LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cám ơn PGS.TS
Đặng Thị Oanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến
* Thạc sĩ Tạ Thủy Nguyên phòng Phân Tích ứng dụng – Viện Hóa học – Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
* TS. Lương Như Hải – Phòng Công nghệ Polime và Môi Trường – Viện
Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Đã tạo điều kiện làm việc và cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý
báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Dương Hồng Sơn - Hiệu trưởng trường
THPT Ngô Gia Tự, thầy Vũ Thành Chung - Phó hiệu trưởng trường THPT Ngô Gia
Tự, Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và học sinh của trường THPT Ngô Gia Tự Từ Sơn – Bắc Ninh đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Quang Khải
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
2
3
4
5
6
Dạy học dự án
Dạy học theo dự án
Đối chứng
Đại học Sư phạm
Giáo viên
Học sinh
Khoa học Kĩ thuật
Nghiên cứu khoa học
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học theo dự án
Phương pháp giáo dục
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
2
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Nội dung chương trình hóa học hữu cơ lớp 12
Bảng 2.2. So sánh dạy học theo dự án và hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
Bảng 2.3. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến este-lipit
Bảng 2.4. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến cacbohidrat
Bảng 2.5. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Amin-Aminoaxit- Protein
Bảng 2.6. Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Polime
Bảng 2.7. Các đề tài nghiên cứu khoa học khác
Bảng 2.8. Kế hoạch triển khai dự án 1
Bảng 2.9: Mẫu gạc trước và sau khi xử lí
Bảng 3.1. Phân loại kết quả học tập của học sinh
Bảng 3.2. Đánh giá dự án kĩ thuật
vào thực tiễn đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Hiện nay một số phương
pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực đã và đang được áp dụng trong quá trình
dạy học. Trong các PPDH tích cực hiện nay thì dạy học theo dự án (DHTDA) đáp
ứng tương đối tốt các yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng trên.
Một trong những hình thức DHTDA mang lại hiệu quả giáo dục cao là tổ chức
cho HS trực tiếp tham gia các dự án (DA) nghiên cứu khoa học (NCKH). Bằng việc
cho HS tham gia vào NCKH sẽ giúp HS tiếp cận với phương pháp NCKH, lĩnh hội
kiến thức một cách chủ động góp phần hình thành tính năng động, sáng tạo, khả
năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải quyết các vấn đề thực tế của HS. Bên
cạnh đó để HS thực hiện tốt các DA NCKH cũng cần phải có sự hướng dẫn của
giáo viên (GV), sự kết hợp của các viện nghiên cứu. Vì vậy GV cũng phải năng
4
động tìm tòi phát triển các cách dạy mới. Việc NCKH mang lại tác động tích cực
lên cả người học và người dạy từ đó góp phần vào đổi mới phương pháp giáo dục
và dạy học trong nhà trường.
Mặt khác, với đặc thù của môn hoá học là một môn khoa học vừa lý thuyết
vừa thực nghiệm, việc dạy học bộ môn hóa học hiện nay vẫn còn nặng về lí thuyết
chưa chú trọng nhiều đến thực hành và vận dụng kiến thức. HS khi học môn hóa
học chỉ tập trung nhiều vào các bài tập nặng về lí thuyết nặng và tính toán, phần lớn
các em chưa biết những kiến thức được học về các chất ở môn hóa học có thể vận
dụng như thế nào, có thể giải quyết được những vấn đề gì trong thực tiễn xung
quanh các em. Vì vậy việc khuyến khích HS tham gia thực hiện các dư án NCKH
về những vấn đề, thực trạng xung quanh cuộc sống sẽ tạo ra hứng thú trong học tập,
giúp HS nhanh chóng hiểu bài hơn, học sâu hơn, qua đó khơi dậy tiềm năng, phát
huy được những ý tưởng sáng tạo, hình thành các kĩ năng, giúp người học đạt được
kết quả cao nhất.
Chính vì vậy nghiên cứu đề tài: “Kết hợp dạy học dự án với hoạt động
thông đặc biệt là ở môn hóa học môn học thực nghiệm gắn liền với thực tiễn. Việc
ứng dụng PPDHDA trong môn hóa học đã và đang thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu là một số bài viết và công trình nghiên cứu như:
1. “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim
chương trình hóa học trung học phổ thông” của Phạm Hồng Bắc (2013), Trường
ĐHSP Hà Nội.
