Tự sự lịch sử trong tiểu thuyết sông côn mùa lũ của nguyễn mộng giác (LV01652) - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI II

TRẦN ĐÌNH TAM

TỰ SỰ LỊCH SỬ QUA TIỂU THUYẾT
SÔNG CÔN MÙA LŨ CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC

Chuyên ngành: Lí Luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KHOA NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:TS. Lê Trà My

Hà Nội 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm
bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy
đủ theo quy định. Những kết luận mới về khoa học của luận
văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa
học nào.

TÁC GIẢ
TRẦN ĐÌNH TAM


MỤC LỤC

cứu . Có thể kể ra đây các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử như: Vằng vặc Sao
Khuê (Hoàng Công Khanh), Đất trời,Gió lửa (Nam Dao), Giàn thiêu (Võ Thị
Hảo), Mảnh trăng Tô Lịch (Siêu Hải), Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư), Hồ
Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)…và không thể không nhắc đến Sông Côn mùa
lũ của Nguyễn Mộng Giác.
Mỗi tác giả có một lối viết, một phong cách, một kĩ thuật tự sự khác
nhau nhưng tựu chung họ đều hướng tới cái đích thể hiện lịch sử dân tộc
thông qua thể tài tiểu thuyết lịch sử. Mặc dù quan niệm về tiểu thuyết lịch sử
đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, nhiều quan niệm khác nhau, nó chưa có sự
thống nhất nhưng ở lối viết nào, phong cách nào, ý định, mục tiêu nào thì tất
cả các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đều có một điểm chung là có chứa yếu tố
lịch sử từ sử liệu. Hàm lượng của yếu tố lịch sử trong mỗi tác phẩm ít hay
nhiều, nó được tạo dựng như thế nào? Điều đó phụ thuộc vào tư tưởng, khả
năng và kỹ thuật diễn ngôn, kỹ thuật tự sự của mỗi nhà văn. Đọc Tây Sơn bi
hùng truyện (Lê Đình Danh) ta thấy được sự tái hiện cả một giai đoạn bi hùng


2
đầy thăng trầm của lịch sử dân tộc, thấy được tên tuổi của những con người
đã được lịch sử ghi danh như Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Trần
Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…thấy được các trận đánh, các sự kiện, các dấu
mốc lịch sử được khắc hoạ khá rõ nét. Lê Đình Danh có xu hướng để người
đọc có ấn tượng về các sự kiện lịch sử vượt trội lên hẳn ấn tượng về sự kiện
lịch sử, về con người.
Trái lại đọc Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư) ta lại thấy tác giả có ý
tập trung khắc hoạ yếu tố con người nhiều hơn yếu tố yếu tố sự kiện. Ở Đô
đốc Bùi Thị Xuân tác giả đã đi sâu khắc họa vẻ đẹp bi tráng của nữ tướng tài
danh trong triều đại Tây Sơn. Cuộc đời của nữ tướng gắn liền với những võ
công oanh liệt, là người trợ thủ đắc lực của Quang Trung, bà cùng Quang
Trung đánh dẹp nội phản, ngoại xâm thống nhất đất nước. Ngay cả khi Quang

tuyến nhân vật, nghệ thuật tự sự, ngôn ngữ thể hiện và hình thức, cách thức
diễn ngôn cho tác phẩm của mình.
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề tự sự lịch sử trong
tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử là một thể tài văn học mang tính đặc thù với những
quy luật sáng tạo riêng của nó, một thể loại văn học mà người viết vừa phải
dựa vào những điều đã xảy ra trong quá khứ và được ghi chép lại từ những
người thuộc chuyên ngành khác (lịch sử) vừa phải tìm hiểu, sáng tạo và vận
dụng tố chất văn chương của mình để sáng tác. Tác giả tiểu thuyết lịch sử vừa
phải làm thế nào để tác phẩm của họ vừa chứa đựng yếu tố lịch sử có trong sử
liệu vừa phải đảm bảo tính nghệ thuật và có đủ màu sắc văn chương của tiểu
thuyết, vừa tái hiện khơi gợi được không khí thời đại trong quá khứ lại vừa
soi rọi được các vấn đề cho hiện tại giúp cho độc giả nói chung và các nhà


