LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÓA HỌC: KếT HợP DạY HọC Dự ÁN VớI HOạT ĐộNG NGHIÊN CứU KHOA HọC CHO HọC SINH LớP 12 PHầN HÓA HọC HữU CƠ TRUNG HọC PHổ THÔNG - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
---------

NGUYỄN QUANG KHẢI

KẾT HỢP DẠY HỌC DỰ ÁN VỚI HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12
PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60.44.01.14

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐẶNG THỊ OANH


HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cám ơn PGS.TS
Đặng Thị Oanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến
* Thạc sĩ Tạ Thủy Nguyên phòng Phân Tích ứng dụng – Viện Hóa học – Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
* TS. Lương Như Hải – Phòng Công nghệ Polime và Môi Trường – Viện
Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam .
Đã tạo điều kiện làm việc và cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý
báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Dương Hồng Sơn - Hiệu trưởng trường

DA
DHDA
DHTDA
ĐC
ĐHSP
GV
HS
KHKT
NCKH
PPDH
PPDHTDA
PPGD
THCS
THPT
TN

Cao đẳng – Đại học
Dự án
Dạy học dự án
Dạy học theo dự án
Đối chứng
Đại học Sư phạm
Giáo viên
Học sinh
Khoa học Kĩ thuật
Nghiên cứu khoa học
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học theo dự án
Phương pháp giáo dục
Trung học cơ sở

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đã chỉ rõ những
vấn đề còn tồn tại của giáo dục phổ thông: “Chương trình, giáo trình, phương pháp
giáo dục chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện,
nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng
nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội cũng như nhu
cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học-công nghệ và
triển khai ứng dụng.”
Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ mang tính thụ động cao, hạn chế
khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống
thực tiễn cuộc sống. Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt
ra là “giúp học sinh (HS) phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo…”
Để khắc phục thực trạng trên và nâng cao chất lượng giáo dục, một trong
những nhiệm vụ trọng yếu là thực hiện cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy
và học tập theo hướng tích cực nhằm phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo,
phát huy tiềm năng ẩn chứa trong mỗi con người, biết vận dụng kiến thức đã học
vào thực tiễn đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Hiện nay một số phương
pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực đã và đang được áp dụng trong quá trình
dạy học. Trong các PPDH tích cực hiện nay thì dạy học theo dự án (DHTDA) đáp
ứng tương đối tốt các yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng trên.
Một trong những hình thức DHTDA mang lại hiệu quả giáo dục cao là tổ chức
cho HS trực tiếp tham gia các dự án (DA) nghiên cứu khoa học (NCKH). Bằng việc
cho HS tham gia vào NCKH sẽ giúp HS tiếp cận với phương pháp NCKH, lĩnh hội
kiến thức một cách chủ động góp phần hình thành tính năng động, sáng tạo, khả
năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải quyết các vấn đề thực tế của HS. Bên
cạnh đó để HS thực hiện tốt các DA NCKH cũng cần phải có sự hướng dẫn của
giáo viên (GV), sự kết hợp của các viện nghiên cứu. Vì vậy GV cũng phải năng


sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các

7


trường đại học và chuyên nghiệp.
Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương
pháp DA (The Project Method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan
điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học
truyền thống coi GV là trung tâm. Ban đầu, PPDH dự án (PPDHDA) được sử dụng
trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các
môn học khác, cả các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian phần nào bị lãng
quên, hiện nay PPDHDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại
học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển.
Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử
dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với DHTDA. Với những ưu
điểm vượt trội, DHDA đã và đang từng bước được áp dụng trong giảng dạy ở phổ
thông đặc biệt là ở môn hóa học môn học thực nghiệm gắn liền với thực tiễn. Việc
ứng dụng PPDHDA trong môn hóa học đã và đang thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu là một số bài viết và công trình nghiên cứu như:
1. “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim
chương trình hóa học trung học phổ thông” của Phạm Hồng Bắc (2013), Trường
ĐHSP Hà Nội.
2. “Xây dựng tư liệu dạy học và áp dụng phương pháp dạy học dự án cho dạy học
nội dung ứng dụng các phi kim và hợp chất của chúng trong chương trình hoá học
THPT – nâng cao” của Đào Thị Như (2008), Trường ĐHSP Hà Nội.
3.“ Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án đối với chương nhóm oxi, lớp 10
nâng cao” của Tạ Thị Thu Hương (2010), Trường ĐHSP TPHCM.
4. Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập
của học sinh trong dạy học hoá học thông qua hình thức dạy học dự án” của Đặng