2. “Xây dựng tư liệu dạy học và áp dụng phương pháp dạy học dự án cho dạy học
nội dung ứng dụng các phi kim và hợp chất của chúng trong chương trình hoá học
THPT – nâng cao” của Đào Thị Như (2008), Trường ĐHSP Hà Nội.
3.“ Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án đối với chương nhóm oxi, lớp 10
nâng cao” của Tạ Thị Thu Hương (2010), Trường ĐHSP TPHCM.
4. Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập
của học sinh trong dạy học hoá học thông qua hình thức dạy học dự án” của Đặng
Thị Minh Thu (2009), ĐHSP Hà Nội .
5. Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Áp dụng dạy học theo dự án trong dạy học Hoá
học ở trường Trung học phổ thông”của Nguyễn Thị Thanh Mai (2011, ĐHSP
TPHCM.
6
2.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về nghiên cứu khoa học
Trên Thế giới, Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho HS
phổ thông từ lớp 9 – 12, ở 17 lĩnh vực NCKH khác nhau nhằm tăng cường hiệu quả
và sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải
quyết vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học, toán
học, kỹ thuật… Đây là hội thi khoa học có quy mô lớn nhất thế giới, tạo điều kiện
cho các nhà khoa học và sáng chế trẻ đến trao đổi ý kiến, trình bày những DA khoa
học tiên tiến và thi tài để giành được phần thưởng và học bổng.
Ở Việt Nam bắt đầu từ năm học 2013-2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết
định tổ chức cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia cho HS trung học cơ sở
Khoa học và Kỹ Thuật Quốc tế của Intel-Intel ISEF ” vào tháng 7 năm 2011. Trong
đó giới thiệu về ý nghĩa của hội thi, vạch ra con đường để đến với Intel ISEF và bí
quyết thành công tại Intel ISEF.[12]
2.“Hội thảo – Tập huấn: Tổ chức cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia
dành cho học sinh trung học ” do TS. Vũ Đình Chuẩn – Vụ trưởng Vụ trung học Bộ
GD&ĐT thực hiện với nội dung chủ yếu là thảo luận thống nhất về các tiêu chí
chấm các DA dự thi của thí sinh và công tác tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh/thành
phố và cấp quốc gia dành cho HS trung học năm học 2012-2013.[10]
3. TS. Vũ Anh Tuấn “Giới thiệu khung nghiên cứu và hướng dẫn học sinh
trung học nghiên cứu khoa học kĩ thuật” vào tháng 12 năm 2012 tại Hà Nội trong
đó nêu mục đích, hình thức tổ chức, nội dung, tiến trình thực hiện một đề tài NCKH
[19]
Nhưng thực tế, ngay bản thân một số GV vẫn còn rất mơ hồ về lí luận của hoạt
động NCKH dẫn đến lúng túng khi triển khai hướng dẫn HS thực hiện đề tài, áp
dụng còn máy móc, thực sự chưa hiểu sâu bản chất và ý nghĩa của hoạt động
NCKH của HS.
3. Mục đích nghiên cứu
Kết hợp DHTDA và tổ chức hướng dẫn NCKH cho HS lóp 12 phần Hóa học
hữu cơ THPT nhằm góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, vận dụng kiến thức lí
thuyết vào thực tiễn cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong
các trường THPT.
8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
(1). Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA, về công tác tổ chức hướng dẫn HS
NCKH (mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, tiến trình thực hiện công tác hướng
dẫn HS NCKH).
(2). Nghiên cứu thực trạng dạy học DA và công tác hướng dẫn HS NCKH ở một số
của HS THPT nói riêng và đặc biệt là cách GV hướng dẫn HS NCKH và thực hiện
DA học tập.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bảng hỏi: Dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng với số lượng
60 phiếu điều tra dành cho GV giảng dạy môn Hóa học và 400 phiếu dành cho HS
THPT các trường trong tỉnh Bắc Ninh về hiểu biết của GV và HS về DHTDA.
- Phỏng vấn sâu: Dự kiến tiến hành phỏng vấn sâu đối với một số GV Hóa
học đã tham gia hướng dẫn HS NCKH; HS đã tham gia NCKH trong Hội thi khoa
học kĩ thuật dành cho HS THCS và THPT vừa qua và hiệu trưởng một số trường về
công tác NCKH của HS để biết được phương pháp hướng dẫn HS NCKH, việc áp
dụng trong thực tế có những khó khăn thuận lợi gì..
- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
- Sử dụng toán thống kê xác xuất để phân tích và xử lý các kết quả thực
nghiệm sư phạm (TNSP).
8. Đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan và làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong việc kết hợp
DHTDA và NCKH cho HS THPT đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của công tác này
trong giáo dục ở nhà trường phổ thông hiện nay.
- Điều tra đánh giá thực trạng việc vận dụng DHTDA và việc triển khai
NCKH cho HS ở trường phổ thông thuộc tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất nguyên tắc lựa chọn nội dung, xây dựng và triển khai DA trong
học tập thuộc phần hóa học hữu cơ lớp 12 THPT.
- Đề xuất một số đề tài NCKH trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 12. Áp
dụng quy trình nghiên cứu, tổ chức tập huấn phương pháp NCKH và hướng dẫn 2
đề tài cho HS lớp 12.
9. Cấu trúc luận văn
10
dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của HS
cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện DA.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết và hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông
qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng
hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra.
Sản phẩm của dự án bao gồm những thu hoạch lí thuyết, những sản phẩm vật chất
của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố,
giới thiệu.
- Định hướng kĩ năng mềm: Làm việc theo DA sẽ hỗ trợ phát triển cả kĩ năng tư duy
siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thức như hợp tác, tự giám sát, tìm kiếm, phân tích
dữ liệu và đánh giá thông tin… Trong suốt quá trình thực hiện DA, các câu hỏi định
hướng sẽ kích thích HS tư duy và liên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn
cao. Đồng thời, HS còn có cơ hội hình thành và rèn luyện các kĩ năng mềm cần có
của con người trong thế kỉ XXI như: kĩ năng học tập và thích ứng, kĩ năng thu thập
và xử lí thông tin, kĩ năng sống và hoạt động nghề nghiệp,…
- Tính phức hợp: Nội dung DA có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn
học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp (liên môn).
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: các DA học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà
trường với việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống, xã hội.
- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tham gia tích cực
và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến
khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn,
hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả
năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các DA học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có
sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm tra tiến độ. Đồng thời xin ý kiến của GV
cần sự giúp đỡ kịp thời để đảm bảo tiến độ và hướng đi của dự án.
Bước 3: Tổng hợp báo cáo sản phẩm
a) Xây dựng sản phẩm
14
Các thành viên trong nhóm cùng tổng hợp tất cả các kết quả đã phân tích
thành sản phẩm cuối cùng có thể trình bày dưới nhiều dạng khác nhau: bài thuyết
trình, đóng kịch, hát, trưng bày triển lãm, Powerpoint...
b) Trình bày báo cáo sản phẩm
GV tổ chức cho HS trình bày các sản phẩm đã làm. Không nên để một HS phụ
trách báo cáo mà nên chia nhỏ để nhiều thành viên cùng được có cơ hội thể hiện
khả năng của mình. Trong buổi này, GV nên mời các chuyên gia liên quan đến dự
án, Ban Giám hiệu tham gia và đặt câu hỏi, cũng như đưa ý kiến nhận xét, góp phần
làm cho buổi báo cáo thêm sinh động, hấp dẫn và thiết thực.
c) Đánh giá rút kinh nghiệm
GV thiết kế cho các nhóm tự chấm điểm và chấm điểm lẫn nhau, đánh giá sản
phẩm của từng nhóm. GV tổng kết các phiếu tự đánh giá của các nhóm, nhận xét,
cho điểm từng nhóm và rút kinh nghiệm
Một bài dạy truyền thống
Thực tiễn cuộc sống
Xây dựng bản kế hoạch dạy học dự án
Kế hoạch hoạt động GV
Kế hoạch hoạt động HS
năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề.
- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề mang tính phức hợp, mang tính
tích hợp
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp
- Rèn luyện tính bền bỉ kiên nhẫn
- Phát triển năng lực đánh giá
b) Hạn chế
- Học theo DA đòi hỏi có thời gian để HS nghiên cứu tìm hiểu
- Học theo DA đòi hỏi phương tiện vật chất phù hợp
- Học theo DA đòi hỏi GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư
phạm, tích cực, yêu nghề
1.1.6. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
- Xác định rõ mục tiêu học tập của HS, HS đạt được gì về kiến thức, kĩ năng
thái độ. Tập trung vào tư duy bậc cao, không chỉ là những kĩ năng đọc sách hay sử
16
dụng công nghệ thông tin...
- Nội dung – chủ đề gắn với thực tiễn hoặc với những vấn đề đang diễn ra
trong cuộc sống, mang tính thời sự, tính xã hội có liên quan đến nội dung bài học.
1.2. Cơ sở lí luận của hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.1. Đại cương về nghiên cứu khoa học
1.2.1.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học
Khái niệm khoa học: Khoa học là hệ thống tri thức của sự vật, hiện tượng, quá
trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà những tri thức trong hệ thống này có được
dựa trên những NCKH (chứ không phải dựa trên những kinh nghiệm). Khoa học
còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động đến thế giới xung
quanh làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người [18, tr.36].
NCKH là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới;
một kết quả như nhau.
e) Tính rủi ro
NCKH là quá trình tìm ra cái mới, vì vậy nó có thể thành công hoặc thất bại,
thành công sớm hoặc thành công rất muộn. Vì vậy tính rủi ro của nó rất cao.
f) Tính kế thừa
- Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp NCKH.
- Hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết
quả đã đạt được trước đó.
g) Tính cá nhân
Dù có thể là một nhóm người cùng thực hiện nghiên cứu thì vai trò cá nhân
trong sáng tạo cũng mang tính quyết định.
18
h) Tính kinh phí
- NCKH rất khó định lượng được một cách chính xác như trong lao động sản
xuất và thậm chí có thể nói không thể định mức.
- Hiệu quả kinh tế không thể xác định được
- Lợi nhuận không dễ xác định
1.2.2. Trình tự logic của nghiên cứu khoa học
NCKH, bất kể trong NCKH tự nhiên, khoa học xã hội hoặc khoa học công
nghệ đều tuân theo một trật tự lôgic xác định, bao gồm các bước sau:
- Lựa chọn chủ đề nghiên cứu và đặt tên đề tài
- Xác định mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng luận điểm khoa học (tức giả thuyết nghiên cứu)
- Chứng minh luận điểm khoa học (chứng minh giả thuyết)
- Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết [11,tr.47].
1.2.2.1. Lựa chọn chủ đề và đặt tên đề tài
(1) Ý tưởng nghiên cứu
1.2.2.5. Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết
Trong nghiên cứu các phương pháp được chia thành 2 nhóm chính:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Gồm có phương pháp nghiên
cứu tài liệu, thống kê toán học.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Gồm có phương pháp quan
sát, thực nghiệm khoa học, điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn, thực nghiệm...
Phương pháp nghiên cứu là công cụ NCKH trong thực hiện nhiệm vụ đề tài.
Phương pháp NCKH do mục tiêu và đối tượng nghiên cứu quyết định bởi “phương
pháp là sự vận động của nội dung” nói theo ngôn từ triết học. Điều đó có nghĩa là
ứng với những đề tài khác nhau phải có phương pháp khác nhau. Chọn phương
pháp nào cho thích hợp đó là công việc của người nghiên cứu [16,tr.65-66].
1.2.3. Thu thập và xử lý thông tin
1.2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
(1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nguồn tài liệu rất đa dạng như: tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa
học, sách giáo khoa, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê, thông tin đại chúng. Sau đó
người nghiên cứu tổng hợp tài liệu: bổ túc, lựa chọn, sắp xếp tài liệu, làm tái hiện
20
quy luật, giải thích quy luật.
(2) Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là một phương pháp quan sát để lấy được các thông tin phục
vụ cho việc trình bày luận cứ thực tế. Có thể sử dụng các phương tiện ghi âm, ghi
hình hoặc sử dụng các phương tiện đo lường...
(3) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin.
Cách đặt câu hỏi là điều cần đặc biệt coi trọng, vì nó có ảnh hưởng quyết định tới
kết quả phỏng vấn.