4
nghiên cứu nói riêng thấy được sự sáng tạo cụ thể của tư duy lịch sử.
Văn học Việt Nam đương đại nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng,
đã và đang đứng trước xu hướng đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Hàng loạt
các tác giả đã thay đổi lối tư duy trong sáng tác của mình và họ đã đạt được
rất nhiều thành công trong việc miêu tả và tái hiện thế giới đời sống, đặc biệt
là đời sống lịch sử trong quá khứ. Với cách nhìn đa diện, đa chiều, do ảnh
hưởng và tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại nên các tác giả tiểu thuyết lịch
sử cũng có những thay đổi quan niệm về nghệ thuật, hình thức diễn ngôn, kỹ
thuật tự sự trong sáng tác của mình. Các tác giả tiểu thuyết lịch sử đã làm
phong phú sinh động cả về nội dung và hình thức các tác phẩm, việc cách tân
lối viết, lối tư duy như khoác cho thể loại này một tấm áo mới với đầy đủ màu

“Ngòi bút tái hiện lịch sử của Hà Ân trong tiểu thuyết Người Thăng Long”
(Nguyễn Phương Chi), bài “Đến với Nguyễn Trãi qua Vằng vặc Sao Khuê”
(Trần Cư), bài “Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho văn học nước nhà”
(Trung Trung Đỉnh), Bài “Hồ Quý Ly cách tân hay bạo chúa” (Đỗ Ngọc
Hà), bài “Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly” (Hồ Anh Thái)…vv.
Nói chung dù được khai thác, tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh
khác nhau, mặc dù đã chỉ ra ít nhiều quy luật sáng tạo, sự vận động của tư duy
tự sự lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử, chỉ ra những đóng góp đáng ghi nhận
của thể loại tiểu thuyết lịch sử cho nền văn học nước nhà nhưng đến nay vẫn
chưa có một công trình chuyên biệt, triệt để nào nghiên cứu toàn diện thấu
đáo về thể loại tiểu thuyết lịch sử. Ở đâu đó trên cánh đồng tiểu thuyết lịch sử
này vẫn còn những “thửa ruộng hoang” cần đến bàn tay, khối óc của thế hệ kế
cận cày xới, chăm sóc và tiếp tục khai hoá.
2.2. Các công trình đã nghiên cứu về bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ
Từ khi bộ tiểu thuyết xuất hiện trên văn đàn sau một thời gian chờ đợi
sự phản hồi từ công chúng và giới chuyên môn thì cuối cùng vào những năm
đầu của thế kỷ XXI bộ tiểu thuyết và tác giả của nó đã bắt đầu nhận được
những ý kiến phản hồi có giá trị. Và cũng bắt đầu từ đó các nhận xét đánh giá
của cả độc giả, của giới chuyên môn đã lần lượt xuất hiện. Có thể kể đến


6
những công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến bộ tiểu thuyết này như:
Chuyên luận “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945” của tiến sĩ Nguyễn
Thị Tuyết Minh (NXB Công an nhân dân 2012), các bài nghiên cứu: “Suy
nghĩ về tiểu thuyết lịch sử”, (25/10/2012- Diễn đàn Gác nhỏ cho người yêu
sách) của giáo sư Trần Đình Sử. Một số công trình trực tiếp nghiên cứu về bộ
tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ như: “Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng
Giác: Sự khám phá nhân cách văn hoá Việt” của (Đỗ Minh Tuấn,
13/07/2012, Văn hoá Nghệ An); công trình “Tiểu thuyết lịch sử nhân đọc

