TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CHO TRẺ
(Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non)
Vinh 2011
1
2
Lời nói đầu
Giáo trình "Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non" nhằm trang bị
cho sinh viên những vấn đề lý luận mang tính hệ thống và khái quát về mục đích,
nhiệm vụ, các nguyên tắc giáo dục thể chất mầm non, đồng thời giới thiệu các
phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục thể chất cho trẻ mầm non qua các
độ tuổi: nhà trẻ, mẫu giáo.
Giáo trình gồm 5 chương:
Chương 1: Mục đích, nhiệm vụ và các nguyên tắc giáo dục thể chất mầm non
Chương 2: Nội dung giáo dục thể chất mầm non
Chương 3: Các phương pháp giáo dục thể chất mầm non
Chương 4: Các hình thức và phương tiện giáo dục giáo dục thể chất mầm
non
Chương 5: Hướng dẫn một số nội dung và hình thức giáo dục thể chất mầm
non qua các độ tuổi
Cơ thể của trẻ mầm non có sự tăng trưởng nhanh về hình thái nhưng các hệ
cơ quan làm việc chưa hoàn thiện, sự phát triển chức năng bảo vệ cơ thể còn yếu.
Khi chịu đựng nhiều tác động không thuận lợi của môi trường trẻ dễ mắc nhiều
bệnh khác nhau. Vì vậy, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể lực, hoàn
thiện chức năng làm việc của các cơ quan, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC mầm non. Nhiệm vụ bảo vệ sức
khoẻ có thể tiến hành theo 3 hướng sau đây:
- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng
- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý.
6
- Hoàn thiện chức năng của các cơ quan thực vật.
a) Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng cho trẻ mầm non
Tuổi mầm non là giai đoạn có những biến đổi hết sức to lớn về hình thái và
chức năng của cơ thể. Đặc điểm của thời kỳ này là lúc đầu cơ thể trẻ có sức chống
đỡ (đề kháng) tương đối thấp đối với những tác động xấu của môi trường xung
quanh, do đó dễ mắc bệnh, nhưng khả năng thích ứng, thích nghi với mọi tác động
từ bên ngoài vào sẽ nhanh chóng nâng cao nếu biết giữ gìn sức khoẻ cho trẻ thật
chu đáo, kết hợp với việc rèn luyện thể dục một cách có hệ thống và đúng phương
pháp khoa học, phát triển vận động, rèn luyện kỹ năng vận động và thói quen giữ
vệ sinh cho trẻ, kết hợp sử dụng tác động của các yếu tố thiên nhiên một cách thận
trọng và có liều lượng. Các biện pháp đó có tác dụng phòng và chống được các
bệnh thông thường như cảm cúm, các bệnh truyền nhiễm cho trẻ và còn là sự rèn
luyện có tác dụng tốt đối với hệ thống thần kinh trung ương, đối với sức khoẻ nói
chung của trẻ.
b) Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý
ở lứa tuổi mầm non quá trình cốt hoá của hệ xương mới chỉ bắt đầu. Bộ
xương của trẻ phần lớn được cấu tạo bằng các tổ chức sụn, các tổ chức xương đang
được hình thành, độ rắn thấp, độ xốp cao chứa nhiều nước vì thế. Hệ cơ còn tương
c) Nâng cao khả năng làm việc của các hệ thống cơ quan trong cơ thể trẻ
Đặc điểm của giai đoạn từ 0-6 tuổi là sự hoạt động vận động tích cực của
trẻ, nhờ đó những động tác vận động cơ bản cần thiết cho cuộc sống được hình
thành. Tập luyện thể dục thể thao sẽ đẩy nhanh chóng quá trình chuyển những động
tác tự nhiên, tản mạn trong những tháng đầu tiên của cuộc sống, thành những động
tác có sự phối hợp tương đối cao như đi, chạy, nhảy, ném…qua đó phát triển khả
năng vận động một cách hiệu quả ở trẻ. Mặt khác, vận động là một trong những
điều kiện cơ bản để trẻ nhận thức thế giới xung quanh. Qua sự theo dõi những trẻ
em vì lý do nào đó (như bị ốm) mà hoạt động vận động bị hạn chế cho thấy: hiện
8
tượng thiếu vận động đã gây nên sự phát triển chậm chạp của các hệ thống tim
mạch, hô hấp và các hệ thống khác của cơ thể trẻ. Dưới ảnh hưởng của các hoạt
động và vận động tích cực thì trọng lượng tương đối của tim, phổi, não được tăng
lên. Đặc biệt là vận động thường xuyên sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, cải
thiện được quá trình trao đổi chất và thúc đẩy sự hoàn thiện về cấu trúc và chức
phận của cơ thể.
