QUẢN LÍ LỚP HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỈ LUẬT TÍCH CỰC
QUẢN LÍ LỚP HỌC
Khởi động: Câu chuyện của em Thanh
- Buổi sáng, Thanh dậy sớm quét nhà và rửa mặt cho cậu em trai
trước khi sửa soạn đến trường. Cậu em phàn nàn nước quá lạnh, nó cáu có
nhìn Thanh. Thanh đi xuống bếp lấy cháo cho cậu em và mình ăn sáng. Khi
cô bé đi ngang qua, cậu em trai nói:
-“Chị phát phì ra từ lúc nào thế nhỉ? Trông bộ đồng phục của chị sắp
nứt ra rồi kìa? Nhìn chị thật đáng xấu hổ trong bộ đồng phục vừa cũ vừa
chật ấy”.
Thanh giật mạnh gấu áo của mình và nhìn xuống. Cùng lúc ấy bà mẹ đi vào
trong bếp. Thanh chào mẹ nhưng mẹ càu nhàu, mắng em:
“Sao? Giờ vẫn còn ở đây à? Đồ lười biếng. Mày đáng ra phải đi học từ lúc
nãy mới phải.
Mày sẽ muộn học thôi con ạ. Tại sao mày không tỏ ra có ý thức hơn?”
Thanh quyết định bỏ bát cháo và chạy ra khỏi nhà.
Cô bé càng chậm trễ hơn vì phải đợi xe khá lâu. Cô quên rằng hôm nay là
thứ sáu, lại là cuối tháng nên tất cả mọi người đều cố lên xe. Cuối cùng cô
cũng lên được xe và cố len vào hàng ghế giữa, cô va phải một người phụ
nữ.
Người phụ nữ liếc nhìn cô và nói với người bạn của mình:
- “Sao lại có đứa con gái vụng về thế nhỉ?”
Thanh giả bộ không nghe thấy gì..
Sau khi xuống xe cô bé chạy từ bến xe vô lớp. Giáo viên phá lên cười khi cô
bước vào và nói:
“Cuối cùng thì chị cũng đến lớp đấy à?Tưởng có việc khác quan trọng hơn
rồi?
Nhưng thôi, biết quy định của tôi rồi đấy, đã đi muộn rồi thì khỏi phải vào làm
gì cho phiền. Đợi ở bên ngoài cho đến cuối buổi học”.
Mỗi khi ai đó bị tổn thương, dù là nhỏ nhất, thì trong lòng người đó vẫn
còn những rạn nứt không thể nào xóa bỏ được. Do đó cần hạn chế tối thiểu
Nêu những khó khăn khi bắt đầu thay đổi quan điểm nhận thức về giáo
dục kỉ luật trẻ em cuả bản thân.
*Kết luận:
- Những khó khăn chính trong việc thay đổi quan điểm, nhận thức về GDKL
đó là :
- Quan điểm xã hội còn tồn tại về giáo dục kỉ luật .
- Khó thay đổi thói quen của cá nhân .
- Việc thực thi luật pháp còn chưa nghiêm , các biện pháp chế tài còn chưa
đầy đủ và cụ thể .
- Ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu ở địa phương .
- Tác động tiêu cực của xã hội .
- Áp lực công việc của giáo viên.
Tóm lại:
- Thay đổi một nếp nghĩ hay một thói quen đã tồn tại nhiều năm không phải
là điều dễ dàng.
- Thay đổi cả một quan điểm đã ăn sâu vào tiềm thức lại càng cần phải có
những biện pháp hiệu quả, có sự hợp tác cuả nhiều người và cần có một
thời gian nhất định. Vì vậy mỗi người cần phải chuẩn bị cho mình một tâm
thế tự tin để thay đổi.
IV. Những việc cần làm để chuẩn bị cho sự thay đổi quan điểm nhận thức về
giáo dục kỉ luật trẻ em.
*. Dựa vào những khó khăn đã nêu ở kết luận III; theo các thầy ( cô ) chúng
ta cần làm gì để thay đổi nhận thức cho giáo viên ?
* Một số gợi ý để bắt đầu cho sự thay đổi:
1. Giáo viên:·
- Suy nghĩ sâu sắc về nghề dạy học , khơi gợi lòng yêu thích công việc của
mình và yêu thương học sinh.