cao”. “Tôi ít đọc được trong tiểu thuyết mình một nhân vật nữ nào quyến rũ,
thương mến, Việt Nam như An” “ tác giả đã gởi An vào rất nhiều những thể
nghiệm, những suy tưởng…về con người phụ nữ Việt Nam - người gánh lịch
sử đất nước…chồng con trên đôi vai bé nhỏ yếu đuối của mình” … “Càng
đọc tôi càng bị cuốn hút”… “Sông Côn mùa lũ là một nỗ lực tổng hợp với
một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và về lịch sử”. (Tết Quý Mùi 2003-trong
Lời giới thiệu của tập tiểu thuyết) [12].
Xuất phát từ một người yêu lịch sử dân tộc, tự hào về lịch sử dân tộc,
là người am hiểu lịch sử và văn hoá dân tộc, Mai Quốc Liên xót xa khi lịch sử
của dân tộc trong con người Việt nam ngày bị lãng quên, bị xem nhẹ, bị bỏ
rơi. Ông cảm thấy việc bỏ mặc lịch sử tổ tiên, lịch sử dân tộc, việc hành động
khiêm tốn, nhút nhát, rụt rè không xứng đáng với lịch sử, với những gì cha
ông ta đã làm khi trước. Ông “quí cuốn tiểu thuyết này” (Sông Côn mùa lũ)
và ghi nhận: “một tác phẩm văn học rất cần có trong hành trang văn hoá của
mỗi con người Việt Nam chúng ta ngày nay”…Cuốn sách có ý nghĩa thức dậy
“tình cảm cội nguồn với quê hương, đất nước, tổ tiên…”
Nguyến Vi Khanh trong bài viết “Về tiểu thuyết lịch sử” (18/09/2002) đã
nhận xét về Sông Côn mùa lũ và Gió lửa của Nam Dao là: “có cố gắng nghệ
thuật và các tác giả đều có liên hệ đến những trôi nổi của các biến cố và chế độ
trong bốn, năm thập niên qua”. Tác giả còn nhắc đến mặt mạnh của Sông Côn
mùa lũ đó là Nguyễn Mộng Giác đã thành công trong việc xây dựng nhân vật
Nguyễn Huệ. Theo Nguyễn Vi Khanh “Sông Côn mùa lũ đại diện cho khuynh
hướng tiểu thuyết lịch sử muốn trình bày trung thực một thời đại bằng cách tiểu


8
thuyết hoá những tình tiết, những thái độ, trình độ tri thức, tâm tính, với những
nhân vật có thật bên cạnh vài nhân vật tiểu thuyết có thể có thật, như một giả
thuyết, một thể nghiệm văn chương cho đề tài lịch sử đã chọn”.
Nguyễn Hưng Quốc trong bài “Phê bình phê bình” (30/04/2001) có

vật của Nguyễn Mộng Giác trong tác phẩm của mình rằng: tác giả đã thay đổi
điểm nhìn, cách nhìn về nhân vật, nhân vật đã được “phóng tác trên hai bình
diện tâm lý và hành động”, “nhân vật không minh hoạ cho một khái niệm có
sẵn mà là một con người “đa tính cách, sống đích thực”. Một Nguyễn Huệ
được “thoát thai từ lịch sử” nhưng “bình dị trong đời thường”, một Nguyễn
Huệ rất “anh hùng mà không khô cứng, đơn giản mà là con người có những
suy tưởng, trăn trở đầy trí tuệ, vượt nên khỏi giới hạn “khởi nghĩa nông dân”
để trở thành người anh hùng dân tộc chân chính” [33].
Ngoài những thành công trong việc xây dựng nhân vật chính - Nguyễn
Huệ - thì Nguyễn Mộng Giác cũng mang đến cho người đọc những nét mới
mẻ trong việc xây dựng các nhân vật khác như: Nhân vật giáo Hiến -nho sĩ trí
thức thời loạn- một giáo Hiến hiểu mình, hiểu người, không rũ áo quay lưng
về với thú lâm tuyền mà sẵn sàng nhập cuộc vào bàn nhân thế sự. Hay các
nhân vật An, Thọ Hương, Ngọc Hân -những người phụ nữ trong xã hội phong
kiến- họ trở thành những nạn nhân thương tâm nhất, bị cơn bão thời đại cuốn
đi, bị ném vào vòng lửa chính trị, vòng xoáy của uy quyền và ma lực cám dỗ
của nó đã lôi kéo những người thân thiết của họ lao vào. Số phận và nỗi niềm
có họ hiện lên thật ám ảnh, da diết. Họ phải chứng kiến những toan tính,
những thành, bại, nhục, vinh của những con người mang trong mình giấc
mộng quyền lực.vv…
Mặc dù tác giả các công trình nghiên cứu, khai thác tác phẩm ở các
khía cạnh khác nhau nhưng nói một cách khách quan ta cũng thấy được sức
lan toả và sự tác động nhất định của tác phẩm đã ít nhiều chiếm được cảm
tình và sự quan tâm của độc giả và của giới chuyên môn. Sự xuất hiện của
Sông Côn mùa lũ như một ngôi sao mới lấp lánh góp phần toả ánh hào quang


