BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Cao Thị Hồng Nhung
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ BẾN TRE
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Cao Thị Hồng Nhung
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ BẾN TRE
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-2010)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
CBQL
Cán bộ quản lý
CĐSP
Cao đẳng sư phạm
GV
Giáo viên
GD-ĐT
Giáo dục và đào tạo
HKH
Hội khuyến học
HS
Học sinh
PCTHCS
Phổ cập trung học cơ sở
PCGDTH
0T
0T
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................. 2
0T
0T
MỤC LỤC ............................................................................................................................ 3
0T
T
0
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 6
0T
T
0
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................................................... 6
0T
0T
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................................................ 7
0T
0T
ĐỔI MỚI (1975-1985)........................................................................................................ 13
0T
1.1. Khái quát về thành phố Bến Tre từ sau ngày giải phóng đến trước đổi mới ...................................... 13
0T
T
0
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.................................................................................................................... 13
T
0
0T
1.1.2. Đặc điểm lịch sử, dân cư, văn hóa ............................................................................................ 14
T
0
T
0
1.2. Tình hình giáo dục phổ thông ở thành phố Bến Tre từ 1975-1985. ................................................... 18
0T
T
0
1.2.1. Hệ thống quản lý ngành .......................................................................................................... 18
T
T
0
0T
1.3.3. Nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục và đào tạo thành phố Bến Tre..................................... 30
T
0
T
0
Chương 2 . GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ BẾN TRE TRONG MƯỜI
0T
NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986-1996). ................................................................................... 32
0T
2.1. Đường lối đổi mới giáo dục- đào tạo của Đảng và việc triển khai ở thành phố Bến Tre .................... 32
0T
T
0
2.1.1. Bối cảnh lịch sử của công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo ...................................................... 32
T
0
T
2.1.3.1. Giai đoạn 1986 – 1991...................................................................................................... 35
T
0
0T
2.1.3.2. Giai đoạn 1991 – 1996...................................................................................................... 37
T
0
0T
2.2. Những thành quả và hạn chế của giáo dục phổ thông thành phố Bến Tre trong mười năm đổi mới
0T
(1986-1996). .......................................................................................................................................... 38
T
0
2.2.1. Quy mô phát triển và hiệu quả đào tạo. .................................................................................... 38
T
0
T
0
2.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên ........................................................... 43
T
0
0T
Tre ......................................................................................................................................................... 55
T
0
3.1.1. Bối cảnh lịch sử ....................................................................................................................... 55
T
0
0T
3.1.2. Những quan điểm, chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới Giáo dục – Đào tạo...................... 56
T
0
T
0
3.1.3. Thực hiện chủ trương tiếp tục đổi mới giáo dục ở thành phố Bến Tre ....................................... 59
T
0
T
0
3.2. Những thành quả và hạn chế của giáo dục phổ thông ở thành phố Bến Tre trong những năm 19970T
2010 ....................................................................................................................................................... 60
T
3.2.5. Phối hợp giáo dục giữa Gia đình – Nhà trường- Xã hội ............................................................ 86
T
0
T
0
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 91
0T
T
0
1. Thành tựu giáo dục Bến Tre trong 25 năm đổi mới (1986 – 2010) ...................................................... 91
0T
T
0
2. Nguyên nhân thành tựu đó .................................................................................................................. 92
0T
0T
3. Những hạn chế, yếu kém của giáo dục phổ thông thành phố Bến Tre.................................................. 93
0T
T
0
sách của Đảng và Nhà nước luôn lấy quan điểm của Hồ Chí Minh làm nền tảng:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm thử thách, dù trong điều kiện chiến tranh, hay sự
non yếu của kinh tế đất nước nhưng nền giáo dục nước ta vẫn giữ bản chất “của dân, do dân
và vì dân”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân ấy, giáo dục phổ thông là “nền tảng văn hóa của
một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu
cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[63;tr 94-96]. Song
những năm gần đây, giáo dục phổ thông đã đặt ra những vấn đề cấp bách như: chạy theo
thành tích, thương mại hóa trong giáo dục, nội dung chương trình quá tải…Những vấn đề
cấp bách ấy là những thách thức mới đối với giáo dục của đất nước nói chung, giáo dục của
từng địa phương nói riêng trong đó có tỉnh Bến Tre.
