skkn BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN

Người thực hiện: PHAN DUY KHÁNH
Lĩnh vực nghiên cứu:


- Quản lý giáo dục

- Phương pháp dạy học bộ môn: ............................. 
(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)
 Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)


+ Một số biện pháp quản lý học sinh yếu tại trường THPT Võ Trường Toản.

2


BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH
TẠI TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nâng cao chất lượng dạy và học là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường.
Trong xã hội ngày càng biển đổi, sự cần thiết để có được chất lượng thực của học
sinh là hết sức cần thiết. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ 8, khóa XI đã đề ra chủ trương: Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và
hội nhập quốc tế.
Theo đó mục tiêu cụ thể đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ
thông là: Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công
dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống,
đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng
kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập
suốt đời. Trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn
học sau phổ thông có chất lượng.
Mục tiêu trên so với mục tiêu lâu nay có những điểm chung, đó là “nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện”. Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến chất lượng
sản phẩm của giáo dục làm ra, để đánh giá sản phẩm của giáo dục thì phải đánh giá
một cách toàn diện: gồm cả chất lượng chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa
học - kỹ thuật, thể lực.
Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy

hàng”. Ông ta cho rằng nhà trường cần tạo ra những môi trường học tập lớn lao để
nâng cao chất lượng của quá trình cơ bản là học và dạy. Nếu như những phương
sách cải tiến của nhà trường không gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập và
thành tích của học sinh thì chắc chắn là chúng ta chỉ đang lãng phí thời gian mà
thôi.
Cho nên, việc nâng cao chất lượng học sinh yếu kém là nhằm mang lại hiệu
quả thật sự, là giúp học sinh lấy lại được căn bản, củng cố lại kiến thức. Và người
quản lý về chuyên môn phải tìm ra được giải pháp chỉ rõ cách nghĩ, cách làm, đồng
thời tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần để giáo viên có thể toàn
tâm, toàn ý với công. Ở bất kỳ một chế độ nào, một thời đại nào thì giáo dục cũng
có vai trò quan trọng. Sản phẩm của ngành là con người ngày ngày hiện hữu trong
mọi ngóc ngách của cuộc sống xã hội muôn màu, không thể khoa trương cũng
không thể dấu diếm. Giáo dục chi phối mọi hoạt động đi lên của xã hội, quyết định
sự phát triển mỗi một quốc gia.
Thực tế hiện nay - Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được
xem là nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong giai đoạn 2013-2015. Chính vì thế,
bên cạnh những giải pháp cấp thiết được đưa ra: đổi mới công tác quản lý giáo dục,
phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục; đưa ra các giải pháp hữu
hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề hết sức qua trọng, được
toàn xã hội quan tâm.
Chất lượng thực của học sinh ngày càng thể hiện rõ nét; số lượng học sinh
khá, giỏi chiếm tỷ lệ chưa cao, học sinh yếu kém cao. Trong thời kỳ đổi mới, thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ hội nhập đòi hỏi việc nhận thức của học
sinh không ngừng tăng. Vấn đề đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và
học là một việc làm không thể thiếu ở tất cả các trường học, cấp học. Biện pháp
4


207
33.8
237
41.1
184
28.2
Tr. bình
303
49.4
251
43.5
298
45.6
Yếu
76
12.4
56
9.7
133
20.4
Kém
2
0.3
15
2.3
b) Về hạnh kiểm
Xếp loại
Tốt
Khá
Tr. bình

30.9
78
11.9
26
4

Cộng
Số HS
%
90
4.8
686
36.8
850
45.6
220
11.8
17
0.9
Cộng
Số HS
%
1291
69.3
409
22
125
6.7
37
2

2.37
99
16.67
25
5.47
Khá
211
38.43
260
43.77
191
41.79
Tr. bình
252
45.90
204
34.34
193
42.23
Yếu
73
13.30
31
5.22
44
9.63
Kém
4
0.88