10
trên bầu trời tiểu thuyết lịch sử của văn học nước nhà, sức ảnh hưởng của bộ
tiểu thuyết vẫn là mảnh đất màu mỡ còn nhiều điểm cho các nhà nghiên cứu,

sử. Tiểu thuyết lịch sử là lịch sử được “viết lại”, là hình thức diễn ngôn về
lịch sử. Nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thực chất là thông qua tự sự lịch sử để
đưa ra những khả năng của lịch sử. Do đó tiểu thuyết lịch sử không phải là sử
liệu, không nên đối sánh một cách máy móc các hình tượng văn học trong tiểu
thuyết lịch sử với sử liệu.


12
Chƣơng 1
VẤN ĐỀ TỰ SỰ LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ
1.1. TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ TƢ DUY VỀ NHỮNG CÁI KHẢ NHIÊN
CỦA LỊCH SỬ

1.1.1. Quan điểm về tiểu thuyết lịch sử
Trong học thuật nghiên cứu văn hoá nói chung và văn hoá dân gian nói
riêng giai đoạn gần đây đều có sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ. Qua hai
cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, nghiên cứu văn hoá dân tộc thể hiện ở
lĩnh vực văn học các tác giả chủ yếu quan tâm các vấn đề chính trị, thế giới
quan lập trường giai cấp. Hiện nay, trong giai đoạn hoà bình, hội nhập quốc
tế, kinh tế thị trường, văn hoá xuống cấp, vấn đề văn hoá trở nên nổi bật, gay
gắt.
Trước đây ta cũng viết tiểu thuyết lịch sử nhưng đó là loại tiểu thuyết
lịch sử cách mạng, lối viết phục vụ chính trị, viết về các tấm gương tranh đấu
của các lãnh tụ thời trẻ, các chiến dịch, các cuộc khởi nghĩa… trong đó các sự
kiện lịch sử diễn ra theo lối lập nhị nguyên, quy luật đấu tranh giai cấp, địch
ta, tiến bộ, phản động, nông dân với địa chủ, vô sản với tư sản, yêu nước và
bán nước, ta thường tốt địch thường xấu, ta thắng địch thua, ta tổn thất ít, địch
tổn thất nhiều, chủ yếu là ca ngợi chiến thắng, tạo thành những cuốn tiểu
thuyết lịch sử phục vụ chính trị theo quan điểm chính đảng. Loại tiểu thuyết
này thường có tính hư cấu tô hồng, điểm nhìn ý thức hệ, diễn ngôn chính trị

gồm sáu nghĩa: một là chuyện kể, hai là chuyện đã qua, ba là quá trình phát
triển, bốn là đời sống con người trong xã hội, năm là quá khứ của hiện tại đã
lùi xa, sáu là khoa học lịch sử và sử học. Qua sáu nghĩa đó thì vấn đề đặt ra là
quan hệ giữa tiểu thuyết và lịch sử hay nói cách khác là văn học và sử học.
Cũng qua mối quan hệ đó ta thấy tiểu thuyết và lịch sử có điểm chung giống
nhau đó là cả hai đều là chuyện kể. Đối tượng chung của cả hai đều là cuộc
sống con người đã lùi xa về quá khứ trong đó có sự thật lịch sử. Lukacs -nhà