Bến Tre là nơi hội tụ những nhà giáo nổi tiếng: Võ Trường Toản – thầy của những bậc
thầy; Đồ Chiểu – người thầy mù, yêu nước nồng nàn với câu thơ bất hủ: “Đâm mấy thằng
gian bút chẳng tà”; Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh và biết bao thầy giáo đã đào tạo ra những thế
hệ con người biết yêu thương người, thông minh, bất khuất, bản lĩnh, đã viết nên những trang
sử vẻ vang cho quê hương.
Thành phố Bến Tre được sản sinh từ mảnh đất anh hùng Đồng Khởi , nằm vị trí trung
tâm của tỉnh Bến Tre, với hệ thống giao thông thủy bộ thuận lợi. Từ thành phố Bến Tre tàu
thuyền có thể đi thẳng tới thành phố Hồ Chí Minh, sang Mỹ Tho đến Cần Thơ, hoặc đến
trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ và có thể ngược dòng Cửu Long đến thủ đô
Phnompenh của Campuchia.
Anh dũng trong đấu tranh, cần cù, sáng tạo trong lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng
bộ thành phố Bến Tre, sau khi giành được thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp,
chống Mĩ, toàn Đảng, toàn dân thành phố Bến Tre nhanh chóng bước vào nhiệm vụ khắc
phục hậu quả chiến tranh, xây dựng quê hương giàu đẹp. Với sự nổ lực vượt bậc ấy, thành
phố Bến Tre đã gặt hái nhiều thành tựu quan trọng, trên mọi lĩnh vực trong đó có giáo dục
- Bộ giáo dục và đào tạo (1996), Tổng kết đánh giá mười năm đổi mới giáo dục (19861996) đã tổng hợp báo cáo của các địa phương sau 10 năm tiến hành đổi mới giáo dục.
Trong đó, thành tích giáo dục của các địa phương được trình bày cụ thể.
- Bộ giáo dục và đào tạo (1995), Các định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào
tạo từ nay đến 2010 nêu ra những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo
dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Những tài liệu trên đã thể hiện những định hướng phát triển giáo dục của Đảng và Nhà
nước trong 25 năm đổi mới. Trong đó, tài liệu dành phần lớn chủ trương, đường lối để đưa
giáo dục phổ thông phát triển ở mỗi giai đoạn cụ thể.
- Cuốn “Từ bộ Quốc gia đến bộ giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)” do Vũ Xuân Ba,
Phạm Duy Bình, Nguyễn Minh Đường chủ biên, được Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm
1995.Với tính chất là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,cuốn sách dành một phần nói
về sự chỉ đạo của Bộ đối với ngành giáo dục phổ thông, nêu sơ qua giai đoạn 1975 – 1995.
Qua đây cho ta thấy sự quan tâm chỉ đạo, triển khai các đường lối chính sách về giáo dục
phổ thông của Đảng đối với ngành giáo dục phổ thông giai đoạn 1975-1995.
- Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam là tác phẩm của tác giả Lê
Văn Giạng do Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm 2003, tác giả đã dành phần để
trình bày về hoạt động nền giáo dục của nước Việt Nam thống nhất và chủ nghĩa xã hội (từ
năm 1975 đến năm 2000). Tuy nhiên, tác giả cũng mới chỉ trình bày một cách khái quát nhất
có thể của nền giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục phổ thông giai đoạn này được đề cập
đến một cách sơ lược.
- Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông 1986-2000, là luận
văn thạc sĩ lịch sử (năm 2007) của tác giả Trương Thị Hoa thuộc Đại học khoa học xã hội và
nhân văn, Hà Nội. Thông qua luận văn này, tác giả trình bày một cách công phu, hệ thống sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp 15 năm đổi mới giáo dục phổ thông.
