BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Nguyễn thiện thuật
Sù thích ứng
với hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên trường cao đẳng sư phạm bạc liêu
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TÂM LÝ HỌC
Hà nội – 2005
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Nguyễn thiện thuật
1
Sù thích ứng
với hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên trường cao đẳng sư phạm bạc liêu
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã sè : 60.31.80
Người hướng dẫn khoa học : PGS-TS NGUYỄN THẠC
Hà nội – 2005
2
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, các cô khoa Tâm lý – Giáo
dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin thành thật cảm ơn thầy Nguyễn Thạc
đã tận tình giúp đỡ em một cách chu đáo trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này !
Tôi xin cảm ơn các thầy, các cô trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu
trong hoạt động giảng dạy và giáo dục của mình đối với học sinh. Hoạt động
nghiên cứu khoa học luôn bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy của người
giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Công việc này của người giáo viên
đòi hỏi phải được hình thành, được thích ứng càng sớm càng tốt, đặc biệt là ngay
từ khi còn là sinh viên trong các trường sư phạm. Sự thích ứng là một điều kiện
cơ bản để đảm bảo cho sự thành công trong mọi hoạt động của con người.
Để cho các sinh viên sư phạm sớm thích ứng với hoạt động nghiên cứu
khoa học một cách thuận lợi thì đòi hỏi người giáo viên sư phạm không chỉ biết
nghiên cứu khoa học, nhiệt tình hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu khoa
học mà còn đòi hỏi người giảng viên sư phạm phải biết, phải nắm thực trạng sự
4
thích ứng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và những nguyên
nhân của thực trạng đó một cách có cơ sở.
Đối với các trường vùng xa, vùng sâu nơi Ýt có hoàn cảnh học tập qua các
phương tiện thông tin đại chúng, nơi Ýt có điều kiện tiếp xúc với sách vở thì việc
sớm hình thành khả năng nghiên cứu khoa học thật sự cho sinh viên ngay từ khi
họ còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm càng là vấn đề có nhiều khó khăn,
phức tạp nhưng lại càng là một yêu cầu bước thiết, cấp bách.
Là một giảng viên dạy Tâm lý học ở Trường Cao đẳng sư phạm của một
tỉnh vùng sâu, nơi công tác nghiên cứu khoa học Ýt được quan tâm, Ýt được chú
ý trong khi nó đòi hỏi phải được quan tâm hơn, tôi thấy mình cũng có phần trách
nhiệm không nhỏ trong việc tham gia vào quá trình giúp sinh viên nhanh chóng
thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học. Ý thức được tầm quan trọng của
vấn đề trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của
mình là tìm hiểu: “ Sự thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu.”
2 / MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra thực trạng sự thích ứng với
hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường C.Đ.S.P tỉnh Bạc-Liêu, chỉ
ra yếu tố cơ bản làm ảnh hưởng đến thực trạng này và trên cơ sở đó xây dựng
dục và việc làm bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục cuối khoá của sinh viên.
7 / PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Phương pháp điều tra.
Phương pháp thống kê toán học.
8 / CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI :
6
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề thích ứng của sinh viên cao đẳng
sư phạm đối với hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục. Đề tài cũng góp phần
chỉ ra một số biện pháp nhằm nâng cao thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa
học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường Cao dẳng Sư phạm và có thể
được áp dụng các biện pháp đó vào công tác đào tạo của các trường cao đẳng và
đại học sư phạm trong những điều kiện giảng dạy và học tập tương tù.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC
VỀ THÍCH ỨNG
1. MỘT VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG:
Thích ứng là một trong những vấn đề quan trọng của đời sống tâm lý con
người, nó có một ý nghĩa to lớn đối với kết quả hoạt động của mỗi con người cụ
thể. Thích ứng không phải chỉ là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học mà còn là
đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như Sinh lý học, Y học,
Triết học… Vì vậy vấn đề thích ứng đã được nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
nghiên cứu từ lâu, song nó lại là vấn đề mới, Ýt được quan tâm nghiên cứu so
7
với các lĩnh vực khác trong Tâm lý học. Chúng ta có thể kể đến một số tác giả
tiêu biểu với những công trình lớn nghiên cứu về thích ứng trong lịch sử của Tâm
lý học thế giới:
H.Spencer (1820-1903) đã nghiên cứu sự thích ứng trên mối quan hệ mật
thiết giữa con người với môi trường sống. Đó chính là mối quan hệ giữa các yếu
Thị Vân. Luận văn thạc sỹ năm 2002.