- Dành thời gian để suy nghĩ về bản thân, về cách đối xử với học sinh, rút ra
3)
Tăng cường sự tham gia của trẻ.
4)
Tổ chức các hoạt động xây dựng tập thể lớp
1: NHÓM BIỆN PHÁP THAY ĐỔI CÁCH CƯ XỬ TRONG LỚP
1. Chia sẻ hộp thư vui.
*Ý nghĩa:
-
Giúp cho Hs hướng tới những điều lạc quan tích cực trong cuộc sống
ngay cả khi gặp khó khăn, chán nản.
- Tạo điều kiện cho những hs ngại giao tiếp trước đám đông cũng có
thể bày tỏ ý kiến của mình qua hộp thư vui.
- Lưu ý: Biết ghi nhận điểm tốt cuả bạn thay vì chỉ nhìn thấy những
điểm chưa tốt cuả bạn.
2/ Phiếu khen:
*Ý nghĩa:
- Việc khen ngợi, động viên đặc biệt quan trọng đối với HS cá biệt hay HS có
những hành vi vô kỉ luật trong lớp.Không bỏ qua bắt kì một cử chỉ đáng khen
nào. Tìm mọi cơ hội để khen ngợi HS.
Lưu ý:- Động viên khi trẻ có hành vi tích cực dù chỉ là 1 hành vi nhỏ;
- Không nên lạm dụng phiếu khen à mất tác dụng.
3/ Gửi thư khen về nhà :
Ý nghĩa:
- Giúp học sinh thấy tự tin
- Giúp cho HS tính tự lập, có trách nhiệm với công việc được giao, tạo sự
gần gũi thân thiện của HS với giáo viên CMHS & GV.
*Ý nghĩa của nhómGDKLthay đổi cách cư xử trong lớp:
- Lưu ý cần tranh đối đầu với học sinh, cần lắng nghe trẻ, tránh “lên lớp”
hoặc chỉ trích trước khi tìm hiểu nguyên nhân, tránh hạ nhục trẻ.
1. Tổ chức trò chơi công nhận đặc điểm tốt của trẻ.
*Ý nghĩa:
- Giúp HS tăng thêm lòng tự tin với bản thân và khuyến khích các em nhìn
nhận những mặt tích cực của các bạn khác
- Cảm giác được thừa nhận và khen thưởng trong một tập thể ( Ở bất cứ
hình thức nào) đều có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ và cách xử
sự của HS.
2. Tổ chức điều tra:
*Ý nghĩa:
- Hoạt động này tạo cơ hội cho HS có bày tỏ mức độ những nhu cầu của
các em được đáp ứng và giúp GV hiểu hơn về HS của mình.
3. Đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.
-Chia sẻ một tình huống cụ thể.
-Nguyên nhân dẫn đến nỗi buồn, niềm vui (khách quan, chủ quan)
-Chia sẻ mục đích hoạt động.
Kết luận :
ü
Khi xem xét một vấn đề à xét đến nhiều khía cạnh ( cả yếu tố khách
quan, chủ quan), đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để xem xét sự
việc à giải quyết.
ü
Thấy được trách nhiệm của mình .
ü
Giúp trẻ biết lắng nghe, thông cảm,chia sẻ, tôn trọng người khác àcùng
nhau thực hiện tốt hơn những nội quy đề ra.
Lưu ý :
ü
- Nội quy có thể thay đổi theo tuần/tháng (thay thế những nội quy mà HS đã
thực hiện tốt bằng những nội quy lớp thực hiện chưa tốt ).
- Nội quy cần mang tính khả thi (phải đáp ứng được mục tiêu giáo dục).
2. Biện pháp người quan sát:
- Nhóm kỉ luật, nhóm ôn bài, nhóm khởi động...báo cáo trước lớp những
điều quan sát, ghi nhận được trong những ngày học vừa qua (quá trình học
tập, việc thực hiện nội quy, các vấn đề nảy sinh trong lớp … , không nêu cụ
thể 1 cá nhân nào)
- Chia sẻ phản hồi với các nhóm vừa nhận xét.
- Nhóm được cử quan sát à chia sẻ suy nghĩ của mình về những điều có lợi
cho hoạt động học tập trong lớp và những gì gây cản trở cho việc học tập?
làm thế nào để cải thiện được tình hình của lớp học.
