BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Phương Lan
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH PHÚ
YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Phương Lan
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH
PHÚ YÊN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM
2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT
4.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 8
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ............................................................................. 9
5.1. Về mặt khoa học ................................................................................................. 9
5.2. Về mặt thực tiễn ................................................................................................. 9
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN ................................................................................... 9
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH PHÚ YÊN VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC
CỦA ĐỊA PHƯƠNG TRƯỚC NĂM
1989…..……………………………………………10
1.1. Khái quát về tỉnh Phú Yên ............................................................................ 10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................... 10
1.1.2. Đặc điểm lịch sử, dân cư ............................................................................ 11
1.1.2.1. Đặc điểm lịch sử ....................................................................... 11
1.1.2.2. Đặc điểm dân cư ....................................................................... 15
1.1.3. Truyền thống văn hóa – giáo dục Phú Yên ................................................ 17
1.2. Những nét cơ bản về giáo dục Phú Yên trước khi tái lập tỉnh (1989)…..
22
1.2.1. Giáo dục Phú Yên trong những ngày đầu giải phóng (4 - 11/
1975)…21
1.2.2. Giáo dục Phú Yên trong thời kì hợp nhất với tỉnh Khánh Hòa (Từ
11/1975 đến 7/1989). ............................................................................................. 25
Chương 2: GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHÚ YÊN TỪ NĂM
1989 ĐẾN NĂM 2000 ............................................................................................... 38
2.1. Tình hình Phú Yên và chủ trương phát triển giáo dục của tỉnh ............... 38
2.1.1. Tình hình Phú Yên sau khi tái lập tỉnh ...................................................... 38
2.1.2. Chủ trương phát triển giáo dục của tỉnh Phú Yên sau khi tái lập .............. 41
2.1.2.1. Những quan điểm, chủ trương của Đảng về giáo dục – đào
tạo..41
2.1.2.2. Chủ trương phát triển giáo dục của Đảng bộ tỉnh Phú Yên ........ 46
3.2.1. Qui mô phát triển giáo dục Trung học phổ thông trong giai đoạn mới ..... 87
3.2.1.1. Qui mô học sinh ........................................................................ 87
3.2.1.2. Chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị ................ 88
3.2.1.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo
dục………………………………………………………………………….
.94
3.2.2. Nội dung và phương pháp giảng dạy ......................................................... 99
3.2.2.1. Đổi mới nội dung, chương trình ................................................ 99
3.2.2.2. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học ................................... 104
3.2.3. Thực trạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục .......................... 107
3.2.3.1. Giáo dục đạo đức, văn hóa và hiệu quả đào tạo ....................... 107
3.2.3.2. Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, giáo dục kĩ năng sống,
phong trào văn nghệ, thể dục - thể thao ................................................... 118
3.2.4. Xây dựng môi trường giáo dục ................................................................ 121
3.2.4.1. Phát triển các tổ chức đoàn thể trong nhà trường ..................... 121
3.2.4.2. Củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Gia đình - Nhà trường
– Xã hội .................................................................................................. 124
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 139
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 152
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bổ túc văn hóa
BTVH
Cải cách giáo dục
Hội đồng nhân dân- Ủy ban nhân dân
HĐND-UBND
Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và dạy
KTTH-HN-DN
nghề
Khoa học tự nhiên – Khoa học xã hội
KHTN –KHXH
Kiểm tra đánh giá
KTĐG
Mầm non, mẫu giáo
MN, MG
Phương pháp giảng dạy
PPGD
Phổ cập giáo dục
PCGD
XMC
MỞ ĐẨU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giáo dục là hoạt động có chủ đích của con người, nó là một quá trình tác động
có mục đích, có kế hoạch của môi trường xã hội nhằm phát triển toàn diện con
người, trang bị cho con người những kiến thức và kỹ năng cơ bản để họ sẵn sàng
bước vào cuộc sống. Do vậy có thể nói giáo dục là một phạm trù luôn luôn có tính
phổ biến, phát triển liên tục, mãi mãi. Bởi lẽ đây là hoạt động riêng biệt của xã hội
loài người, ở đâu có con người tất ở đó có giáo dục, giáo dục tồn tại cùng với xã hội
loài người, nó là một trong những động lực để thúc đẩy sản xuất và phát triển xã
hội. Bên cạnh đó giáo dục lại mang tính lịch sử. Có thể nói mỗi giai đoạn lịch sử,
mỗi dân tộc, mỗi nhà nước có một nền giáo dục riêng, mang bản chất của dân tộc,
của nhà nước cầm quyền. Chính vì vậy, giáo dục luôn luôn vận động và phát triển
theo các giai đoạn lịch sử của xã hội loài người.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học ngàn đời. Truyền thống đó đã
hun đúc nên những nét đẹp về văn hiến Việt Nam và được nhân lên trong thời đại
mới. Những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua kể từ khi
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời là hết sức to lớn. Nó là cơ sở, là điều kiện
để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa
học và công nghệ, nhân loại đang vượt qua nền văn minh công nghiệp để chuyển
sang nền văn minh tin học, điện tử và vi sinh, khoa học – công nghệ đã trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp. Hàm lượng khoa học được kết tinh trong các sản phẩm
hàng hóa ngày càng tăng. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với
sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với sự phân công lao động và hợp tác quốc
tế, gắn liền với sự sáng tạo, trao đổi và chuyển giao công nghệ mới.
Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người
không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình
tiện có hiệu lực đáp ứng yêu cầu này, thủ tiêu sự khác biệt căn bản giữa lao động trí
óc và lao động chân tay, góp phần nâng cao năng suất lao động và xậy dựng thái độ
lao động sáng tạo, đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trở thành
hiện thực.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ xã hội mà nhân dân ta
đã chọn là mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giá trị nhân cách mà giáo dục xây
dựng cho thế hệ trẻ là bảng giá trị nhân cách xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp giáo dục
có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ người lao động mới, đầy đủ tài năng, phấm chất và bản
lĩnh để đưa đất nước tiến kịp trào lưu thế giới, không thể thiết kế chiến lược con
người, nếu không đặt giáo dục đúng vào vị trí của nó trong đời sống hiện đại.
Là một tỉnh của đất nước, Phú Yên có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực
Nam Trung Bộ. Tỉnh Phú Yên đã và đang đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa với những tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi. Là tỉnh có truyền thống hiếu học,
tôn sư trọng đạo và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp giáo
dục, đào tạo nói chung và giáo dục Trung học phổ thông nói riêng.
Giáo dục và đào tạo Phú Yên trong thời kì 1989 - 2010 đã trở thành một bộ
phận quan trọng gắn kết và đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp: nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng xã hội mới của cả nước.
Do đó, việc nghiên cứu về giáo dục Phú Yên nói chung, giáo dục Trung học
phổ thông nói riêng trong giai đoạn từ 1989 đến 2010 là một vấn đề hết sức quan
trọng. Bởi giáo dục Trung học phổ thông đóng vai trò định hướng, tạo điều kiện cho
thế hệ trẻ được chuẩn bị nghề nghiệp, tâm thế lao động, phẩm chất đạo đức, ý thức
công dân, kiến thức kỹ thuật, kĩ năng lao động để có khả năng tham gia vào các
hoạt động kinh tế ngay sau khi ra trường đảm bảo cuộc sống cá nhân và cống hiến
cho xã hội. Hơn nữa, bậc Trung học phổ thông chính là tiền đề cho các em có thể
học cao lên ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp để trở thành người lao động
có tay nghề cao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Do vậy, chất lượng của
giáo dục Trung học phổ thông sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy
giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên khi đề cập đến giáo dục - đào tạo nói chung
của tỉnh, cụ thể có các công trình nghiên cứu sau:
“Địa chí Phú Yên” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm
2003. Đây là một công trình nghiên cứu tổng hợp, có quy mô lớn về lịch sử, kinh tế,
văn hóa, xã hội, các đơn vị hành chính của tỉnh Phú Yên. Trong phần thứ tư nói về
văn hóa xã hội, ở chương mười các tác giả có đi vào nghiên cứu lịch sử giáo dục
Phú Yên bắt đầu từ giáo dục Nho học trước 1945 đến giáo dục thời Pháp thuộc,
giáo dục Phú Yên từ 1945 – 1954, 1954 - 1975, và từ 1975 cho đến năm 2000.
Trong phần giáo dục Phú Yên từ 1975 – 2000, có nhắc đến giáo dục trung học phổ
thông với ba loại hình trường: công lập, bán công và dân lập nhưng chỉ trên những
nét đại cương nhất.
Bản thảo (2009) về “Lịch sử giáo dục Phú Yên 1945 – 2005”, do Sở giáo dục
– đào tạo tỉnh Phú Yên chỉ đạo nghiên cứu và đã được nghiệm thu tháng 1/2010.