Điểm qua một số công trình trên, ta thấy các tác giả tập trung nghiên cứu
về sự thích ứng nghề nghiệp và chủ yếu ở sinh viên sư phạm. Ngoài các luận án
tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và mét số bài báo thì hình như chưa có một công trình
khoa học nào đi sâu nghiên cứu lý luận về thích ứng ở góc độ cũa Tâm lý học.
Với một lực lượng nghiên cứu về thích ứng quá mỏng và số lượng các công trình
rất Ýt này thì nghiên cứu sự thích ứng với họat động nghiên cứu khoa học của
sinh viên là một việc làm cần thiết và góp phần làm sáng tỏ thêm về thích ứng
mà ngày nay nó vẫn còn là một vấn đề Ýt được khám phá.
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về thích ứng trên, chúng ta có thể
nói rằng thích ứng là một vấn đề quan trọng đối với cuộc sống của mỗi người và
đối với xã hội. Thích ứng đã được đề cập đến từ lâu trong lịch sử của nhiều
ngành khoa học khác nhau. Trong Tâm lý học, thích ứng được xem xét, nghiên
cứu chủ yếu ở hai góc độ chính: Nghiên cứu về bản chất của thích ứng và nghiên
cứu về các hình thức thích ứng cụ thể với các họat động khác nhau trong thực
tiễn cuộc sống. Mặc dù thích ứng đã được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, song
đến nay nó vẫn còn là một vấn đề có nhiều phức tạp, vẫn còn tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau về thích ứng. Khái niệm thích ứng vẫn được hiểu là đồng nghĩa
với khái niệm thích nghi trong nhiều trường hợp, đôi khi còn được hiểu là sự
thích nghi sinh học. Với Tâm lý học, thích ứng vẫn còn là một vấn đề mới mẻ,
Ýt được quan tâm nghiên cứu.
2. LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG TRONG TÂM LÝ HỌC.
2.1 Khái niệm về thích ứng.
9
Như trên đã nói, hiện nay thích ứng vẫn đang còn là một trong những vấn
đề mới mẻ và có nhiều phức tạp trong Tâm lý học. Khái niệm thích ứng được
hiểu với nhiều góc độ khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây, khái
niệm thích ứng chỉ được bàn đến chủ yếu ở góc độ tâm lý học và trong phạm vi
thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề, cần
làm sáng tỏ thêm một số khái niệm cơ bản của thích ứng ở góc độ Tâm lý học,
xã hội của con người vì vậy họ đã rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét về
thích ứng nên đã không giải quyết triệt để được vấn đề. Đây chưa phải là tri thức
khoa học, chưa phải là quan niệm khoa học về thích ứng.
2. Theo quan điểm của các nhà khoa học, các nhà tâm lý học thì thích ứng
mang nhiều khía cạnh, dáng vẻ khác nhau:
* Thuyết Tiến hóa thực chứng luận.
Đại biểu của học thuyết này có thể kể đến H.Spencer (1820-1903). Ông
cho rằng các khái niệm về tiến hóa sinh vật, các quy luật và cơ chế của sự thích
nghi sinh vật về mặt nguyên tắc cũng hoàn toàn đúng với con người. Ông đã
không thấy được mặt xã hội trong hoạt động, trong quá trình thích ứng của con
người. Với con người, ngoài sự tác động của môi trường tù nhiên giống với sinh
vật, còn có môi trường xã hội làm ảnh hưởng đến đời sống của họ. Điều này
cũng đã được Spencer lưu ý đến, nhưng ông cho rằng chính vì vậy mà cơ chế
thích ứng ở con người có phần phức tạp hơn. Ông cho rằng “ khi chuyển từ
động vật lên người, các quá trình thích nghi – loài và cá thể – chỉ phức tạp thêm
về mặt số lượng.” [6, 52]. Nếu cho rằng thích ứng ở con người chỉ phức tạp hơn
ở con vật về mặt số lượng thì quả là một hạn chế lớn. Ông đã đánh đồng sù thích
ứng của con người với con vật.