449
81.79
417
70.20
322
70.46 1188
74.25
Khá
86
15.66
89
14.98
99
21.66
274
17.13
Tr. bình
14
2.55
86
14.48
32
7
132
8.25
Yếu
2
0.34
4
0.88

b) Đối với nhà trường
Cơ sở vật chất: Còn nhiều thiếu thốn, chưa có điều kiện để tổ chức tốt các
hoạt động để nâng cao chất lượng dạy và học.
Một số GV trẻ mới ra trường cho nên còn hạn chế về năng lực, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ; chưa nhiệt tình giảng dạy, chưa tích cực đổi mới phương
pháp dạy học, phương pháp giảng dạy còn nhàm chán không thu hút học sinh làm
cho các em chán học bộ môn đó dần dần kéo theo các bộ môn khác; đôi khi không
hiểu hết nội dung của sách giáo khoa, chưa nắm chắc chuẩn kiến thức dẫn đến bài
giảng soạn chưa phù hợp với đối tượng học sinh mình dạy.Chưa quan tâm đầy đủ
đến những học sinh có khó khăn trong học tập (HS yếu kém: để học sinh học yếu
đến đuối sức thì không gỡ được, trách nhiệm này thuộc về giáo viên và nhà
trường). Việc kiểm tra đánh giá của thầy cô giáo chưa thường xuyên, chưa nghiêm
túc, chưa có tác dụng khích lệ động viên học tập.. Bên cạnh đó một số giáo viên
chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát
khỏi yếu kém. Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của
chính mình không tự vươn lên...
Việc dạy cho học sinh tự học và sáng tạo hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy
hết giáo án, chương trình, nội dung đã qui định. Giáo viên vẫn chưa sáng tạo ở
khâu này. Khi giảng bài trên lớp còn phụ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa, giáo
án. Học sinh sẽ nghĩ gì về thầy cô lúc này? Nhiều giáo viên ngồi mãi bên bàn ít khi
xuống gần học sinh, có giáo viên nói không rõ ràng học sinh không hiểu thầy cô
đang nói gì. Vậy làm sao các em học được!
Chúng ta đang thực hiện phương pháp nhồi nhét kiến thức cho học sinh chứ
chưa dạy các em tự học sáng tạo, kiến thức chúng ta dạy cho các em hôm nay liệu
có áp dụng được ít nhiều gì trong nghề nghiệp của các em sau này không?
Đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm: Chưa có kinh nghiệm trong công
tác quản lí lớp. Trên trường sư phạm chỉ học lý thuyết chưa có nhiều trãi nghiệm
trong thực tiễn. Kiến thức tâm sinh lí của học sinh bị mai một, chưa phát huy tốt
những ưu điểm của học sinh; chưa quan tâm đúng mức để nắm rõ từng hoàn cảnh
của học sinh để động viên, nhắc nhở, tâm sự giúp học sinh hiểu nhiều hơn.

dục toàn diện cho học sinh.
Mỗi GV cần phải nắm chắc đặc trưng bộ môn để áp dụng hiệu quả đối với
từng đối tượng học sinh. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải nắm chắc
và phân loại đối tượng học sinh, phải chú ý đối tượng học sinh yếu kém. Giáo viên
chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần hướng dẫn học sinh sắp xếp thời gian tự học,
chuẩn bài trước khi đến lớp... . Phải xem lại yêu cầu chuẩn kiến thức bộ môn để ra
đề kiểm tra cho phù hợp. Tổ chức soạn bài theo nhóm chuyên môn. Tổ chức tốt
sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn để thảo luận, trao đổi những biện pháp giúp đỡ học
sinh yếu kém, những nội dung hay để bồi dưỡng học sinh giỏi. Phải xác định: Mỗi
thầy cô giáo phải có trách nhiệm giúp đỡ học sinh yếu kém để các em này cải thiện
tình hình học tập của mình một cách tốt nhất (Dạy học là dạy cho những người
chưa biết để họ được biết). Xây dựng tốt mối quan hệ thân thiện tích cực trong
thầy trò để dạy và học tốt hơn.
Trong đánh giá chất lượng học sinh cần thực hiện đúng theo qui định. Đặc
biệt chú ý đúng chuẩn kiến thức bộ môn, đề kiểm tra phải chính xác khoa học và
phù hợp với học sinh. Thực hiện đánh giá học sinh qua sự tiến bộ, xây dựng bài,
chăm chỉ làm những bài tập mà giáo viên cho làm ở nhà.
2.2. Đối với học sinh yếu
8