*Ý nghĩa:
- Hoạt động này giúp GV phát hiện ra những vấn đề tốt và chưa tốt của lớp
để có hướng điều chỉnh kịp thời.
- Rèn cho HS kỹ năng quan sát, phân tích vấn đề và đưa ra quyết định cuối
cùng.
4: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG TẬP THỂ
LỚP
1. Hình ảnh một lớp học lý tưởng.
-Thực hiện 1 trong các yêu cầu sau:
Vẽ 1 bức tranh hoặc viết những điều mình tưởng tượng về lớp học lý tưởng.
- Điều gì đã ngăn cản chúng ta đạt được những điều nêu trên ?
- Chúng ta cần làm gì để có được một lớp học lý tưởng như vậy ?
* Kết luận :
Ý kiến của HS cũng phải được mọi người tôn trọng ( QTE)
Giúp GV năm bắt được tâm tư nguyện vọng của HS
Tạo thêm mối thân thiện gắn bó giữa GV và học sinh , tạo được sự
cũng hưng phấn, cười tươi vì được giảng viên chia sẻ một hình thức quản
lớp mới.
Một vài ví dụ về phương pháp này. Khi giáo viên muốn học sinh của mình
chú ý, giáo viên sẽ nói “Học sinh” và học sinh sẽ trả lời “Dạ”. Giáo viên cũng
có thể dùng cách chỉnh âm lượng, hạ thấp giọng nói và học sinh sẽ học
theo. Hoặc khi muốn học sinh toàn tâm chú ý tới mình, giáo viên sẽ nói “Tay
và Mắt” lúc đó học sinh sẽ đặt tay gọn gàng lên đầu gối, mắt mở to nhìn giáo
viên.
Những giải pháp mang tính dài hạn giúp phát huy tính kỉ luật tự giác của học sinh.
- Sự thể hiện rõ ràng những mong đợi, quy tắc và giới hạn mà học sinh phải tuân
thủ.
- Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
- Dạy cho học sinh những kĩ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả cuộc đời.
Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học tập và cuộc
sống của các em.
Dạy cho học sinh cách cư xử lịch sự, nhã nhặn, không bạo lực, có sự tôn trọng bản
thân, biết cảm thông và tôn trọng quyền của người khác.
Các hình phạt kỷ luật đang áp dụng trong trường học hiện nay là nhắc nhở, phê
bình, thông báo với gia đình, cảnh cáo ghi học bạ, buộc thôi học có thời hạn.
Hậu quả từ xử phạt không tích cực
Tuy nhiên, theo cô Lương Thanh Hằng - Phó hiệu trưởng Trường THPT Nam Phù Cừ
(tỉnh Hưng Yên), các biện pháp kỷ luật này còn khá “khô cứng” đối với một số học sinh
có biểu hiện chậm tiến về đạo đức.
Không ít giáo viên hiện nay vẫn quan niệm khi học sinh mắc lỗi thì chỉ có cách giáo
dục duy nhất, hiệu quả nhất là trừng phạt. Điều này do hai nguyên nhân: Giáo viên chưa
hiểu được tâm lý lứa tuổi học sinh “trong xã hội mở” hiện nay và coi nhẹ kiến thức, kỹ
năng nghiệp vụ.
Việc trừng phạt thân thể (đánh, véo, kéo tai, giật tóc, quì, úp mặt vào tường...) và trừng
Biện pháp giáo dục kỉ luật bằng hình thức trồng cây có ý nghĩa rất lớn, giúp học sinh
thêm yêu và gắn bó, biết giữ gìn và bảo vệ ngôi trường và lớp học của mình.
Giúp đỡ những gia đình học sinh nghèo vượt khó (trong trường, lớp: Giáo viên tập hợp
danh sách những học sinh vi phạm nội quy như đánh bài, chơi cờ caro, trốn tiết, chơi
điện tử…), huy động những học sinh này đi lao động giúp đỡ những gia đình học sinh
trong trường hoặc lớp có hoàn cảnh khó khăn mà vươn lên trong học tập.
Khó khăn khi thực hiện biện pháp này là cần rất nhiều thời gian, rất khó xác định lao
động những gì để giúp đỡ những gia đình học sinh khó khăn.