* Chủ nghĩa Hành vi:
Những người theo chủ nghĩa Hành vi, đại diện là J.Watson (1878-1958)
cho rằng cuộc sống của con người là tổng hợp nhiều hành vi khác nhau giúp họ
thích nghi với môi trường sống xung quanh. Họ cho rằng mối quan hệ giữa hành
vi và ngọai cảnh được thể hiện bằng công thức S > R. Khi có kích thích từ bên
11
ngoài tới(S) thì sẽ tạo ra hành vi tương ứng(R). Mối quan hệ giữa S và R là mối
quan hệ một chiều. Sự tác động của ngọai cảnh dần hình thành ở cá thể hệ thống
những hành vi tương ứng, phù hợp với môi trường. Đây là điều kiện đảm bảo sự
tồn tại của con người cũng như con vật. Theo Watson thì học tập, thích ứng là
quá trình hình thành phản xạ có điều kiện. Nó là hiện tượng sinh lý chứ không
phải hiện tượng tâm lý. “Theo J. Watson, việc học diễn ra bằng phương pháp
là một hiện tượng thay đổi thụ động, thiếu tính tích cực. Về bản chất, thuyết
Hành vi xã hội của Skinner cũng không khác thuyết hành vi cổ điển. Quan niện
này của Skinner không hoàn toàn đúng với thực tiễn, không phù hợp với quan
điểm tâm lý học hiện đại.
* Quan niệm của Phân tâm học:
Người sáng lập ra thuyết Phân tâm học là một bác sỹ người Áo, Sigmund
Freud (1859-1939). Ông cho rằng toàn bộ họat động sống của con người được
quy định bởi ba yếu tố cơ bản: Vô thức, tiền ý thức và ý thức. Trong 3 yếu tố này
thì vô thức giữ vai trò quan trọng nhất. Trong vô thức thì chủ yếu là bản năng
tình dục. Đây là nguồn gốc tạo ra những năng lượng điều khiển, điều chỉnh hành
động của con người. Ông cho rằng “ Về nguồn gốc, mọi hành vi phải được bắt
đầu từ vô thức.” [9,247]. Nó tạo ra mối tương quan giữa ý thức và vô thức, tạo ra
sự điều hòa giữa cái vô thức và ý thức - đó chính là sự thích ứng. “ mối tương
quan giữa ý thức và vô thức, mối tương quan vốn đặc trưng cho nhân cách. Cái
“libiđo” do Freud tách ra không những chỉ là một nguồn gốc có tính chất năng
lượng sinh vật của tính tích cực họat động, mà còn là một cấp độ đặc biệt trong
nhân cách - cấp “nó”, đối lập với cấp “tôi” và cấp “siêu tôi”.” [6,249]
Tóm lại: Phân tâm học coi con người thực chất là “con người bản năng”
luôn độc lập với môi trường xung quanh. Như vậy khả năng thích ứng với cuộc
sống của cá nhân được thể hiện khi họ biết kìm nén, chế ngự các bản năng vô
thức luôn bùng phát, luôn đòi hỏi được thỏa mãn. Phân tâm học đã quá đề cao
vai trò của vô thức, gần như phủ nhận vai trò của ý thức, phủ nhận bản chất xã
hội trong quá trình thích ứng. Hạn chế của Freud là đã sinh vật hóa con người.
13
* Tâm lý học nhận thức:
Một đại biểu của Tâm lý học Nhận thức là J.Piagiet cho rằng trí tuệ và
thao tác tư duy là nhân tố chủ yếu quy định mối quan hệ giữa con người với hoàn
cảnh sống xung quanh. Theo ông, trí tuệ có vai trò quan trọng, vai trò quyết định
đến sự thích nghi của con người với ngoại cảnh. Trí tuệ giúp cho cá nhân thiết
lập mối quan hệ giữa họ với hoàn cảnh và mọi người. Sự thích ứng của cá nhân
nghi chủ yếu làm thay đổi về mặt sinh lý.