Nghiên cứu các vấn đề về lí luận NCKH từ trước đến nay đã có nhiều sách
tham khảo hoặc giáo trình như:
1. PGS.TS. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu
khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. PGS.TS. Phạm Viết Vượng (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. GS. Nguyễn Văn Lê (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà

9


xuất bản trẻ.
4. TS. Phạm Trung Thanh, Th.S. Nguyễn Thị Lý (2000), Phương pháp thực
hiện đề tài nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.
Bên cạnh đó cũng có một số hội thảo tập huấn hướng dẫn HS NCKH đã được tổ
chức.
1. Karen Merrill-Giám đốc hội đồng khoa học Intel ISEF giới thiệu về “Hội thi
Khoa học và Kỹ Thuật Quốc tế của Intel-Intel ISEF ” vào tháng 7 năm 2011. Trong
đó giới thiệu về ý nghĩa của hội thi, vạch ra con đường để đến với Intel ISEF và bí
quyết thành công tại Intel ISEF.[12]
2.“Hội thảo – Tập huấn: Tổ chức cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia
dành cho học sinh trung học ” do TS. Vũ Đình Chuẩn – Vụ trưởng Vụ trung học Bộ
GD&ĐT thực hiện với nội dung chủ yếu là thảo luận thống nhất về các tiêu chí
chấm các DA dự thi của thí sinh và công tác tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh/thành
phố và cấp quốc gia dành cho HS trung học năm học 2012-2013.[10]
3. TS. Vũ Anh Tuấn “Giới thiệu khung nghiên cứu và hướng dẫn học sinh
trung học nghiên cứu khoa học kĩ thuật” vào tháng 12 năm 2012 tại Hà Nội trong
đó nêu mục đích, hình thức tổ chức, nội dung, tiến trình thực hiện một đề tài
NCKH.[19]
Nhưng thực tế, ngay bản thân một số GV vẫn còn rất mơ hồ về lí luận của hoạt

quả của đề tài.
(5). Báo cáo kết quả nghiên cứu một số DA được thực hiện trong đề tài và trao đổi
với GV, HS đã tham gia các DA, đề tài và ý kiến nhận xét của Ban Giám hiệu nhà
trường.
5. Khách thể , đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học cho HS lớp 12 THPT.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình kết hợp dạy học DA với hoạt động NCKH hóa học cho HS lớp 12
THPT.
5.3. Phạm vi nghiên cứu :
Chương 1, 2, 3, 4, 5 hóa học lớp 12 chương trình cơ bản THPT.
6 . Giả thuyết khoa học
Kết hợp DHTDA với tổ chức tốt tập huấn cho HS về phương pháp NCKH,
11


đồng thời với sự hướng dẫn của GV trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu thì
sẽ góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, kĩ năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực
tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong các trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu như các luận văn, các bài
báo, các công trình nghiên cứu về dạy học DA, NCKH nói chung, hoạt động NCKH
của HS THPT nói riêng và đặc biệt là cách GV hướng dẫn HS NCKH và thực hiện
DA học tập.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bảng hỏi: Dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng với số lượng
60 phiếu điều tra dành cho GV giảng dạy môn Hóa học và 400 phiếu dành cho HS
THPT các trường trong tỉnh Bắc Ninh về hiểu biết của GV và HS về DHTDA.