Hệ hô hấp: Đối với trẻ các đường hô hấp còn hẹp, niêm mạc của chúng có
nhiều mạch máu. Các tế bào của phổi rất mịn. Độ linh hoạt của lồng ngực bị hạn
chế, xương sườn ở tư thế nằm ngang và sự phát triển của cơ hô hấp thì rất yếu, nên
không thể thở sâu được (trẻ ở lứa tuổi bú mẹ thở 40-35 lần /1 phút, 7 tuổi thì 24-22
lần). Vì thế không khí bị đọng lại và khó vào các phần của lá phổi. Nhịp hô hấp
của trẻ không ổn định, dễ bị rối loạn. Từ cần củng cố cơ hô hấp, phát triển độ linh
hoạt của lồng ngực, tạo khả năng thở sâu tiết kiệm năng lượng khi thở ra, ổn định
nhịp thở, tăng dung tích sống.
Ngoài ra phải dạy trẻ thở bằng mũi. Thở bằng mũi sẽ làm không khí được
ấm lên và lọc sạch. Các bài tập phát triển hô hấp sẽ thúc đẩy sự hoạt động tích cực
của các cơ quan hô hấp, củng cố các cơ hô hấp và sự phát triển toàn bộ của bộ máy
hô hấp, ngoài ra có tác dụng hình thành ở trẻ em thói quen thở đều và sâu, khắc
giác, thính giác…).
Tóm lại ở lứa tuổi mầm non luyện tập thể dục thể thao có hệ thống và đúng
phương pháp khoa học sẽ thúc đẩy sự trưởng thành cơ thể trẻ một cách mạnh mẽ.
Các hệ thống bắp thịt, thần kinh, tuần hoàn máu, … được tập luyện tốt. Ngoài ra
còn có tác dụng tốt đối với phát triển các kỹ năng như đi chạy, nhảy, leo, trèo mang
vác…của trẻ. Đó là cơ sở chuẩn bị cho hoạt động chân tay và trí óc sau này của các
em, bồi dưỡng giáo dục và phát triển thói quen hành động tập thể, tính tích cực, kỷ
luật, chủ động sáng tạo và những hành vi đạo đức tốt.
2.2. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức (nhiệm vụ giáo dưỡng)
10
a) Thực hiện các bài tập thể chất phù hợp với lứa tuổi nhằm giáo dục ở trẻ
những tố chất vận động như: nhanh nhẹn, khéo léo, bền bỉ, dẻo dai…
Ví dụ:
- Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì phải tăng độ
dài, độ cao của bước nhảy, tập ném xa.
- Để phát triển sức bền: cho trẻ tập nhiều động tác chạy với cự ly dài nhưng
không gây ra sự mệt mỏi quá sức.
- Phát triển khả năng ước lượng cự ly băng mắt: dạy trẻ ném trúng đích, sự
chính xác khi chân nhảy chạm đất, quan sát hướng tốt trong lúc đi.
Nếu các tố chất thể lực không được phát triển thì trẻ không thể thực hiện
được thậm chí các chi tiết nhỏ của các động tác, không hoàn thiện được các hình
thức khác nhau của vận động.
b) Hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động, những thói quen đúng về tư
thế, các thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC
- Hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và thông qua đó trẻ nhận thức thế
giới xung quanh, thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách sáng tạo, cho phép trẻ
tiết kiệm được nhiều sức hơn khi vận động, hoạt động. Nhờ vậy, tạo ra khả năng
lặp lại các động tác với số lần nhiều hơn và ảnh hưởng tích cực hơn tới hệ tim
phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ.
2.3. Nhiệm vụ giáo dục
a) Giáo dục lòng yêu thích thể dục thể thao, sự hứng thú, tự giác, độc lập
luyện tập thường xuyên.
b) Thực hiện việc giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và lao động:
Việc thực hiện các động tác, bài tập vận động sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất
để giáo dục những đức tính tốt và các phẩm chất đạo đức (thật thà, công bằng, tinh
thần tập thể, …và cũng như việc hình thành các phẩm chất ý chí (lòng dũng cảm,
kiên định, sự kiền chế…)
12
Cần phải giáo dục cho trẻ sử dụng một cách sáng tạo những sự hiểu biết,
những thói đã hình thành trong hoạt động vận động, xuất hiện tính tích cực, tự giác
nhanh trí…
Đối với trẻ mẫu giáo thì việc giáo dục cảm xúc tốt, sự sảng khoái, tinh thần
vui vẻ, cũng như biết vượt qua những trạng thái tâm lý tiêu cực là điều hết sức quan
trọng. Điều đó rất cần thiết bởi vì những cảm xúc tốt sẽ ảnh hưởng một cách thuận
lợi đến sự làm việc của tất cả các cơ quan, các hệ thống của cơ thể, đảm bảo hình
thành một cách nhanh chóng các thói quen vận động.