Nếu như phân công lao động không hợp lí sẽ lãng phí thời gian mà không mang lại hiệu
quả. Mặt khác, sẽ là bất lợi nếu gia đình học sinh được giúp đỡ ở địa bàn cách xa trường
học.
Để khắc phục những khó khăn này, giáo viên cần liên hệ trước với gia đình học sinh đó,
ngỏ ý giúp đỡ và hỏi thăm trước những công việc mà gia đình đó cần chia sẻ.
Giáo viên phân công lao động và lựa chọn những gia đình học sinh ở không quá xa địa
bàn trường học. Kết quả mà giáo viên hướng tới từ biện pháp giáo dục này là bồi dưỡng
tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách và sự tự ý thức ở học sinh .
Đọc sách: Giáo viên đưa ra hình thức kỉ luật học sinh như đến thư viện của trường tìm
đọc một cuốn sách mà giáo viên giới thiệu. Trong thời gian 1 tuần, học sinh phải đọc và
chia sẻ những điều mà mình đã đọc và học được ở cuốn sách đó trong giờ sinh hoạt lớp.
Có khó khăn khi thực hiện biện pháp này. Đó là khả năng tự đọc, nhận thức của mỗi
học sinh khác nhau. Những học sinh vi phạm phần lớn lười học, không thuộc bài, không
soạn bài, thường xuyên bị điểm kém…có học lực trung bình, yếu kém.
Giáo viên không thể bao quát hết được những cuốn sách có trong thư viện trường để
hướng dẫn và kiểm chứng kết quả đọc của các em. Thêm nữa, không phải học sinh nào
cũng gạt bỏ được sự tự ti để trước lớp giới thiệu một cách trôi chảy về cuốn sách mình
đã đọc.
Giải pháp hạn chế khó khăn để biện pháp giáo dục trở nên hiệu quả hơn là giáo viên
không cầu toàn về kết quả đọc sách của học sinh, cần lựa chọn những cuốn sách tiêu
luật tích cực” trong giáo dục nhân cách học sinh.
Thực trạng tình hình đạo đức học sinh và nguyên nhân:
Đóng trên địa bàn thị trấn, chịu ảnh hưởng lớn từ mặt trái cuộc sống và môi trường xã hội phức tạp với những tác
động tiêu cực, trường THCS Đồng Lê đã gặp không ít khó khăn trong công tác giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đạo
đức cho học sinh. Dẫu không nhiều nhưng vẫn có một số em có biểu hiện như vô lễ với thầy cô, người lớn, tự do thực
hiện hành vi cá nhân : hút thuốc, ức hiếp bạn bè, lôi kéo bạn về phía mình đê thành số đông, mất trật tự trong giờ học
.... đã ảnh hưởng không nhỏ đến nề nếp dạy học, uy tín giáo viên, kỷ cương nhà trường...
Nguyên nhân chính của tình trạng vi phạm đạo đức học sinh là do hoàn cảnh gia đình. Phần lớn các em xuất thân từ
gia đình hoặc nuông chiều quá mức, hoặc gia đình lục đục do rượu chè, làm ăn có nguy cơ vi phạm pháp luật... Bên
cạnh đó, trạng thái mất thăng bằng - một bên là phát triển thể chất tâm lý, một bên là thua kém bè bạn trong học tập
làm cho các em nảy sinh các phản ứng tự do trái với quy tắc ứng xử, quy định trường lớp. Nhiều lần vi phạm, ngược lại
xử lý không đúng mực, không thuyết phục có khi còn gây căng thẳng thúc đẩy tăng thêm hành vi sai trái. Trước đây,
nhà trường đã áp dụng nhiều biện pháp để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trường học tuy nhiên vẫn chưa mang lại hiệu
quả cao.
Biện pháp giáo dục "truyền thống” không còn phù hợp:
Trước đây, giáo viên thường có thói quen áp dụng biện pháp ”truyền thống” (nghĩa "truyền thống" ở đây là việc
thường làm không phân biệt tích cực hay tiêu cực) như trách phạt, dọa học sinh khi các em vi phạm nội qui trường lớp,
hình phạt thiếu tính tích cực; hiệu quả chưa được như mong muốn, nhiều khi lại phản tác dụng. Nhận thấy đây là vấn
đề cấp bách ảnh hưởng đến tương lai thế hệ, trong thời gian gần đây, BGH nhà trường Trường THCS Đồng Lê đã xây
dựng cả lộ trình với nhiều giải pháp chiến lược để thay đổi tư duy và đề ra các giải pháp phù hợp trong công tác giáo
dục đạo đức, kỹ năng sống, lý tưởng sống cho học sinh. Nhà trường đã từng bước thay đổi nhận thức cho giáo viên,
thử nghiệm và áp dụng có hiệu quả biện pháp giáo dục giáo dục kỉ luật tích cực.