13


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO
DỰ ÁN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH THPT
1.1. Cơ sở lí luận của dạy học theo dự án
1.1.1. Thế nào là dạy học theo dự án?
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “DHTDA là hoạt động học tập
nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng
một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [2, tr.125].
Theo Intel (Mỹ): DHTDA là một hình thức dạy học trong đó HS thực hiện một
nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành và
đánh giá kết quả. Hình thức chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm
hành động có thể giới thiệu được.
1.1.2. Đặc điểm của dạy học theo dự án

Hình 1.1: Sơ đồ những đặc điểm của dạ̣y học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của DA xuất phát từ những tình huống của thực tiễn
xã hội, nghề nghiệp và đời sống. Nhiệm vụ DA cần chứa đựng những vấn đề phù
hợp với trình độ và khả năng của người học.
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia đề xuất và chọn đề tài, nội
14


dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của HS
cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện DA.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết và hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông

gia trong DA. Đặc điểm này còn gọi là học tập mang tính xã hội.
1.1.3. Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
Bước 1: Lập kế hoạch
a) Lựa chọn chủ đề
GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục đích của DA.
Từ chủ đề lớn, GV tổ chức hướng dẫn HS phát triển tìm các chủ đề nhỏ là vấn đề
nghiên cứu cụ thể. Sơ đồ tư duy và sơ đồ câu hỏi 5W1H là công cụ hiệu quả xác
định, lựa chọn ý tưởng cũng như những vấn đề cần giải quyết xung quanh DA.
b) Lập kế hoạch
HS cần lập kế hoạch để xác định các vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến tiểu
chủ đề nhằm giải quyết trả lời câu hỏi nghiên cứu và phân công nhiệm vụ trong
nhóm. Ai sẽ làm nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành, xác định phương tiện và dự
kiến sản phẩm. Sau khi lập được kế hoạch các nhóm cử đại diện trình bày, các
nhóm khác và GV bổ sung ý kiến, HS chỉnh sửa hoàn thiện kế hoạch. Sau đó GV
hướng dẫn HS cách thực hiện DA, tổng hợp kết quả, trình bày báo cáo, đánh giá rút
kinh nghiệm. GV cần cung cấp cho mỗi nhóm sổ theo dõi DA.
Bước 2: Thực hiện dự án
a) Thu thập thông tin: Theo nhiệm vụ đã được phân công, các thành viên trong
nhóm thu thập thông tin từ sách báo, internet, làm thực nghiệm, điều tra, phỏng
vấn... Các phương tiện hỗ trợ cần sử dụng như: phiếu phỏng vấn, phiếu ghi dữ liệu,
phiếu thiết kế các hoạt động thực nghiệm, máy ghi âm, máy ảnh,...
b) Xử lí thông tin
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu cần tiến hành xử lí dữ liệu bằng bảng,
biểu đồ, sơ đồ, so sánh, đối chiếu.... Trong nhóm thường xuyên trao đổi thảo luận để
tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm tra tiến độ. Đồng thời xin ý kiến của GV
cần sự giúp đỡ kịp thời để đảm bảo tiến độ và hướng đi của dự án.
Bước 3: Tổng hợp báo cáo sản phẩm
a) Xây dựng sản phẩm

16

Hình 1.2. Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
1.1.4. Một số kĩ năng thực hiện dự án cần hướng dẫn cho học sinh
Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin: bao hàm những khả năng rút ra những
thông tin từ một tư liệu và ghi chép từ một thông báo hay bài phát biểu.
Kỹ năng giao tiếp: như vấn đáp, lắng nghe tích cực, tiếp nhận và phản hồi