14
Mac xit học Hunggari- từng nói: “tiểu thuyết lịch sử không chỉ phải đảm bảo
được “không khí lịch sử trong việc miêu tả hoàn cảnh”, mà quan trọng hơn là
“miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kỳ lịch sử cụ thể” [9]. Điều
quan trọng ở đây là không khí lịch sử của hoàn cảnh và trung thực với một
thời kỳ lịch sử cụ thể. Không thể làm thay đổi những thứ đó. Mỗi thời kỳ có
một không gian, thời gian xác định, sự kiện, tin đồn, huyền thoại, mối lo,
niềm vui, cung cách, tập quán, trang phục, lối nói..không lẫn với các thời kỳ
khác. Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của
một thời kỳ lịch sử cụ thể không lặp lại đó. Người đọc, hậu thế tin vào lịch sử
thực chất là tin vào sự ghi chép của văn bản, tin vào một kiểu diễn ngôn, lịch
sử khách quan vẫn có nhưng trước mắt ta chỉ có văn bản mà thôi. Sách sử chỉ
là một cách ghi, một điểm nhìn , một lối tu từ, chỉ nhìn một phía, không phải
là bản thân lịch sử hoàn chỉnh với toàn bộ giá trị của nó, do đó việc đi tìm sự
thật lịch sử là công việc của nhiều người trong đó có nhà văn. Các hình thức,
phương thức diễn đạt và sự thật lịch sử suy cho cùng cũng chỉ là thể hiện xử
sự bằng hình thức “diễn ngôn tự sự”. Với tiểu thuyết lịch sử sự thật trong đó
vẫn không phải là “sự thật” lịch sử. Vì thế mà tiểu thuyết lịch sử (kể cả kịch
lịch sử) trở thành nhu cầu của mọi xã hội để làm sống lại quá khứ.
Nhu cầu tiểu thuyết lịch sử trước hết là nhu cầu diễn ngôn, nhu cầu đối
thoại, phản biện lại với lịch sử, nhu cầu đi tìm lại những khả năng đã mất

xuất hiện…nó đánh thức sự kinh ngạc của ta bằng cách cho ta thấy những vật
quen thuộc qua những bình diện khác lạ. Cần nghiên cứu triết học nhưng
không phải đưa ra những câu trả lời xác định đối với câu hỏi vì thông thường
không có câu trả lời xác định nào có thể được coi là chân lý mà là vì bản thân
các câu hỏi, bởi các câu hỏi đó mở rộng các quan niệm của ta về những gì có
thể có, chúng làm phong phú sức tưởng tượng trí tuệ của ta”. Qua đó ta thấy lí
giải của triết học cũng hoàn toàn tương đồng phù hợp với bản chất của văn
học. Ta có thể nói những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng hiểu
biết về cuộc sống, giải thoát con người khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn


16
bề ngoài, kích thích mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời.
Nhìn nhận văn học từ phạm trù khả nhiên giúp chúng ta có cơ sở để
nhận hiểu chức năng nhận thức đặc thù của nó, nhìn thấy cơ chế bên trong của
sự phản ánh thẩm mỹ và do đó có cơ sở đánh giá đúng đắn đối với văn học.
Tất nhiên văn học không chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực, làm như
thế văn học sẽ chẳng khác gì tương lai học, xã hội học, chính trị học…Ta đều
biết tư duy chẳng phải là cái gì khác mà là hành động xuyên qua hiện thực để
tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó. Đặc điểm của văn học còn là sáng
tạo những cái khả nhiên của đời sống. Trong văn học cái khả năng đã trở
thành cái khả nhiên do nhà văn sáng tạo dưới dạng hình tượng nghệ thuật,
mọi hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung trong đó bao
hợp cả tiểu thuyết lịch sử đều có chứa khả năng này mà ta gọi đó là hư cấu
[42]. Với vai trò vừa là nhà văn vừa là nhà nghiên cứu, nhà luân chuyển tri
thức sử học các tác giả của tiểu thuyết lịch sử vừa tôn trọng, trung thành sử
liệu vừa thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình đó là đưa sử liệu đến với công
chúng bằng hình thức văn học. Bằng cách này hay cách khác hầu hết các tác
giả đều có có trong mình những tư duy nghệ thuật đáp ứng những yêu cầu
nghiêm ngặt của thể loại, họ đã vận dụng sử liệu một cách chủ động, kết hợp

diễn đạt mà là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu
hiện thành diễn ngôn…vv
Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ,
là gọi tên các sự vật hiện tượng, là thực tiễn giao tiếp, diễn ngôn không phải
đi tìm bản thế thế giới, là vật chất hay tinh thần, là cấu tạo ngũ hành hay
nguyên tử. Diễn ngôn cũng không phải tiếp cận thế giới theo lối nhận thức
luận, xem con người có khả năng nhận thức chân lý như thế nào. Chức năng
của nó là kiến tạo sự thật, chân lý theo các quy tắc, cơ chế của nó ví như thẩm
quyền của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp của chiến lược, của
trật tự nhất định. Dựa vào quyền lực đó diễn ngôn có thể vẽ ra một bức tranh
rất xấu, rất đen tối về một đối tượng. Đồng thời nó cũng có thể vẽ ra một bức


18
tranh tươi sáng về đối tượng khác.
Diễn ngôn còn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện
trong văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các
văn bản. Là hiện tượng trong xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính
thống nhất, tính hệ thống. Nó gắn liền với ý thức hệ xã hội người ta có thể
dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn như diễn ngôn vô sản, tư sản, diễn ngôn
Macxit, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại…vv [47].
Chúng ta đã biết lịch sử là những gì đã qua, đã diễn ra trong quá và nó
là bài học cho thế hệ đi sau học tập. Tiếp xúc với lịch sử không chỉ là sự
chiêm bái, ngưỡng vọng một cách đơn thuần mà phải xem lịch sử như là một
phương tiện tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc.
Tiểu thuyết lịch sử không chỉ đem đến cho độc giả những tri thức lịch sử bằng
những số liệu khô cứng, những thắng lợi vinh quang hay thất bại đơn thuần.
Tiểu thuyết lịch sử mang đến cho độc giả những tri thức sử học bằng con
đường tình cảm, độc giả tiếp nhận lịch sử như tiếp xúc với một con người
hiện hữu, gần gũi, tiếp nhận bằng nhiều cung bậc cảm xúc: hỉ, nộ, ái, ố, bi, ai,

chia diễn ngôn thành các loại diễn ngôn kỳ ảo, diễn ngôn tính dục, diễn ngôn
con người, diễn ngôn phủ thuật, diễn ngôn hiện thực, hậu hiện thực. Dựa vào
thể loại mà tác giả có thể chia ra thành diễn ngôn báo chí, diễn ngôn tin tức,
diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, tường thuật. Dựa vào cấp
độ mà có thể chia ra diễn ngôn và siêu diễn ngôn. Dựa vào cấu trúc mà tác giả
xác định đó là diễn độc lập thể hay diễn ngôn phụ thuộc, diễn ngôn nguồn,
diễn ngôn phụ trợ, diễn ngôn bao chứa, diễn ngôn người kể chuyện hay diễn
ngôn của nhân vật, diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn…vv
Đối với diễn ngôn trong văn học đặc biệt là diễn ngôn tiểu thuyết tác
giả chỉ ra những đặc tính đặc thù của nó. Theo tác giả diễn ngôn trong văn
học tạo ra tri thức và quyền lực. Diễn ngôn văn học có tính lịch sử, cách nhìn
về thế giới của nó do nó tạo ra sự biến đổi theo thời gian, nó mang trong mình
tính quy chiếu, mô phỏng hành vi ngôn ngữ có thực, có tính hư cấu nhưng vẫn
cung cấp cho chúng ta một tri thức về hiện thực con người, môi trường trong