Trong thức tế , có người đã cho rằng thích nghi và thích ứng là một, thích
ứng là thích nghi. Chẳng hạn như E.A. Ecmolaeva khi bàn về sự thích ứng của
con người với hoạt động lao động đã viết “Thích ứng là quá trình thích nghi của
người bắt đầu lao động với các đặc điểm và điều kiện lao động với một tập thể
nhất định.” [12] Có thể nói thuật ngữ “Thích nghi” đã được sử dụng từ rất lâu
trong Tiến hóa sinh học. Nó được hiểu như là một thuộc tính tù nhiên, tất yếu
của mọi sinh vật, cả thực vật và động vật. Như vậy, ở người cũng có hiện tựơng
thích nghi, nhưng con người không chỉ là một thực thể tự nhiên mà còn là một
thực thể xã hội, nên đời sống con người bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố xã hội, bởi
ý thức con người nên hiện tựơng thích nghi ở con người đã bị lắng xuống rất
nhiều so với con vật. Hiện tượng nổi lên ở con người là hiện tượng thích ứng, sự
thích ứng tâm lý. Sự thích nghi ở con vật có thể được bắt đầu bằng một sự biến
dị. Ngược lại, sự thích ứng thì không. Theo A.N.Lêônchép thì điều kiện sống
không làm thay đổi con người như ở con vật nữa: “Bước ngoặt đó biểu hiện ở
chỗ sự phát triển có tính xã hội-lịch sử của con người không còn phụ thuộc vào
sự phát triển hình thái của nó như trước đây nữa.” [6,35]
Theo góc độ sinh vật học, thuật ngữ “Thích nghi” được hiểu là một hiện
tượng diễn ra ở cơ thể động vật khi hoàn cảnh sống thay đổi thì "hoạt động" của
con vật buộc phải thay đổi theo, nếu không con vật sẽ bị đào thải. Đây là cơ sở
của biến dị và chọn lọc tự nhiên trong giới sinh vật. Sự thích nghi là sự thay đổi
về cấu tạo cơ thể, thay đổi về chức năng của các cơ quan trong cơ thể, về khả
15
năng hoạt động. Lêônchép cho rằng: “Quá trình thích nghi người ta thường
dùng cho động vật. Thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của
loài, năng lực và hành vi bẩm sinh của chủ thể, do đòi hỏi của môi trường tạo ra
quá trình thay đổi đó.” [6,421]. Như vậy, sự thích nghi là một hiện tượng sinh
học, nó chịu sự chi phối chủ yếu của hoàn cảnh sống, nó mang tính thụ động. Đó
là sự thay đổi chủ yếu về mặt sinh học vì vậy nó Ýt chịu sự chi phối trực tiếp
bởi ý thức.
quá trình hình thành, tiếp thu, lĩnh hội. Két qủa của thích ứng là con người tái tạo
những năng lực, những chức năng người đã được hình thành trong quá trình phát
triển của lịch sử, đồng thời con người cũng góp phần sáng tạo ra một phần năng
lực mới. Thích ứng phải là một quá trình.
Từ những điều đã phân tích, chúng tôi rót ra kết luận khái quát như sau :
Thích ứng là một quá trình thay đổi nhân cách con người trong những
hoàn cảnh hoạt động nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu, những đòi hỏi
của hoàn cảnh đó, nó là một yếu tố quan trọng đảm bảo sù hoạt động và tồn
tại của con người.
Như vậy, để thích ứng, con người cần phải có một quá trình để thay đổi
bản thân. Khi thích ứng, con người phải thay đổi nhận thức của mình về hiện
thực, thay đổi thái độ của mình đối với hiện thực và phải thay đổi kỹ năng hoạt
động thậm chí có thể thay đổi cả những yếu tố về mặt sinh học của cơ thể.
2.3 Các hình thức thích ứng.
Với những điều đã phân tích về thích ứng, chúng ta có thể đưa ra nhiều cơ
sở khác nhau để phân loại các hình thức thích ứng.