Ngay từ đầu năm học giáo viên dựa vào kết quả năm học trước thống kê được
số lượng học sinh yếu kém và có nguy cơ trở thành học sinh yếu kém ở lớp mình
báo cáo cho ban chuyên môn vói kết quả như sau:
- Khối 12 (589 HS): 31 học sinh yếu, chiếm tỷ lệ 5,22%.
- Khối 11 (623 HS): 44 học sinh yếu, chiếm tỷ lệ 9,63%.
- Theo kết quả xét tuyển đầu vào của khối 10, có tổng điểm xét tuyển 29đ: 36
học sinh, chiếm tỷ lệ 7,1%.
Số lượng học sinh yếu toàn trường: 104 HS, chiếm tỷ lệ 6,64%.
Sau khi lập danh sách học sinh yếu, tôi lập kế hoạch và tiến hành khảo sát các

Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắc nhở, động viên HS và báo cáo sự
tiến bộ của các em theo hàng tháng.
2.3. Đối với học sinh giỏi bộ môn
Tổ chức xếp lớp có học sinh giỏi bộ môn ngay từ khi học sinh vào lớp 10. Tôi
liên hệ với phòng giáo dục xin danh sách học sinh đăng ký dự thi học sinh giỏi cấp
huyện. Bộ phận văn phòng chọn những học sinh giỏi từng bộ môn dựa vào danh
sách phòng GD cung cấp. Sau đó chỉ đạo phó hiệu trưởng chuyên môn cùng với
các tổ trưởng xếp lớp cho các em. Số học sinh giỏi bộ môn của lớp 9 được xếp vào
mỗi lớp một bộ môn, nếu thiếu chúng tôi chọn thêm học sinh giỏi bộ môn đó dựa
vào học bạ, làm sao cho đủ 10 học sinh.
Hàng năm, giáo viên bộ môn phát hiện thêm những học sinh khác thì giới
thiệu cho ban giám hiệu. Tôi chuyển lớp cho học sinh đó nếu em có nhu cầu.
Các tổ chuyên môn dự kiến giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 10 đến
lớp 12 để họ có trách nhiệm và hiểu học sinh hơn. Giáo viên được phân công vào
những lớp đó sẽ được bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn từ lớp 10 đến lớp 12.
Trong quá trình dạy học sinh giỏi, hàng tháng giáo viên bộ môn có trách
nhiệm báo cáo cho hiệu trưởng những nội dung đã bồi dưỡng (báo cáo vắn tắt theo
chủ đề). Tôi làm cách này để nhắc nhở giáo viên tập trung vào công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi và họ có thể theo dõi nội dung mà họ đã hướng dẫn học sinh.
2.4. Tổ chức dạy học 02 buổi
Để nâng cao chất lượng giáo dục trong toàn trường và quản lý việc dạy thêm
học thêm, tôi còn tổ chức dạy học 02 buổi cho các lớp với 04 bộ môn mà học sinh
có nhu cầu như là môn Toán, Văn, Anh văn, môn thứ 04: lớp 12 học sinh tự chọn
môn để thi THPT quốc gia; lớp 10, 11 học Vật lý/ Hóa.
Đầu năm học, tôi lên kế hoạch học 02 buổi và tổ chức lấy ý kiến trong toàn
hội đồng, và được toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên hưởng ứng. Sau đó tôi tổ
chức họp cha mẹ học sinh toàn trường phổ biến rộng rãi để họ đăng ký cho con em
học. Qua những năm tổ chức học 02 buổi, chất lượng giáo dục của nhà trường
được cải thiện đáng kể.
Để quản lý những lớp này, tôi thường xuyên nhắc nhở giáo viên soạn bài tập