Qua đó, chúng ta có thể hình dung một cách rõ ràng về sự phát triển giáo dục phổ thông
nước nhà trong thời gian này.
- Cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam của tác giả Bùi Minh Hiền biên soạn được phát
đưa ra những giải pháp mang tính khả thi xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý tại các trường
công lập tỉnh Bến Tre.
Tuy nhiên vẫn chưa có tác phẩm, công trình nào đi sâu và trình bày đầy đủ về giáo dục
phổ thông thành phố Bến Tre từ 1986 đến 2010. Trên cơ sở tiếp thu những thành quả đó, bản
thân muốn góp phần vào việc thu thập, phân tích, khái quát về sự phát triển của giáo dục phổ
thông thành phố ở Bến Tre trong 25 năm đổi mới.
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là sự phát triển giáo dục phổ thông (hệ
công lập) thành phố Bến Tre từ năm 1986 dến 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: thành phố Bến Tre với địa giới hành chính hiện tại năm 2010 ( gồm 10
phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Khương, Phú Tân và 6 xã Sơn Đông, Mỹ Thạnh An, Phú
Nhuận, Nhơn Thạnh, Phú Hưng, Bình Phú)
Về thời gian: nghiên cứu giáo dục phổ thông ở thành phố Bến Tre 1986 – 2010.
Đến năm 2009, thị xã Bến Tre công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh, do đó xét về
phạm vi nghiên cứu luận văn thống nhất sẽ dùng chung “thành phố Bến Tre” thay cho “thị xã
Bến Tre”.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu: Nghị quyết, Chỉ
thị của Đảng về giáo dục và giáo dục phổ thông, các Văn bản chỉ thị của Đảng bộ thành phố
Bến Tre nhằm triển khai kế hoạch của Đảng.
Đề tài kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu từ các cuốn sách, các công trình
nghiên cứu của các tác giả, các nhà khoa học đi trước về giáo dục phổ thông. Bên cạnh đó,
đề tài còn sử dụng những số liệu thống kê từ những tổng kết của Sở giáo dục, Phòng Giáo
dục, Cục thống kê tỉnh. Nguồn tư liệu sử dụng là tài liệu có độ chính xác, mang tính khoa
học và có khả năng đáp ứng tốt cho nghiên cứu của đề tài.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội
dung, phần kết luận.
Riêng phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương
- Chương I: Giáo dục phổ ở thông thành phố Bến Tre thời kì trước đổi mới (19751985)
- Chương II: Giáo dục phổ thông ở thành phố Bến Tre trong mười năm đầu đổi mới
(1986-1996)
- Chương III:Giáo dục phổ thông ở thành phố Bến Tre những năm 1997- 2010
Chương 1. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ BẾN TRE THỜI KÌ
TRƯỚC ĐỔI MỚI (1975-1985)
1.1. Khái quát về thành phố Bến Tre từ sau ngày giải phóng đến trước đổi mới
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có diện
tích tự nhiên khoảng 2.315km2, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh,
P
P
phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long và phía đông giáp biển, có chiều dài bờ biển khoảng chừng
65km. Bến Tre được hợp thành bởi ba cù lao lớn là: cù lao Minh, cù lao An Hóa và cù lao
Bảo, do phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long là sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai
và sông Cổ Chiên bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ. Hệ thống kênh rạch nơi đây chằng chịt liên
thông với nhau, nối liền các dòng sông lớn như Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên
nên không chỉ thuận lợi cho việc giao thông bằng đường thủy mà còn thuận lợi trong sản
xuất nông nghiệp.
