)(OMG,2004),Business Process
Hợp nhất
Mở rộng
WSFL
XLANG
BPEL4WS
WS-BPEL
Hình 1.7. Sự phát triển của BPEL
Dưới góc độ của các nhà xây dựng chuẩn BPEL thì các tiến trình
nghiệp vụ được mô tả theo hai cách thức: các tiến trình nghiệp vụ thực thi
(excution business processes) và các giao thức nghiệp vụ (business
protocols). Các tiến trình nghiệp vụ thực thi mô hình hóa chi tiết các hoạt
động của các thành phần tham gia vào sự tương tác nghiệp vụ. Ngược lại,
các giao thức nghiệp vụ (business protocols) sử dụng các mô tả tiến trình
nghiệp vụ nhằm định rõ các hoạt động trao đổi thông điệp của các thành
phần liên quan đến giao thức một cách trừu tượng nhưng không thể hiện các
chi tiết và các hoạt động bên trong của các thành phần tham gia. Các mô tả
17
17
tiến trình cho các giao thức nghiệp vụ gọi là các tiến trình trừu tượng
(abstract processes). Như vậy, toàn bộ hoạt động thực thi logic của tiến trình
được định nghĩa thông qua các tiến trình thực thi và các tiến trình trừu tượng
chỉ bao gồm các thông điệp trao đổi giữa các thành phần tham gia vào tiến
trình .
- Một tiến trình nghiệp vụ được viết dưới dạng ngôn ngữ thực thi tiến trình
BPEL bao gồm hai file:
- File WSDL đặc tả các các giao diện Web Service liên quan đến tiến trình
được định nghĩa ở file BPEL.
- Các file BPEL được mã hóa dưới dạng XML định nghĩa các tiến trình nghiệp
vụ bao gồm activities, partner links, variables và event handlers.
BPEL là ngôn ngữ thực thi tiến trình nghiệp vụ dựa trên XML trong
vẫn đứng vững trong một khoảng thời gian dài và đánh dấu 10 năm thành lập
vào năm 2008. XPDL bắt đầu xuất hiện khi WfMC (được thành lập vào
tháng Tám năm 1993) đưa ra định nghĩa mô hình tham chiếu luồng công việc
(được xuất bản cuối cùng vào năm 1995) xác địnhnăm giao diện chínhbắt
buộc cho một hệ thống quản lý luồng công việc. Trong mô hình tham chiếu
hình 1.8, giao diện 1 định nghĩa các tiến trình nghiệp vụ bao gồm ngôn ngữ
biểu diễn định nghĩa tiến trình nghiệp vụ vàgiao diện lập trình để chuyển
giao các tiến trình để định nghĩa đến hệ thống quản lý luồng công việc.
19
19
Hình 1.8. Mô hình tham chiếu luồng công việc
Phiên bản đầu tiên của ngôn ngữ định nghĩa tiến trình gọi là ngôn ngữ
định nghĩa tiến trình luồng công việc WPDL (Workflow Process Definition
Language )được xuất bản năm 1998. Tuy nhiên WPDL là ngôn ngữ định
nghĩa tiến trình luồng công việc không dựa trên XML do đó đến năm 1998,
khi các chuẩn đầu tiên dựa trên XML bắt đầu xuất hiện. Những tiện ích trong
việc sử dụng cú pháp XML là cơ sở cho ngôn ngữ chuyển đổi dựa trên XML.
Do đó, Workflow Management Coalition Working Group 1 tạo ra ngôn ngữ
cập nhật ngôn ngữ định nghĩa tiến trình WPDL gọi là ngôn ngữ định nghĩa
tiến trình nghiệp vụ dựa trên XML phiên bản 1.0.WfMC tiếp tục cập nhật và
cải tiến ngôn ngữ chuyển đổi định nghĩa tiến trình. Vào năm 2004 khi
WfMC chấp nhận BPMN là một chuẩn đồ họa XPDL được mở rộng nhằm
mục đích thể hiện tất các khái niệm được biểu diễn trong lược đồ BPMN
dưới dạng XML. Lúc này, XPDL 2.0 là ngôn ngữ định nghĩa tiến trình được
cập nhật và được WfMC phê chuẩn vào tháng 10 năm 2005. Vào tháng 4
năm 2008, WfMC phê chuẩn XPDL 2.1 là phiên bản thứ 4. XPDL 2.1 là sự
20
20
mở rộng trong việc xử lý BPMN 1.1. Do đó sự mở rộng của XPDL thể hiện
XPDL không chỉ đơn thuần là chuẩn định nghĩa các tiến trình nghiệp vụ mà
Mặc dù luật nghiệp vụ và tiến trình nghiệp vụ (Business rule & business
process ) được xem như là những thành phần quan trọng của BPM nhưng nó
chưa biểu diễn được tất cả các cấu trúc nghiệp vụ. Điều này dẫn đến việc cần
tìm ra cách kết hợp các ngôn ngữ luật và ngôn ngữ mô hình nghiệm vụ để có
thể biểu diễn được tốt hơn và rộng hơn các cấu trúc nghiệp vụ.Vậy các thách
thức đó là gì, hướng tiếp cận hay giải pháp nào cho vấn đề biểu diễn các cấu
trúc nghiệp vụ sẽ được trình bày cụ thể trong Chương 2 của luận văn.