về học tập trên lớp cũng như ở nhà của các em. Quản sinh phải nhẹ nhàng, vui vẻ
tạo môi trường thân thiện vừa quan tâm vừa giáo dục các em. Trong khi trao đổi
với các em, quản sinh ghi chép lại những câu hỏi và câu trả lời của học sinh. Kết
thúc cuộc trò chuyện khoảng 5 – 10 phút, học sinh ký tên xác nhận nội dung cuộc
trò chuyện. Khi nào các em có nhiều tiến bộ, không vi phạm nữa thì quản sinh
không cần mời nữa.
Qua các cuộc trò chuyện này, học sinh cảm thấy sự quan tâm sâu sắc của nhà
trường nói chung và của quý thầy cô quản sinh nói riêng, đã thay đổi được nhận
thức của các em về học tập.
2.6. Tổ chức các hoạt động bổ trợ

11


Phối hợp với Đoàn TN tổ chức các hoạt động TDTT-VHVN xuyên suốt trong
năm học dể tạo không khí trong nhà trường luôn có nhiều hoạt động đang diễn ra,
học sinh vừa học văn hóa vừa chuẩn bị các hoạt động TDTT-VHVN tranh tài với
các lớp khác.
Tổ chức các câu lạc bộ như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, cờ vua, cờ
tướng, điền kinh, văn nghệ,…. Các phong trào không dồn dập trong một hoặc hai
tháng như trước đây mà được rãi ra trong năm học. Tuần nào cũng có các lớp tranh
tài, thi đấu. Nhìn vào sân thể thao lúc nào cũng nhộn nhịp, vui vẻ.
Tổ chức chung kết của từng bộ môn vào ngày họp cha mẹ học sinh cuối học
kỳ I và cuối học kỳ II. Cha mẹ học sinh đến dự họp như một ngày hội TDTT. Họ
chỉ muốn họp nhanh để ra cổ vũ cho con em của mình.
Qua việc tổ chức các hoạt động bổ trợ ngoài việc học văn hóa trên lớp, giáo
viên thì hơi cực nhưng hiệu quả rất tốt. Học sinh vừa học vừa chơi và luôn luôn lo
lắng cho việc tranh tài với lớp bạn. Vì thế các em không có cơ hội nhàn rỗi để làm
những việc không đáng làm.
Hàng năm tôi đều tổ chức các lớp giỏi, yếu, kém của 03 khối nhằm phát

43
7.54
41
9.67
44
9.19
Khá
317
55.61
191
45.05
201
41.96

Cộng
Số HS
%
128
8.69
709
48.13
12


Tr. bình
Yếu
Kém

200
10

Khối 10
Cộng
loại
Số HS
%
Số HS
%
Số HS
%
Số HS
%
Tốt
518
90.88
337
79.48
432
90.19 1287
87.37
Khá
36
6.32
62
14.62
42
8.77
140
9.50
Tr. bình
16