Thành phố Bến Tre được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các
* Sự thay đổi đơn vị hành chính
Địa danh Bến Tre xuất hiện dưới thời nhà Nguyễn và trở thành trung tâm hành chính
kể từ khi Pháp đặt dinh tham biện đầu tiên bên bờ rạch Bến Tre (tháng 6-1867). Năm 1871,
sở tham biện Bến Tre là một trong số 7 sở tham biện bị bãi bỏ để sáp nhập với sở tham biện
Mỏ Cày. Ngày 02-09-1871, sở tham biện Mỏ Cày dời lỵ sở về chỗ cũ bên rạch Bến Tre (làng
An Hội). Ngày 01-01-1900, Pháp bỏ sở tham biện để thành lập tỉnh Bến Tre, tỉnh lỵ Bến Tre
được nâng cấp từ sở lỵ sở tham biện Mỏ Cày trước đó.
Sau khi thiết lập được bộ máy hành chính trên đất Bến Tre, người Pháp bắt đầu kiến
thiết các công sở, mở mang đường phố, bến, chợ... ở nơi tỉnh lỵ như: nhà bưu điện (1872),
dinh tham biện (1876), khu nhà giam (1882), ngân khố (1885), trường tiểu học (1887), nhà
lồng chợ (1892), bệnh xá (1889). Một số cơ sở giải trí, phục vụ cho sinh hoạt binh lính, công
chức cũng lần lượt được xây dựng tiếp vào đầu thế kỷ XX.Tuy nhiên, người Pháp không có
ý định xây dựng Bến tre thành một đô thị lớn.
Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Bến Tre đổi thành tỉnh Kiến Hoà, thị xã Bến Tre đổi
thành quận Trúc Giang. Sau 30-04-1975, quận Trúc Giang bị giải thể, nhập địa bàn vào quận
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Sau năm 1976, tách đất huyện Châu Thành tái lập thị xã Bến Tre - tỉnh lỵ tỉnh Bến
Tre - bao gồm 5 phường và 6 xã. Ngày 14-03-1984, giải thể 3 xã Bình Nguyên, Mỹ Hoà, An
Hoà để thành lập 3 phường: 6, 7, 8. Ngày 15-03-1984, được sáp nhập thêm các xã Nhơn
Thạnh, Phú Nhuận tách từ huyện Giồng Trôm, xã Phú Hưng tách từ huyện Châu Thành.
Ngày 11-04-1985, tách xã Sơn Đông của huyện Châu Thành nhập vào thị xã Bến Tre; thị xã
Bến Tre có 8 phường 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 7 xã là xã Bình Phú, Phú Khương, Mỹ Thạnh
An, Nhơn thạnh, Phú Nhuận, Phú Hưng và Sơn Đông. Ngày 25-06-1999, thành lập phường
Phú Khương thuộc thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã
Phú Khương. Ngày 09-02-2008 thành lập phường Phú Tân thuộc thị xã Bến Tre. Như vậy,
đến tháng 9 năm 2008, thị xã Bến Tre có 6.742 ha diện tích tự nhiên và 114.597 nhân khẩu,
có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú Khương,
Phú Tân và các xã: Sơn Đông, Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh, Phú Hưng, Bình
Trước đây, thành phố Bến Tre là khu vực sinh tụ của người Khmer. Cho đến những
năm đầu của thế kỷ XVII, nơi đây cũng chỉ là vùng đất còn hoang hóa, cỏ cây rậm rạp, việc
khai khẩn ruộng vườn của cư bản địa người Khmer tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao.
Đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, người Việt mới đến đây cư ngụ.
Thành phố Bến Tre có 3 dân tộc chủ yếu: dân tộc Kinh chiếm đa số, đến Hoa, Khmer.
Cộng đồng dân cư thành phố Bến Tre có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau, họ tụ cư về đây
cùng chung sống gắn bó, chung tay góp sức để xây dựng một thành phố Bến Tre phát triển,
năng động.