GDTC tạo ra sự thuận lợi cho việc giáo dục thẩm mỹ. Trong quá trình thực
hiện động tác vận động khuyến khích sự phát triển khả năng tiếp thu cảm thụ hiểu
biết và đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn: cái đẹp của trang phục thể dục, của các
dụng cụ tập luyện, của môi trường xung quanh, giáo dục trẻ thấy cái đẹp trong tư
thế tác phong, trong phẩm chất đạo đức không nhân nhượng những hành động và
lời nói thô lỗ.
Trong quá trình GDTC có tiến hành giáo dục lao động. Chuẩn bị cho trẻ
bước vào lao động có nghĩa là phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhẹn bằng những
thói quen vận động và giáo dục các tố chất thể lực cần thiết cho lao động. Ngoài ra
trẻ phải nắm vững các thói quen vận động có liên quan tới các trang bị trong phòng
thể dục, hoạt động vận động ngoài trời… cũng như việc dạy trẻ thực hiện chế độ
giáo dục sức khoẻ trong ngày một cách thường xuyên. Khi ngừng thực hiện những
tiết thể dục đã xây dựng theo hệ thống, hoặc thực hiện chúng không liên tục, nhận
thấy sự giảm sút rõ rệt thành tích của các cơ quan chức năng, và đôi khi dẫn đến sự
thoái lùi các chỉ số hình thái thể hiện ở sự giảm sút tỷ trọng (trọng lượng riêng) của
các mô cơ tích cực, sự thay đổi thành phần cấu tạo của chúng và nhiều biểu hiện
tiêu cực khác.
14
GDTC đòi hỏi sự lặp lại những kỹ xảo vận động đã được hình thành. Chỉ
trong điều kiện lặp lại nhiều lần mới hình thành được định hình động lực trong não
bộ. Để tiến hành lặp lại một cách hiệu quả cần một hệ thống mà trong đó những cái
cũ đã hình thành liên kết với những cái mới (khi quá trình lặp lại có tính chất tình
huống: thay đổi bài tập, điều kiện thực hiện, sự khác nhau của những phương pháp
và biện pháp, hình thức và nội dung tiết học một cách tổng thể). Bên cạnh đó, sự
lặp lại cần đảm bảo sự cải tổ trật tự hình thái và chức năng trong quãng thời gian
dài, trên cơ sở đó phát triển các tố chất thể lực (A. N. Crextovnhicop).
Cơ thể con người là một khối thống nhất, đặc biệt cơ là cơ thể trẻ non nớt,
đang thời kì lớn lên và hoàn thiện nếu không được phát triển toàn diện, cân đối thì
qua giai đoạn này khó phát triển bình thường.Ví dụ: nếu trẻ bị suy dinh dưỡng
nặng, thì cơ thể không cân đối, còi cọc, trí óc không phát triển.
Trong thể dục, mỗi bài tập chỉ có tác dụng nhất định đến sự phát triển của
một số bộ phận cơ thể hoặc một số tố chất thể lực. Ví dụ: Động tác tay, vận động
cơ bản ném xa có tác dụng phát triển cơ tay, phát triển cảm giác thăng bằng, rèn
luyện tính chất khéo léo, mạnh mẽ. Động tác chân- bật: phát triển cơ chân, rèn
luyện khả năng phối hợp tay, chân, tố chất mạnh mẽ…Vì vậy, cần lựa chọn những
bài tập nhịp nhàng, cân đối giữa tay và chân, giữa cơ quan vận động và cơ quan nội
tạng, giữa các tố chất thể lực…để giúp cho các cơ quan, các hệ thống trong cơ thể
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở quan hệ tự giác và tích cực của trẻ đối với
hoạt động mà mình tiến hành: để đạt được thành tích khi thực hiện nhiệm vụ này
hay nhiệm vụ khác thì trước hết trẻ phải hình dung rõ ràng: cần thực hiện cái gì và
như thế nào, tại sao phải thực hiện như thế mà không phải khác (P.Ph.Lexgap là
người đề ra nguyên tắc này). Nguyên tắc này được tiến hành theo các hướng cơ bản
sau đây:
- Hình thành hứng thú với nhiệm vụ vận động được giao
16
- Kích thích sự quan sát vận động mẫu một cách có ý thức ở trẻ, sự phân tích
có ý thức các bài tập vận động, hiểu được mục đích và phương pháp thực hiện
nhiệm vụ.