Thích ứng là sự thay đổi bản thân, sự thay đổi này có thể diễn ra ở nhiều
mặt khác nhau. Thích ứng là sự biến đổi con người nên có thể coi chúng là một
trong những thuộc tính của nhân cách. Như vậy, ta có thể dùa vào nội dung thay
đổi cá nhân trong quá trình thích ứng hoặc dùa vào nhân cách để phân loại.
a) Nếu dùa vào nội dung thay đổi để phân loại thích ứng thì ta có :
17
- Thích ứng sinh học: Thích ứng sinh học là sự biến đổi về mặt sinh học
của cơ thể, là sự biến đổi các cấu trúc và chức năng của cơ thể hoặc một bộ phận
nào đó của cơ thể cho phù hợp với điều kiện sống tương đối ổn định của môi
trường. Sự thích ứng này cũng do hoạt động của cơ thể tạo ra, nó có thể diễn ra
chậm chạp và có thể nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp của ý thức. Sự thích ứng
này gần với sù thích nghi. Trong thực tế ở con người, sự thích ứng sinh học gần
như không sảy ra một cách độc lập mà nó được diễn ra đồng thời với thích ứng
tâm lý và thích ứng xã hội trong mối quan hệ thống nhất.
những kinh nghiệm nhất định để thay đổi nhận thức của bản thân về nghề nghiệp.
Tiếp theo, con người phải tiến hành hoạt động để hình thành các kỹ năng hoạt
động, kỹ năng hành nghề. Trên cơ sở đó những đặc điểm, những phẩm chất tâm
lý của cá nhân cũng dần được thay đổi một cách tưong ứng cho phù hợp với yêu
cầu của hoạt động. Như vậy, để thích ứng nghề nghiệp, con người phải học nghề
và hành nghề.
Tóm lại thích ứng nghề nghiệp là hiện tượng biến đổi của con người nhằm
mục đích nắm vững những phương thức hoạt động trong một lĩnh vực hoạt động
xã hội nhất định để tham gia hoạt động đó đạt kết quả. Với con người, với xã hội
loài người thì thích ứng nghề nghiệp là một hiện tượng mang tính phổ biến.
3. HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.
3.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học.
Khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học là những khái niệm được sử
dụng khá phổ biến trong cuộc sống, trong các nhà trường đặc biệt là trong các
trường chuyên nghiệp ngày nay. Tuy nhiên để cho việc xem xét vấn đề một cách
tập trung và có hệ thống, chúng ta nên nhắc lại những khái niệm này ở một góc
độ cần thiết nhất định.
19
Cho đến nay vẫn còn tồn tại không Ýt những khái niệm khác nhau về khoa
học và hoạt động nghiên cứu khoa học đó là chưa kể đến những quan điểm từ xa
xưa và rất xa xưa về trước. Nhìn chung, ngày nay có hai hướng quan niệm khác
nhau về khoa học và nghiên cứu khoa học.
Hướng thứ nhất quan niệm rằng khoa học là hệ thống kiến thức, tri thức
của con người về thế giới mà họ đã tìm kiếm, phát hiện và tích lũy được trong
lịch sử phát triển của xã hội. Họ cho rằng khoa học chính là “ toàn bộ hệ thống
kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ được về những quy luật trong sự phát triển
của tự nhiên, của xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động có kế hoạch đến
thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó nhằm phục vụ
lợi Ých của con người.” [7,2]. Khoa học ở đây được hiểu là tri thức, là kiến thức
về các lĩnh vực của thế giới khách quan mà con người đã phát hiện được, đã
nghiên cứu khoa học hay nghiên cứu khoa học thì lẽ tất yếu là nó sẽ tạo ra những
tri thức khoa học và khi ta nói khoa học thì đó là kết quả, là sản phẩm tất yếu
của hoạt động nghiên cứu khoa học. Khoa học được tạo bởi họat động nghiên
cứu khoa học. Khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học là hai mặt của một
vấn đề thống nhất, không thể tách rời.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và khoa học là hai khái niện có quan hệ
chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, nhưng nếu ta động nhất hai khái niệm này
thì sẽ rất khó cho việc xem xét vấn đề. Nên hiểu nghiên cứu khoa học là hoạt
động có sử dụng tri thức khoa học đã có và nó cũng lại sáng tạo ra những tri thức
khoa học mới.