Cùng với các huyện trong tỉnh, cư dân thành phố Bến Tre có nguồn gốc chủ yếu là dân
vùng đất Ngũ Quảng, chuyển cư vào đất Đồng Nai-Gia Định, tuy không ồ ạt nhưng tương
đối liên tục và đều đặn. Trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, số lưu dân đến định cư ở
đây gồm có hai luồng chính: luồng di chuyển về Đồng Nai-Bến Nghé, Tân Bình, rồi sau đó
mới chuyển vào các địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long; luồng thứ hai đi đường biển,
bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi
ngược dòng các sông lớn tiến sâu vào nội địa, toả ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao
ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông hoặc dọc theo các con rạch. Và do đường bộ hiểm trở,
trộm cướp thường xuyên nên lưu dân đến Bến Tre chủ yếu bằng đường biển.
Riêng người Hoa đến thành phố Bến Tre gồm hai luồng chính: luồng cư trú chính trị
do phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho đến định
cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho năm 1679, sau đó lan tỏa đến các tỉnh trong khu vực, trong
đó có thành phố Bến Tre. Luồng thứ hai cùng hòa nhập vào dòng người di dân tự do tìm kế
mưu sinh của người Việt, người Hoa sau khi từ Trung Quốc sang Việt Nam, từng bước xuôi
về phương Nam và đến Bến Tre bằng cả đường bộ và đường biển.
Hiện tại, số dân người Hoa đứng hàng thứ hai sau dân tộc Kinh. Họ sống chủ yếu tại
thành phố bằng nghề buôn bán. Dân tộc Hoa đóng góp lớn trong sự phát triển kinh tế của
thành phố Bến Tre.
Cũng như những địa phương khác, cư dân thành phố Bến Tre hầu hết theo tín ngưỡng
thờ phụng tổ tiên. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến
điều hành giáo dục thị xã, quản lý 12 đơn vị trực thuộc. Cuối năm 1976, Ban điều hành giáo
dục thị xã được đổi thành Ban giáo dục thị xã, tuyển dụng chính thức 238 cán bộ, giáo viên,
nâng số đơn vị trực thuộc lên 15 đơn vị. Bắt đầu từ năm học 1982-1983 đến nay để phù hợp
với tình hình mới, là cơ quan quản lí giáo dục trên địa bàn thị xã, Ban giáo dục thị xã đổi tên
thành Phòng giáo dục và đào tạo thị xã Bến Tre.
Ban lãnh đạo các trường phổ thông cấp 1,2,3 được hướng dẫn tạm thời bình bầu Ban
điều hành thay Ban giám hiệu cũ, tùy theo qui mô cụ thể của trường Ban điều hành gồm: 1
Trưởng ban, 1-2 Phó Trưởng ban và các ủy viên.Đối với các trường phổ thông cấp 2,3 Ty
giáo dục tăng cường cán bộ của Ty làm cán bộ phụ trách trường. Đối với trường phổ thông
cấp I, quản lý là Tổ trưởng cũng là người quản lý trường mẫu giáo. Từ sau Nghị quyết cải
cách giáo (1979) mô hình Ban Điều hành ở các trường phổ thông đã được thay bằng Ban
Giám hiệu, trong đó Hiệu trưởng, Hiệu phó được bổ nhiệm là những giáo viên nổi trội, có
phẩm chất chính trị, đạo đức tốt có hướng phát triển vào Đoàn, Đảng. Tổ chức Công đoàn,
Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên, Hội cha mẹ học sinh đã hình thành ở các đơn vị trường.
Phân cấp quản lý trong Ngành từng bước được xác định: Ty quản lý các trường phổ
thông, bổ túc văn hóa cấp 2, 3, các đơn vị trực thuộc về nhân sự, tài chính, chuyên môn.
Phòng giáo dục huyện - thị xã quản lý các lớp mẫu giáo, trường phổ thông cấp 1, 2 bổ túc
văn hóa cấp 1.
1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật.
*Trường lớp
Ra khỏi cuộc chiến tranh, tỉnh Bến Tre nói chung, thành phố Bến Tre nói riêng phải
gánh chịu những hậu quả nặng nề về người và của. Chính vì vậy, sau ngày giải phóng Ngành