17


thông tin, xử lý tình huống, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác và hỗ trợ trong nhóm.
Kỹ năng tư duy sáng tạo: Thông qua những sản phẩm tư duy của HS như: các
cuộc thảo luận, các bảng biểu, sơ đồ, và những ghi chép, GV có thể biết được nhiều
điều về quá trình tư duy của HS, lựa chọn PPDH phù hợp cho mỗi đối tượng là cá
nhân hay nhóm HS.
Kỹ năng trình bày: Tạo ra một bài thuyết trình là một nghệ thuật. Đó là khả
năng của những người thuyết trình trong quá trình truyền đạt thông tin một cách hấp
dẫn và cách dẫn dắt nội dung thông tin nhằm thu hút nhiều người nghe hơn và trình
bày thông tin đầy đủ và chính xác trong một khoảng thời gian ngắn.
Kĩ năng sử dụng CNTT: sử dụng Power Point, Mindmap, Word,…
1.1.5. Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án
a) Ưu điểm
- Có sự gắn kết kiến thức lí thuyết với thực tiễn trong hoạt động học tập.
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của HS.
- Tạo điều kiện phát triển một số năng lực cho học sinh như: năng lực sáng tạo,
năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề.
- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề mang tính phức hợp, mang tính
tích hợp.
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp.
- Rèn luyện tính bền bỉ kiên nhẫn.
- Phát triển năng lực đánh giá.

Hình 1.2. Sơ đồ những đặc điểm của nghiên cứu khoa học
a) Tính mới mẻ

19


- Quá trình NCKH là quá trình sáng tạo ra những điều mới mẻ, vì vậy nó có
tính mới mẻ.
- Quá trình NCKH không có sự lặp lại các thí nghiệm hoặc một việc gì đã
được làm trước đó.
- Tính mới trong NCKH được hiểu là dù đạt được một phát hiện mới thì người
nghiên cứu vẫn phải hướng tới, tìm tòi những điều mới mẻ hơn.
b) Tính thông tin
Sản phẩm của NCKH có thể là một bài báo khoa học, tác phẩm khoa học,
cũng có thể là một mẫu vật, sản phẩm mới, … Tuy nhiên dù sản phẩm đó là gì thì
nó đều mang đặc trưng thông tin về quy luật vận động của sự vật hiện tượng, thông
tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm.
c) Tính khách quan
Tính khách quan là đặc điểm của NCKH và cũng là tiêu chuẩn của người
NCKH. Nếu trong NCKH mà không khách quan thì sản phẩm NCKH sẽ không thể
chính xác và không có giá trị gì cả.
d) Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu được gọi là tin cậy nếu nó có khả năng kiểm chứng
bởi bất kỳ người nào, bất kỳ trong trường hợp, điều kiện giống nhau nào đều cho
một kết quả như nhau.
e) Tính rủi ro
NCKH là quá trình tìm ra cái mới, vì vậy nó có thể thành công hoặc thất bại,
thành công sớm hoặc thành công rất muộn. Vì vậy tính rủi ro của nó rất cao.
f) Tính kế thừa
- Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp NCKH.

một số tiêu chí sau: Đề tài có ý nghĩa khoa học không? Có ý nghĩa thực tiễn không?
có cấp thiết phải nghiên cứu không? Có phù hợp với sở thích không?
(3) Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài. Tên đề
tài phải thể hiện được mục tiêu nghiên cứu, có thể ghi rõ phương tiện thực hiện, có
thể chỉ rõ môi trường thực hiện.
1.2.2.2. Xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong

21


nghiên cứu. Mục tiêu trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?”
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ nghiên cứu chính là công việc phải làm,
được cụ thể hóa từ mục tiêu và đối tượng nghiên cứu. Mỗi nhiệm vụ phải giải quyết
được một vấn đề nào đó nằm trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các nhiệm vụ
luôn có quan hệ hữu cơ với nhau.
1.2.2.3. Xây dựng luận điểm khoa học (tức giả thuyết nghiên cứu)
Giả thuyết là câu trả lời ướm thử cho câu hỏi nghiên cứu. Một giả thuyết có
thể đặt ra đúng với bản c hất sự vật, song giả thuyết cũng có thể sai và bị bác bỏ.
1.2.2.4. Chứng minh luận điểm khoa học (chứng minh giả thuyết)
Để chứng minh giả thuyết, người nghiên cứu cần có các luận cứ khoa học.
Luận cứ là bằng chứng để khẳng định giả thuyết của tác giả đặt ra là đúng. Trong
khoa học có hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tế. [11,tr.49-63]
1.2.2.5. Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết
Trong nghiên cứu các phương pháp được chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Gồm có phương pháp nghiên
cứu tài liệu, thống kê toán học.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Gồm có phương pháp quan
sát, thực nghiệm khoa học, điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn, thực nghiệm...