- Khuyến khích sự thể hiện tính tích cực, độc lập, sáng tạo ở trẻ khi thực hiện
nhiệm vụ vận động: độc lập thay đổi bài tập, tạo ra những tình huống khác nhau,
suy nghĩ về cái mới..
Dạy thể dục cho trẻ là làm cho trẻ nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận
động. Đây là quá trình hoạt động nhận thức và thực hành cho trẻ. ý thức tự giác tích
cực ở trẻ trong luyện tập có giá trị to lớn đối với kết quả bài tập.
Muốn thực hiện tốt nguyên tắc tích cực, tự giác giáo viên cần phải:
- Làm cho trẻ hiểu được nhiệm vụ bài tập một cách đơn giản và cụ thể. Trẻ
càng bé thì nhiệm vụ được giao càng đơn giản. Ví dụ: con sẽ tung bóng bằng hai
tay cho bạn, bạn sẽ bắt bóng và tung lại cho bạn khác.
- Nội dung giảng dạy phải được lựa chọn vừa sức.
- Phải làm cho các bài tập sinh động. Ví dụ: Phải tăng thêm đồ dùng dạy học.
Khi bò chui qua cổng thì ở cổng có treo chuông để giúp trẻ tự đánh giá việc thực
hiện hoạt động của mình đúng hay sai.
- Giáo viên phải làm mẫu chính xác, đẹp, chậm vừa để trẻ dễ nhìn.
- Giảng giải phải đầy đủ nhưng ngắn gọn dễ hiểu, sinh động có tác dụng gây
kéo dài thời gian để trẻ quan sát được kỹ (ví dụ: nhảy bật từ trên cao xuống), thì
giáo viên có thể dùng hình vẽ mô tả để chỉ cho trẻ biết quá trình diễn biến của động
tác, của vận động. ở mức độ cao hơn có thể dùng phim đèn chiếu, chiếu chậm cho
trẻ xem để trẻ có hình dung chính xác về vận động, động tác (trực qua gián tiếp).
Trong giảng dạy thể dục sử dụng trực quan và lời nói có ý nghĩa rất lớn nếu
tính đến kinh nghiệm vận động và những hình thức vận động trong cuộc sống ở trẻ.
Dần dần vai trò của lời nói cũng có ý nghĩa như quan sát (lưu ý khả năng tiếp thu
18
và kinh nghiệm sống của trẻ). Khi sử dụng lời nói cần ngắn gọn, chính xác, rõ ràng,
đúng lúc.
3.4. Nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt
Nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét mối tương qua giữa khả năng của từng
trẻ (năng lực thể chất cũng như tinh thần) và độ khó của nhiệm vụ vận động được
giáo viên giao.
Trong GDTC việc đảm bảo nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn vì: việc thực
hiện các động tác vận động khác nhau có những tác động trực tiếp đến chức năng
quan trọng của cơ thể.Thay đổi lượng vận động một cách đột ngột sẽ ảnh hưởng
xấu cho sức khoẻ, cho nên cần phải xem lại các đặc điểm, khả năng của từng trẻ để
đưa ra nhiệm vụ cho phù hợp.
- Vừa sức (dễ tiếp thu):
Mặc dù trong Chương trình giáo dục mầm non đã có những yêu cầu chung
cho trẻ theo từng độ tuổi, nhưng trong quá trình giảng dạy vẫn phải cần có yêu cầu
cụ thể đối với từng trẻ và chuẩn bị cho trẻ thực hiện yêu cầu ngày càng cao hơn.
Khả năng của từng trẻ được xác định bằng các phương pháp sau đây:
+ Đánh giá thể lực của trẻ theo tiêu chuẩn (Ví dụ: Yêu cầu tối đa đối với trẻ
lớp nhỡ cuối năm phải đạt: Bé trai nặng14,4 kg, cao 100,7 cm) và lập biểu đồ sức
khoẻ cho từng trẻ.
nhau cùng thực hiện nhiệm vụ. Thường được dùng khi cần củng cố kỹ năng vận
động, khi dạo chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động buổi chiều.