Bản thảo nghiên cứu đã đề cập đến giáo dục Phú Yên từ thế kỉ XVII đến năm 2005.
Đó là một chặng đường lịch sử khá dài để định hình và kiến tạo nên nền giáo dục
Phú Yên. Trong cái nền chung đó, các tác giả đã nhắc đến mảng giáo dục Trung học
phổ thông Phú Yên song cũng chỉ dừng lại ở mức khái quát.
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học nói trên thì Sở giáo dục – đào tạo
Phú Yên cũng có các báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết theo từng giai
đoạn, kỷ yếu thi đua… có đề cập đến giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong
giai đoạn 1989 – 2010, cụ thể như sau:
“Báo cáo tổng kết” từ năm học 1989 -1990 đến năm học 2009 – 2010. Trong
các báo cáo tổng kết hằng năm này Sở giáo dục – đào tạo đã nêu lên những kết quả
đạt được và những mặt tồn tại, hạn chế của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông
nói chung. Giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên được nhắc đến với những thành
tựu cũng như hạn chế theo từng năm thông qua những số liệu thống kê cụ thể.
“Báo cáo tổng kết và đánh giá 7 năm đổi mới giáo dục - đào tạo Phú Yên
(1989 -1996)”. Trong báo cáo này đã tổng kết được sự phát triển và đánh giá tình
trung làm rõ quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trên tất cả
các mặt từ khi tái lập tỉnh (1989) cho đến năm 2010.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở
tỉnh Phú Yên từ năm 1989 đến năm 2010”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: đề tài tìm hiểu về giáo dục Trung học phổ thông trên địa bàn
tỉnh Phú Yên.
Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài từ sau năm 1989 đến năm 2010.
Tuy nhiên luận văn vẫn dành một phần để khái quát về tình hình giáo dục Phú
Yên trong đó có giáo dục Trung học phổ thông trước năm 1989 nhằm tạo một cái
nhìn liên tục về quá trình phát triển của giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài trình bày về quá trình phát triển giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên
1989 - 2010 với những nội dung: hệ thống trường, lớp, học sinh; nội dung, chương
trình và phương pháp; cơ sở vật chất, trang thiết bị trong trường học; công tác đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ giáo viên; công tác xã hội hóa giáo dục; công tác chỉ đạo
quản lí giáo dục…theo từng giai đoạn để làm rõ được quá trình phát triển của giáo
dục Trung học phổ thông Phú Yên trong hơn 20 năm kể từ khi tái lập tỉnh. Từ đó rút
ra một số nhận xét, nêu lên một số thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và
những đề xuất giải pháp, góp phần tiếp tục phát triển giáo dục Trung học phổ thông
Phú Yên trong các giai đoạn sau.
4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học, chúng tôi xác định cần tiếp
cận và sử dụng các nguồn tư liệu có nội dung cốt lỗi nhằm chứng minh và kiến giải
nhiều vấn đề khi nghiên cứu giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ 1989 đến
phú và tăng độ tin cậy đối với nguồn tư liệu, hoàn thành được công trình nghiên
cứu, tái tạo bức tranh tổng thể về giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ 1989-
2010, từ đó góp phần làm sáng tỏ hơn chặng đường phát triển của giáo dục – đào
tạo tỉnh Phú Yên.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Về mặt khoa học
Trên cơ sở các nguồn tư liệu, luận văn khôi phục bức tranh lịch sử giáo dục
Trung học phổ thông Phú Yên 1989 – 2010 một cách hệ thống và toàn diện. Từ đó
rút ra đặc điểm của giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên trong thời kì 19892010, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó, những bài học kinh nghiệm
và giải pháp để khắc phục những hạn chế. Đồng thời bổ sung tư liệu trong việc
nghiên cứu lịch sử giáo dục Phú Yên nói riêng, lịch sử giáo dục Trung học phổ
thông cả nước nói chung trong thời kì đổi mới đất nước.
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn hoàn thành, góp phần làm cơ sở để các cấp ủy Đảng, Nhà nước đề ra
chính sách phát triển giáo dục Trung học phổ thông ở Phú Yên nói riêng và cả nước
nói chung trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới hiện nay.
Kết quả của luận văn còn là nguồn tài liệu để tuyên truyền về giáo dục cho các
tầng lớp nhân dân ở Phú Yên, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, và Phụ lục, luận văn
gồm có các chương sau:
Chương 1: Khái quát về tỉnh Phú Yên và tình hình giáo dục của địa phương
trước năm 1989.