Phương pháp thực nghiệm khoa học là một trong các phương pháp cơ bản, có
vai trò hết sức quan trọng trong NCKH, được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực
khoa học, đặc biệt là các khoa học tự nhiên. Thực nghiệm chỉ được sử dụng khi và
chỉ khi đặt ra bài toán làm sáng tỏ các mối liên hệ, sự phụ thuộc giữa các hiện tượng
nghiên cứu và sự thể hiện các giả định, kiểm định các giả thuyết.
Phương pháp thực nghiệm thường chia thành hai loại chính là thực nghiệm tự
nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Trong một thực nghiệm thường có 3
yếu tố biến đổi (gọi là biến) gồm biến độc lập, biến phụ thuộc, biến kiểm soát. [18,
tr.55-59]
1.2.3.2. Phương pháp xử lý thông tin
Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng phương pháp thống
kê toán sau đó trình bày dưới dạng bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị.
Xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra những phán đoán về bản
chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của sự kiện [11,tr.99].

23


1.2.4. Trình bày luận điểm khoa học
1.2.4.1. Hình thức trình bày kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu có thể được trình bày dưới dạng bài báo khoa học, tổng
luận khoa học, tác phẩm khoa học nhằm nhiều mục đích như công bố một ý tưởng
khoa học, hoặc cung cấp thông tin tóm tắt về hoạt động và thành tựu.
1.2.4.2. Thuyết trình kết quả nghiên cứu
Người thuyết trình luôn phải lưu ý rằng mỗi bản thuyết trình phải trả lời được
câu hỏi: Tác giả định chứng minh điều gì? Chứng minh bằng cái gì? Bản thuyết
trình phong phú nhờ luận cứ. Người nghiên cứu càng đưa được nhiều luận cứ thì
luận điểm càng có sức thuyết phục. [11,tr.106-119]
1.2.5. Đạo đức khoa học
Bên cạnh việc trang bị những nội dung về kĩ năng nghiên cứu, những nhà

của trường trung học có liên quan đến việc áp dụng vào thực tiễn [19].
1.3.1.4. Kinh phí phục vụ nghiên cứu khoa học
Nguồn kinh phí phục vụ nghiên cứu khoa học có thể lấy từ kinh phí hỗ trợ
của nhà trường và kinh phí của gia đình học sinh tham gia nghiên cứu khoa học.
1.3.1.5. Trách nhiệm và quyền lợi của học sinh khi tham gia NCKH
(1) Trách nhiệm của HS
Tích cực hưởng ứng và thực hiện đề tài NCKH đã đăng ký. Cần có sự giám
sát, hướng dẫn trong quá trình làm đề tài, phải có người bảo trợ khi tham gia NCKH
(có thể là GV, cán bộ nghiên cứu, nhà khoa học...). Trung thực trong NCKH; không
gian lận, sao chép trái phép, giả mạo; không sử dụng, trình bày nội dung, kết quả
nghiên cứu của người khác như là của mình. Chấp hành các quy định hiện hành về
hoạt động khoa học và công nghệ của trường. Không được tham gia nghiên cứu DA
nghiên cứu mầm bệnh, hóa chất độc hại hoặc ảnh hưởng đến môi trường.
(2) Quyền lợi của HS
Được tạo điều kiện sử dụng các thiết bị sẵn có của cơ sở để tiến hành NCKH;
được tham gia các Cuộc thi KHKT. Kết quả NCKH của HS có thể được công bố
trên các kỷ yếu, tạp chí và các phương tiện thông tin khác [19].
1.3.1.6. Thuận lợi và khó khăn khi học sinh THPT nghiên cứu khoa học
(1). Thuận lợi
Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, GV đã

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status