Để thực hiện hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm vào thực tiễn, đòi hỏi ở mỗi cá
nhân phải có được kinh nghiệm qua quá trình trải nghiệm thực tế, phải thực sự có
tâm, tính kiên nhẫn. Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm hàng năm để cụ thể vào thực tế
của nhà trường. Nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của đối tượng giáo dục, từ đó
ứng dụng thực hiện. Điều kiện CSVC, trang thiết bị dạy học phải đáp ứng nhu cầu.
Đội ngũ GV được học tập nâng cao trình độ thường xuyên và phải có sự thống
nhất cao để thực hiện. Được sự đồng thuận, phối kết hợp của các ban ngành, lãnh
đạo các cấp trong cả tiến trình thực hiện thì chắc chắn việc ứng dụng vào thực tiễn
của đề tài sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh có kết quả hơn, theo tôi, chúng
ta cần phải tiến hành một số công việc sau: Ngay từ đầu năm học, sau khi tiến hành
khảo sát chất lượng đầu năm, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần phối
hợp phân tích, đánh giá kết quả đạt được của học sinh để đưa ra các dự báo về học
sinh yếu kém và học sinh giỏi bộ môn. Cần phải nhận diện học sinh yếu kém, phát
hiện các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém trước khi tìm các biện
pháp giúp đỡ các em. Các biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém phải được nghiên
cứu một cách khoa học, đúc kết kinh nghiệm, phổ biến rộng rãi cho giáo viên sử
dụng nhằm hạn chế dần tình trạng học sinh học kém trong các năm học tới.
Đối với Đảng và chính quyền địa phương cần quan tâm đúng mức đến sự
nghiệp GD&ĐT của địa phương, chú ý đến diện tích sân trường, xây dựng cơ sở
vật chất, tăng cường các trang thiết bị, xây dựng tốt môi trường GD....
VI.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2013). Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TW.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013). Chương trình hành động của ngành Giáo
dục thực hiện Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam 2011-2020, Hà Nội.

SL
%
Thường chỉ hiểu bài khi giáo viên giảng chậm, cặn
1
80 76,9 24 23,1
kẽ. Học lâu thuộc bài, nhanh quên.
Nhiều khi đến lớp chưa làm đủ bài tập, chưa thuộc
2
72 69,2 32 30,8
bài, chưa chuẩn bị bài chưa chu đáo.
3 Nghỉ học, bỏ giờ nhiều
44 42,3 60 57,7
4 Bị nhiều điểm kém bộ môn
70 67,3 34 32,7
5 Mất căn bản kiến thức của bộ môn
80 76,9 24 23,1
6 Tình trạng sức khoẻ của bản thân không tốt.
25 24,0 79 76,0
7 Hoàn cảnh gia đình khó khăn, ở xa trường.
48 46,2 56 53,8
8 Phân tán tư tưởng do hoàn cảnh gia đình.
75 72,1 29 27,9
Chưa tập trung chú ý nghe giảng, chưa thực hiện
9
82 78,8 22 21,2
các yêu cầu trên lớp của thầy, cô giáo.
10 Không hứng thú trong học tập bộ môn
79 76,0 25 24,0
11 Phương pháp dạy học của giáo viên nhàm chán.
73 70,2 31 29,8

..................................................................................................................
6. Em có yêu cầu gì đối với bố mẹ? ............................................................
..................................................................................................................
7. Em có yêu cầu gì đối với nhà trường? ....................................................
..................................................................................................................
..................................................................................................................
Học sinh ký tên
16


SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT
VÕ TRƯỜNG TOẢN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO
về tình hình giúp đỡ học sinh yếu tháng . . . . .
* Danh sách học sinh yếu ở những lớp thầy/cô dạy:
Họ và tên
Lớp
Họ và tên
Lớp

Họ và tên

Lớp

* Thầy/cô đã giúp đỡ những học sinh yếu bộ môn của mình bằng cách nào?