Biện pháp giáo dục “Kỉ luật tích cực” được áp dụng và đưa lại hiệu quả
Biện pháp giáo dục “Kỉ luật tích cực” (PP KLTC)
“Kỉ luật tích cực” là một biện pháp giáo dục hoàn toàn khác với lối giáo dục truyền thống theo kiểu “đòn roi”. Tất nhiên
biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực không phải là không kỷ luật, mà là phải kỷ luật nhưng sau kỷ luật sẽ làm cho học
sinh tiến bộ. PP KLTC là biện pháp giáo dục giúp học sinh tự nhận thức được bản thân, giúp các em nhận biết được
đúng sai để điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực, tự kiểm soát hành vi, thái độ trên cơ sở các quy định,
Đầu năm học 2011-2012, Phòng GD-ĐT
quận Bình Thạnh đã tổ chức chuyên đề
“Giáo dục kỷ luật tích cực” nhằm giúp
giáo viên (GV) ở từng bậc học nắm bắt
các phương pháp giáo dục học sinh
(HS) tích cực nhất.
Giáo dục kỷ luật tích cực không
hề mang tính bạo lực mà thể hiện
sự tôn trọng trẻ nên trẻ sẽ tiếp
thu hiệu quả hơn
Đây là chuyên đề mà hầu hết GV rất tâm đắc bởi qua chuyên đề này họ có
thêm nhiều kinh nghiệm trong việc giáo dục HS theo đúng phương pháp sư
phạm. Thầy Trần Văn Xuyên - chuyên viên Phòng GD-ĐT quận Bình Thạnh người tạo ra chuyên đề này cho biết:
- Hiện nay, đa số thầy cô rất yêu nghề và mến trẻ. Khi còn là sinh viên, họ
đã được trang bị đầy đủ kiến thức, từ kiến thức giáo dục đến chuẩn mực
hành vi và tác phong sư phạm nhẹ nhàng, hiệu quả. Tuy nhiên, cũng còn
không ít GV do nôn nóng về chất lượng và hiệu quả cần đạt nên đã bộc lộ
một số các biện pháp bất cập trong cách giáo dục dẫn đến hình ảnh của
người thầy bị méo mó trong cái nhìn của xã hội. Bên cạnh đó, một số GV tận
tụy với nghề nhưng vẫn cho rằng việc trừng phạt thân thể (TPTT) HS là cần
thiết, một số khác ủng hộ không TPTT trẻ nhưng lại chưa biết cách sử dụng
các phương pháp giáo dục khác tích cực hơn. Từ những trăn trở này, tôi bắt
đầu tạo lập chuyên đề để cùng các đồng nghiệp ở Phòng GD-ĐT tập huấn
cho GV từng đơn vị.
PV: Theo thầy, biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực khác với giáo dục trừng
phạt như thế nào?
-Giáo dục kỷ luật bằng những biện pháp tích cực không phải là việc đơn
lỗi khi có những hình thức kỷ luật hay người lớn ở bên cạnh.
Chính vì những lý do này mà GV cần hướng đến việc giáo dục kỷ luật một
cách tích cực. Để làm được điều này, GV cần thực hiện những điều sau: Suy
nghĩ sâu sắc về nghề dạy học: Yêu nghề, mến trẻ, cái tâm phải bao trùm
khắp tâm hồn. Hiểu và nắm bắt tâm lý của trẻ ở mọi lứa tuổi trong bậc tiểu
học và bản thân phải tìm được niềm vui trong công việc. Đồng thời, GV phải
tự đặt mình ngang hàng với trẻ để cùng chơi, cùng học, cùng hiểu để tìm
cách giáo dục trẻ thấu tình đạt lý. Ngoài ra, việc trao đổi, chia sẻ, học tập
cùng đồng nghiệp để tìm cách thay thế TPTT trẻ nhằm thực hiện giáo dục
tích cực.