Hình thức cá nhân: Giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ (có lựa chọn) những trẻ
yếu và nâng cao yêu cầu đối với một số trẻ khác.
21
Chương II:
NỘI DUNG CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT MẦM NON
Trong Chương trình giáo dục mầm non nội dung GDTC bao gồm 2 lĩnh vực:
- Giáo dục dinh dưỡng- sức khoẻ
- Phát triển vận động
1. Nội dung giáo dục dinh dưỡng- sức khoẻ mầm non
a) Đối với trẻ nhà trẻ:
- Nội dung chung:
+ Làm quen với chế độ sinh hoạt và rèn luyện một số thói quen tốt trong ăn,
uống, ngủ và vệ sinh cá nhân
+ Làm quen với một số công việc đơn giản tự phục vụ trong ăn, ngủ và vệ
sinh cá nhân
+ Giữ gìn sức khoẻ và an toàn
- Nội dung theo độ tuổi:
Nội dung
18-24 tháng
24-36 tháng
việc tự phục vụ
quần áo, đi dép, vệ sinh
* Tập rửa tay
* Tập cởi quần áo khi bị bẩn, bị ướt
* Tập tự ngồi vào bàn ăn
*Tập thể hiện bằng lời nói khi có nhu cầu
*Tập thể hiện khi có nhu cầu ăn, ăn ngủ, vệ sinh
vệ sinh
Giữ
gìn
sức Làm quen với cách chăm sóc, * Rèn luyện một số thói quen, thao tác
khoẻ và an toàn
bảo vệ cơ thể và các giác quan. đơn giản trong việc tự chăm sóc cơ thể và
Rửa tay, rửa mặt, tắm, súc bảo vệ các giác quan
miệng, gội đầu
* Làm quen với các trang phục phù hợp
với thời tiết nóng, lạnh.
* Làm quen và nhận biết những gì nguy
hiểm, nơi nào nguy hiểm không được
thực phẩm phẩm thông thường và các phẩm
phẩm
và cách chế dạng chế biến khác nhau
- Làm quen với cách chế - Tham gia chế biến một
biến
biến đơn giản một số món số món ăn, thức uống
đơn
ăn, thức uống.
giản
ăn
đơn giản
uống - Các bữa ăn trong ngày và - Các bữa ăn trong ngày và - Các bữa ăn trong ngày
đầy đủ, hợp món ăn yêu thích
món ăn yêu thích
và món ăn yêu thích
lý. ích lợi - ích lợi của ăn uống đủ - ích lợi của ăn uống đủ - ích lợi của ăn uống đủ
- rèn luyện kỹ năng đánh
các bộ phận răng, lau mặt
-Rèn luyện các thao tác rửa răng, lau mặt, rửa tay
cơ thể và - Tập rửa tay bằng xà phòng
tay bằng xà phòng
các
giác - Tập rửa đồ chơi
- Vệ sinh đồ dùng, đồ chơi
quan.
Tập - Thể hiện bằng lời nói về - Đi vệ sinh khi có nhu cầu và đúng nơi quy định
làm một số nhu cầu ăn ngủ, vệ sinh
- Lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh cơ thể, vệ sinh môi
công việc tự - Lợi ích của việc giữ gìn vệ trường đối với sức khoẻ
phục
vụ sinh cơ thể đối với sức khoẻ
phòng tránh đơn giản
giữ
phòng tránh một số bệnh
thông thường
gìn vệ sinh
môi trường.
an toàn
- Nhận biết nơi không an toàn cho sức khoẻ và tính mạng, hành động nguy hiểm và
cách phòng tránh
- Làm quen với một số quy định an toàn (ở nhà, ở trường)
2. Nội dung phát triển vận động
2.1. Nội dung chung
- Nhà trẻ:
+ Tập phát triển các nhóm cơ và hô hấp
+ Tập phát triển các vận động cơ bản
+ Tập phát triển các cử động ngón tay, bàn tay
- Mẫu giáo:
+ Tập phát triển các nhóm cơ và hô hấp
+ Tập phát triển các vận động cơ bản và biết ích lợi của việc luyện tập đối
với sức khoẻ
+ Tập các cử động bàn tay, ngón tay phát triển khéo léo
2.2. Nội dung cụ thể
2.2.1. Bài tập phát triển chung:
a) Khái niệm: là hệ thống các động tác được lựa chọn nhằm phát triển toàn
diện các bộ phận của cơ thể người.