KẾ HOẠCH
Phụ đạo học sinh yếu năm học 2014-2015
Căn cứ công văn số 2001/SGDĐT-GDTrH ngày 28 tháng 8 năm 2014 của
Sở GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học phổ thông
năm học 2014-2015;
Căn cứ công văn số 1973/SGDĐT-GDTrH ngày 26 tháng 8 năm 2014 của
Sở GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015 đối với
giáo dục dân tộc;
Căn cứ công văn số 1995/SGDĐT-KTKĐCLGD ngày 28 tháng 8 năm 2014
về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Khảo thí và Kiểm định CLGD năm học
2014-2015;
Căn cứ Kế hoạch số 40/KH-THPH ngày 12 tháng 9 năm 2014 của trường
THPT Võ Trường Toản, Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015;
Căn cứ thực trạng chất lượng học sinh năm học 2014 – 2015, trường THPT
Võ Trường Toản xây dựng kế hoạch phụ đạo học sinh yếu năm học 2014-2015 như
sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Tập trung phụ đạo học sinh học lực yếu chưa đạt chuẩn kiến thức kỹ năng
các môn học tại lớp đang học bằng nhiều hình thức. Nhằm tạo điều kiện cho các
em phát huy được khả năng học tập, lĩnh hội các kiến thức – kĩ năng đạt chuẩn
theo quy định.
- Giúp học sinh yếu củng cố kiến thức cơ bản, có thói quen độc lập suy nghĩ,
tự giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hạn chế học sinh yếu và lưu ban.
2. Yêu cầu
18



- Theo kết quả xét tuyển đầu vào của khối 10, có tổng điểm 29 là 36 học
sinh, chiếm tỷ lệ 7,1%.
Số lượng học sinh yếu toàn trường: 104 HS, chiếm tỷ lệ 6,64%.
2. Biện pháp khắc phục
2.1. Quan tâm học sinh yếu
- Ngay từ đầu năm, ban chuyên môn thống kê lại học sinh yếu ở các lớp và
lập danh sách gởi cho giáo viên chủ nhiệm, tổ trưởng và giáo viên bộ môn để biết
được chính xác học sinh yếu đang cần giúp đỡ.
19


- Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắc nhở động viên các em hằng tuần,
nắm bắt tình hình học tập của lớp, thái độ học tập của học sinh yếu qua giáo viên
bộ môn. Hàng tháng báo cáo về tình hình học tập của học sinh yếu cho ban giám
hiệu.
- Giáo viên bộ môn giúp đỡ các em trong giờ học bằng cách thường xuyên
gọi các em lên làm bài tập hoặc trả lời những câu hỏi từ dễ đến khó giúp các em
tích cực xây dựng bài và có cơ hội cũng cố kiến thức cơ bản của bộ môn. Hàng
tháng báo cáo tình hình học tập của học sinh yếu cho ban giám hiệu.
- Ban giám hiệu tổ chức gặp gỡ các em 02 tháng 01 lần qua phiếu điều tra để
nắm bắt những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học tập. Qua đó ban
giám hiệu có những điều chỉnh kịp thời.
2.2. Phụ đạo học sinh yếu
- Tổ chức các lớp yếu theo bộ môn với sỉ số mỗi lớp không quá 20 học sinh.
Qua khảo sát học sinh yếu chỉ tập trung vào các môn Toán, Văn, Anh văn. Ngoài
ra những bộ môn tự nhiên như Vật lý, Hoá học nếu đủ số lượng thì thành lập lớp
phụ đạo. Sau khi có kết quả học kỳ I, những học sinh nào tiến bộ được xếp loại
trung bình thì không phải đi học phụ đạo. Những học sinh nào có kết quả học lực
yếu được tham gia học lớp phụ đạo.
- Các tổ chuyên môn phân công giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt huyết với