Đến đây, chúng ta có thể thống nhất rằng khoa học là hệ thống tri thức về
thế giới khách quan. Tri thức khoa học có những điểm khác với tri thức thông
thường. Tri thức thông thường là những tri thức mà “Bằng các giác quan, con
người tri giác, cảm nhận về bản thân, về thế giới và xã hội xung quanh, từ đó có
những kinh nghiệm sống, những hiểu biết về mọi mặt.” [15,15]. Tri thức thông
thường được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, được con người sử dụng,
trao đổi với nhau, truyền đạt lại cho nhau, chúng dần được hoàn thiện. Tri thức
21
khoa học là “ kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế họach, có
phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngò các nhà khoa học thực
hiện.”[15,16]. Như vậy, không phải mọi tri thức do con người tạo ra, phát hiện ra
đều là tri thức khoa học mà chỉ những tri thức do các nhà khoa học tìm ra trong
những điều kiện nhất định mới là tri thức khoa học. Tri thức khoa học là sản
phẩm họat động cao cấp của con người. Tri thức khoa học và tri thức thông
thường có sự khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Như vậy, nghiên cứu khoa học là một hoạt động, hoạt động tạo ra những
tri thức khoa học, tạo ra những tri thức có giá trị về mặt lý luận hoặc thực tiễn
nhất định. Hoạt động này là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có phương
pháp và phương tiện đặc biệt.
Với những suy nghĩ, quan niệm đã phân tích trên, chúng ta có thể khái
Nghiên cứu triển khai: là lọai hình nghiên cứu có mục đích tìm khả năng
áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế cuộc sống.
Nghiên cứu dự báo: có mục đích tìm tòi, phát hiện những triển vọng,
những khả năng, xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn.
* Nếu dùa vào chức năng của quá trình nghiên cứu [7,17] thì ta có :
Nghiên cứu mô tả là quá trình nghiên cứu để trình bày về một hiện tượng,
sự việc một cách chuẩn xác, có trình tự, có hệ thống nhằm giúp mọi người hiểu
được vấn đề, để phổ biến cho mọi người hưởng ứng, làm theo.
Nghiên cứu giải thích là nghiên cứu để lập luận, để kiến giải một vấn đề
nào đó trên cơ sở khoa học. Giải thích ở đây là làm rõ nguyên nhân dẵn đền sự
hình thành và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của sự việc,
sự vật mà ta cần giải thích.
Nghiên cứu tiên đoán là nghiên cứu để ngoại suy thấy được trước các xu
thế vận động và phát triển của sự vật , hiện tượng. Việc tiên đoán có thể dùa vào
mô tả và giải thích.
Nghiên cứu sáng tạo là quá trình nghiên cứu để tìm ra những tri thức,
những quy luật và các giải pháp mới.
23
3.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
* Trong các hình thức nghiên cứu khoa học đã được trình bày thì hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm chỉ yêu cầu
ở mức làm bài tập nghiên cứu khoa học giáo dục cuối khoá. Đây là hoạt động tập
tìm hiểu chủ yếu về các hoạt động, các hiện tượng thực tiễn của công tác giáo
dục ở địa phương, đặc biệt là nơi mà sinh viên về thực tập sư phạm cuối khóa.
Hoạt động này có mấy điểm cần chú ý:
- Mục đích yêu cầu:
Về nhận thức, sinh viên phải nắm được những công việc cơ bản của quá
trình thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục.
Về mặt kỹ năng, bước đầu giúp sinh viên biết cách tiến hành một công
trình nghiên cứu khoa học cụ thể, hình thành những kỹ năng cơ bản của người
tham khảo cho việc hướng dẫn sinh viên Cao đẳng Sư phạm tập nghiên cứu khoa
học và tạo điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu của các em được tốt hơn. Đây
cũng sẽ là một trong những cơ sở ban đầu cần thiết cho sinh viên sau khi ra
trường làm công tác nghiên cứu khoa học ở các trường trung học phổ thông cơ sở
đạt kết quả tốt.
4. sự thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Với những nội dung đã phân tích, ta thấy: Khi con người tiến hành bất cứ hoạt
động nào thì họ cũng phải thích ứng được với hoạt động đó. Đối với hoạt động
nghiên cứu khoa học cũng vậy, Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập tới
sự thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên cao đẳng sư phạm.
Thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại thích ứng xã
hội, thích ứng nghề nghiệp.
Với những nội dung đã phân tích về thích ứng, về hoạt động nghiên cứu khoa
học, chúng tôi hiểu sự thích ứng với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người sinh viên với những
kinh nghiệm và hoạt động nghiên cứu khoa học. Biểu hiện của sự biến đổi này là
người sinh viên biết chủ động, tự giác huy động toàn bộ những chức năng tâm lý
25