20
đó có con người tồn tại [20].
Qua đó khi tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử độc giả không chỉ biết kết quả
của mỗi sự kiện lịch sử, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch, thành tích, công lao,
tài năng của mỗi nhân vật lịch sử. Đọc, nghe tiểu thuyết lịch sử độc giả còn
thấy cả bối cảnh xã hội, xu hướng của xã hội trong lịch sử, phong tục, tập
quán của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đó. Chẳng hạn khi ta đọc các tác
phẩm văn học:Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngô Gia Văn Phái), Hội Thề
(Nguyễn Quang Thân), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), ta sẽ dễ dàng hình
dung các sự kiện lịch sử ấy như đang xem một cuốn phim, thấy các nhân vật
lịch sử đó hiện ra như một con người bằng xương bằng thịt gần gũi hiện hữu
chứ không hề xa vời, lạ lẫm như ta đã nghe, đã gặp họ trong khoa học Lịch sử.
Như vậy tiểu thuyết lịch sử đã bằng tình cảm của người sáng tác đã xúc
cảm hoá những dữ liệu lịch sử để truyền lịch sử đến bạn đọc một cách hiệu

bậc tình cảm khác nhau. Hơn nữa trong lịch sử Việt Nam, triều đại Tây Sơn là
một giai đoạn lịch sử hào hùng, một mốc son chói lọi trong sử sách với ánh
hào quang là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, sau là hoàng đế Quang
Trung cùng với các sự kiện trọng đại bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn, ba
lần ra Bắc diệt vương tôn, đánh tan kẻ thù xâm lược Xiêm và kì diệu nhất là
trận đại phá quân Thanh… những chiến thắng đó không thể không nhắc đến
các danh tướng kiên trung, hào kiệt dưới trướng vị lãnh tụ tài ba.
Như vậy bằng khả năng diễn ngôn theo lối nhận thức xã hội, với tư duy
đổi mới về diễn ngôn lịch sử và bằng khả năng sáng tạo của mình Nguyễn
Mộng Giác đã làm cho câu chuyện triều đại Tây Sơn đã trở thành đề tài hấp
dẫn cho các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình và lớp thế hệ đi sau tiếp nhận,
khai thác.
1.3. SÔNG CÔN MÙA LŨ VÀ DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI

1.3.1. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đƣơng đại
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ khi xuất hiện cho đến nay có thể chia


22
ra làm hai giai đoạn chính là trước và sau 1945. Ở giai đoạn trước 1945 các
nhà tiểu thuyết lịch sử thường có xu hướng dùng lịch sử để khơi gợi, liên hệ
với những vấn đề hiện tại thông qua việc ca ngợi những cuộc kháng chiến
chống xâm lược, tôn vinh những vị anh hùng cứu quốc mà đánh thức tinh
thần dân tộc của thanh niên hoặc cảnh cáo bè lũ bán nước và cướp nước. Ở
giai đoạn này các tác giả tiểu thuyết lịch sử có khuynh hướng muốn dùng vinh
quang lịch sử của dân tộc để thức tỉnh con người trong đó có một bộ phận
sống cầu an hoặc bị thực dân mua chuộc, đánh lạc hướng. Điển hình như cuốn
Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu). Mặc dù mới chỉ được xem như là một
cuốn tiểu thuyết luận đề hơn là cuốn tiểu thuyết lịch sử nhưng ở hoàn cảnh đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status