Người thuyết trình luôn phải lưu ý rằng mỗi bản thuyết trình phải trả lời được
câu hỏi: Tác giả định chứng minh điều gì? Chứng minh bằng cái gì? Bản thuyết
trình phong phú nhờ luận cứ. Người nghiên cứu càng đưa được nhiều luận cứ thì
luận điểm càng có sức thuyết phục. [11,tr.106-119]
1.2.5. Đạo đức khoa học
Bên cạnh việc trang bị những nội dung về kĩ năng nghiên cứu, những nhà
nghiên cứu cần được trang bị những kiến thức về đạo đức khoa học, đó là tính trung
thực với bản thân và trung thực với tài sản khoa học chung của cộng đồng, đạo đức
trong sử dụng kết quả nghiên cứu. [11,tr.133]
1.3. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1.Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT
1.3.1.1. Mục đích công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
Theo công văn số 4241/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn triển khai hoạt
động NCKHvà tổ chức cuộc thi KHKT cấp quốc gia dành cho HS trung học năm
học 2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu ra mục đích hoạt động NCKH của
học sinh trung học như sau:
Góp phần đổi mới hình thức tổ chức hoạt động dạy học; đổi mới hình thức và
phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực của HS; nâng cao chất
lượng dạy và học.
Khuyến khích các cơ sở giáo dục ĐH - CĐ, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và
cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của HS trung học;
Tạo cơ hội để HS trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình;
tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập
quốc tế.
22
1.3.1.2.Yêu cầu trong công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
- Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của HS.
- Phù hợp với chương trình, nội dung dạy học trong nhà trường và đòi hỏi thực
cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, kích thích tính chủ động và đề cao tinh
thần tự chủ, sáng tạo của các em. Nội dung giảng dạy theo hướng gợi mở, giới thiệu
những vấn đề mới, cập nhật những kiến thức và thông tin thời sự về mặt khoa học
cho HS. Qua đó đã rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết, làm
việc nhóm và hình thành năng lực NCKH cho HS. Điều này cũng giúp các em trong
việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, làm quen dần với phương pháp nghiên cứu. Sự cải
thiện về cơ sở vật chất của trường như thư viện, tài liệu tham khảo, phòng máy,
internet… cũng tạo điều kiện cho các em NCKH cả về vật chất lẫn tinh thần trong
phạm vi có thể. Việc tổ chức cuộc thi KHKT dành cho HS trung học là cơ hội tốt cổ
vũ, phát động công tác NCKH, kỹ thuật trong nhà trường và HS trung học.
HS nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt, đặc biệt là về chuyên môn, phương
pháp NCKH của các GV, giảng viên, cán bộ khoa học hoặc sự hỗ trợ của các Viện,
các trường Đại học. GV còn hướng dẫn HS cách tự khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu
cuộc sống xung quanh; tạo sự ham muốn khám phá, say mê khoa học của các em.
Điều quan trọng là thông qua NCKH sẽ khơi nguồn cho những sáng tạo và
đánh thức những khả năng tiềm ẩn của mỗi HS, phát huy tối đa tính trẻ, khả năng tư
duy đó là những ý tưởng khoa học mạnh dạn và táo bạo những cũng không thiếu
tính hiệu quả và khả thi cao.
(2). Khó khăn
Bên cạnh đó, hoạt động này trong quá trình triển khai cũng gặp phải không ít
khó khăn: Việc triển khai NCKH đối với HS là rất mới với các trường trung học
nên nhiều trường vẫn còn rất bỡ ngỡ trong công tác hướng dẫn, quản lý cũng như
việc tổ chức công tác NCKH. Về nhận thức của phụ huynh, nhiều người vẫn cho
rằng đề ra việc NCKH đối với HS phổ thông là quá xa vời, các em chỉ cần nắm
vững kiến thức và kỹ năng ở chương trình giáo dục phổ thông, vượt qua kỳ thi tốt
nghiệp và tuyển sinh ĐH là đạt yêu cầu, nên sẽ khó nhận được sự ủng hộ về vật
chất, tinh thần của phụ huynh và của chính các em.
Về phía GV, cán bộ hướng dẫn, hầu hết các GV chỉ chú trọng đầu tư cho
chuyên môn nên kinh nghiệm NCKH vẫn còn hạn chế. Mặt khác GV, giảng viên
pháp NCKH, về tổ chức hoạt động NCKH. Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền rộng rãi
mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động NCKH của HS đến cán bộ quản lí, GV, HS,
25