- Giáo viên bộ môn soạn bài tập và phô tô cho học sinh trước khi đến lớp.
- Giáo viên chủ nhiệm mời phụ huynh có con học yếu đến thông báo kế
hoạch, trao đổi cách quản lý của nhà trường cũng như cách quản lý của phụ huynh
và thường xuyên nhắc nhở, động viên học sinh đi học. Vận động phụ huynh tham
gia tin nhắn VNPT để quản lý học sinh.
- Quản sinh kiểm tra sỉ số hằng ngày và báo về gia đình kịp thời qua tin nhắn
của VNPT.
- Người phụ trách máy phô tô có trách nhiệm phô tô bài tập kịp thời.
Phụ đạo học sinh yếu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà
trường nói chung và của mỗi thành viên trong hội đồng sư phạm nói riêng. Vì vậy
đề nghị các thành viên được phân công phải làm việc đầy trách nhiệm và đạt kết
quả cao.
Trên đây là kế hoạch phụ đạo học sinh yếu của trường THPT Võ Trường
Toản năm học 2014-2015. Trong quá trình thực hiện nếu có những vứng mắc nảy
sinh, đề nghị quý thầy cô báo cáo kịp thời cho Ban giám hiệu để cùng giải quyết./.
Nơi nhận:
-

Ban giám hiệu;
Tổ trưởng, CĐ, ĐTN, TTND;
GVCN, GV bộ môn, Quản sinh;
Niêm yết bảng tin;
Lưu: VT.

HIỆU TRƯỞNG

Phan Duy Khánh

21


(nếu có).
- Giáo viên được phân công bồi dưỡng cần có kế hoạch giảng dạy, kí sổ đầu bài,
bài soạn, sách tham khảo, đảm bảo chất lượng dạy và học.
- Giáo viên và học sinh thực hiện nghiêm túc, thống nhất kế hoạch đã được xây
dựng.
II. NỘI DUNG
1. Đối tượng tham gia tham gia đội tuyển học sinh giỏi
- Lớp10: điều tra những học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi lớp 9 và bổ
sung những học sinh có năng khiếu mà giáo viên phát hiện trong quá trình giảng
dạy.
22


- Khối 11và 12: tập trung những học sinh được bồi dưỡng năm học lớp 10, 11
và bổ sung những học sinh có năng khiếu mới được phát hiện. Học sinh có xếp loại
học lực và hạnh kiểm từ khá trở lên theo kết quả cuối năm học 2013-2014.
2. Thời gian thi và thời gian bồi dưỡng
a) Thời gian thi
- Khối 12: vào ngày 06/02/2015.
- Khối 10: vào ngày 03/04/2015.
b) Thời gian bồi dưỡng
- Khối 12: vào tháng 8 năm 2014.
- Khối 10: vào tháng 10 năm 2014.
3. Kinh phí và khen thưởng
a) Đối với học sinh
- Học sinh tham gia bồi dưỡng không đóng lệ phí trong thời gian tham gia
bồi dưỡng và trong quá trình đi thi.
- Học sinh thi có giải từ khuyến khích trở lên được khen thưởng vào dịp sơ
kết hoặc tổng kết năm học và được đi tham quan du lịch.
b) Đối với giáo viên

đội tuyển cho những năm sau (đối với khối 10 và 11);
+ Có kế hoạch giảng dạy, bài soạn, thực hiện sổ đầu bài, cung cấp tài liệu
tham khảo cho học sinh, đảm bảo chất lượng dạy và học.
- Giáo viên chủ nhiệm: động viên, đôn đốc học sinh tham gia ôn tập nghiêm
túc, thường xuyên nhắc về nề nếp, thái độ học tập của các em.
Các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên được phân công, giáo viên chủ nhiệm và
học sinh thực hiện nghiêm túc kế hoạch này. Trong quá trình thực hiện, nếu có
vướng mắc hoặc đề xuất, liên hệ với ban giám hiệu nhà trường để được xem xét,
giải quyết kịp thời./.
Duyệt của Hiệu trưởng
P. HIỆU TRƯỞNG

Phan Duy Khánh

Nguyễn Đức Bảng

Nơi nhận:
- BGH;
- TT, CĐ; TTr;
- Niêm yết bảng tin;
- Lưu: VT.

NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Phan Duy Khánh

24



Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
-Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn

-Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học,
đúng đắn 
-Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở
đơn vị mình, nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status