CHƯƠNG 2: CÁC NGÔN NGỮ MÔ HÌNH HÓA
NGHIỆP VỤ Ở MỨC CAO
2.1. Ngôn ngữ luật nghiệp vụ
2.1.1. Khái niệm cơ sở
22
22
Luật nghiệp vụ
Chúng ta có thể tìm thấy một vài định nghĩa khác nhau về luật nghiệp
vụ. Luật nghiệp vụ là nguyên tử (atomic) và là sự diễn đạt hình thức của
chính sách nghiệp vụ, là những điều chỉnh nghiệp vụ và những ràng buộc về
ý nghĩa thông thường [13]. Luật nghiệp vụ là phát biểu nhằm tác động hoặc
dẫn dắt những hành vi và thông tin trong một tổ chức [14].
Tuy nhiên, định nghĩa thông dụng nhất về luật nghiệp vụ là của nhóm
Business Rules Group.
Định nghĩa như sau : Một luật nghiệp vụ (Business Rule) là “một phát
biểu định nghĩa hoặc ràng buộc một vài mặt của nghiệp vụ. Luật nghiệp vụ
được dùng để xác nhận cấu trúc nghiệp vụ. Luật nghiệp vụ cũng được dùng
để điều khiển hoặc ảnh hưởng đến hành vi của nghiệp vụ”[13].
Ví dụ về luật nghiệp vụ :
- Mỗi một tài khoản ngân hàng được sở hữu bởi duy nhất một người.
- Ngân hàng sẽ không cho vay tiền nếu như tỉ lệ số tiền nợ/thu nhập hàng
tháng cao hơn 37%.
- Muốn mua vé máy bay giá rẻ của hãng hàng không VietJet thì khách hàng
- Ngôn ngữ đánh dấu mô hình quy trình nghiệp vụ dựa trên nền tảng
luật(The Rule-based Business Process Modeling Notation language –
rBPMN)
Đây là ngôn ngữ sinh ra từ việc tích hợp BPMN và R2ML. Được định
nghĩa bởi sự kết hợp giữa những phần tử của BPMN và những cú pháp trừu
tượng của R2ML. rBPMN đã được thiết kế để hỗ trợ luật nâng cao mô hình
24
24
hướng quy trình của những dịch vụ tái cấu trúc. Muốn biết sâu hơn về ngôn
ngữ này thì chúng ta tìm trong mục tham khảo [17]
- Ngữnghĩa của luật nghiệp vụ và từ vựng nghiệp vụ (Semantics of
Business Vocabulary and Business Rules - SBVR):
Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu về SBVR ở phần 2.1.3.
2.1.3. Ngữnghĩa của luật nghiệp vụ và từ vựng nghiệp vụ (Semantic of
Business Vocabulary and Business Rules - SBVR ) [18]
SBVR là một đặc tả của OMG để biểu diễn tri thức nghiệp vụ bằng
ngôn ngữ mà người làm kinh tế có thể hiểu được. Có thể phát biểu SBVR
nhắm tới việc giúp người làm kinh tế hiểu được những mô hình mà không
cần những tri thức đặc biệt trong việc mô hình hóa hoặc những kỹ năng về
IT. SBVR sử dụng những đặc tả bằng ký tự thay vì dùng biểu đồ.
Trong khi những biểu đồ rất hữu ích khi chúng dễ dàng cho ta thấy
những khái niệm nghiệp vụ liên quan với nhau như thế nào. Mặt khác,biểu
đồ không thích hợp để định nghĩa những từ vựng và biểu diễn những luật.
SBVR cho ta thấy rõ được nguyên tắc cốt lõi của cách tiếp cận những luật
nghiệp vụ ở tầm nhìn của người làm kinh doanh.
Cách thông thường nhất để biểu diễn từ vựng nghiệp vụ và luật nghiệp
vụ là sử dụng đặc tả dưới dạng các câu chữ (text) hơn là dưới dạng những
biểu đồ (diagrams). Trong khi biểu đồ giúp ta hiểu dễ thấy được những khái
niệm nghiệp vụ liên quan với nhau như thế nào thì những biểu đồ lại không
thích hợp để định nghĩa và biểu diễn từ vựng và luật. SBVR sử dụng ngôn