Chương 2: Giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ năm 1989 đến năm
2000.
Chương 3: Giáo dục Trung học phổ thông Phú Yên từ năm 2000 đến năm
2010.
(Hòa Định), thành Lồi (An Ninh Tây), thành Hồ (Hòa Định, Phú Hòa)” [79, tr.141152].
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận
đèo Cả. Tuy nhiên sau đó Lê Thánh Tông chỉ sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới
đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt còn vùng đất Phú Yên vẫn
thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru.
Tương truyền vua Lê Thánh Tông cho khắc bia trên đá núi để ghi dấu chiến công,
và phân định ranh giới Đại Việt ở phía Nam. Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn
có ghi: “Núi Thạch Bi thuộc tỉnh Phú Yên là nơi phân cương giới giữa Tiên triều nước
ta và nước Chiêm Thành” [40, tr.213]. Núi Đá Bia mang ý nghĩa thiêng liêng của
thời kỳ mở đất. Nơi đây đá hóa thành văn và hòa vào di sản văn hóa dân tộc.
Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng là trấn thủ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của
Đại Việt. Năm 1578 ông sai tướng dưới quyền Lương Văn Chánh tấn công vào
thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại vùng Ayaru (Phú Yên), từ đó vùng đất Ayaru
là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Theo chính sách
của chúa Nguyễn ông đã chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận
- Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp.
Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai viên tướng dưới quyền là Văn Phong tấn công
vào Aryaru, Chăm Pa thất bại. Nguyễn Hoàng đã sát nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng
Trong với tên gọi phủ Phú Yên bao gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa và giao
cho Văn Phong cai quản đất Phú Yên. Tên gọi nầy do chúa Nguyền Hoàng đặt với
ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình, yên ổn trong tương lai.
Tháng 3 năm Đinh Mão 1627 cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ.
Đến tháng 10 năm Kỷ Tỵ 1629, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ly khai với Đàng
Ngoài, xây dựng xứ Đàng Trong từ Sông Gianh vào đến Phú Yên, thành lập 7 dinh
(đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh). Phủ Phú Yên được nâng cấp thành dinh
Trấn Biên - có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp Nam tiến, Tây tiến, Đông
tiến chúa Nguyễn khi ấy và cũng là của cả dân tộc.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Minh Nguyễn Phước Chu sai thống suất Nguyễn
khởi nghĩa đều thất bại nhưng đã góp phần ngăn cản quá trình bình định của thực
dân Pháp trên dải đất miền Trung và cả nước.
Năm 1908, cuộc biểu tình của đông đảo nhân dân đòi giảm sưu, giảm thuế ở
Phú Yên khởi đầu từ ba huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân do nho sĩ Nguyễn
Hữu Dực và Lê Văn Hanh lãnh đạo diễn ra mạnh mẽ, đã làm cho thực dân Pháp và
bộ máy Nam triều ở địa phương hoảng hốt, thực dân Pháp đã phải giảm sưu thuế
cho nông dân...
Đầu năm 1930, phong trào yêu nước chống Pháp ở Phú Yên phát triển cùng
với phong trào chung của cả nước, nhất là sự chuyển biến nhanh chóng của phong
trào yêu nước sang khuynh hướng vô sản mà bước ngoặt của cách mạng là Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời (2/1930). Ở Phú Yên, ngày 5/10/1930, chi bộ Đảng Cộng
sản đầu tiên được thành lập do đồng chí Phan Lưu Thanh làm Bí thư.
Công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bước sang một giai đoạn cách mạng
mới. Từ khi có Đảng lãnh đạo, phong trào yêu nước của Phú Yên được nhân lên.
Ngày 24/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt
Minh, nhân dân Phú Yên vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân,
phá tung gông xiềng 80 năm nô lệ, thoát khỏi ách áp bức của đế quốc, thực dân
phong kiến.
Ngày 13/1/1947, quân dân Phú Yên hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng
chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáng trả và đẩy lùi cuộc tiến công quy mô của
giặc Pháp từ đèo Cả đánh ra, giữ vững vùng tự do Phú Yên. Trong năm 1954, quân
dân Phú Yên đập tan chiến dịch Át-Lăng của giặc Pháp, chia lửa cùng chiến trường
chính Điện Biên Phủ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Phú Yên đã lập những kỳ tích như
giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ, mở bến Vũng Rô đón nhận vũ khí từ những con
tàu không số... cùng cả nước đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ. Đặc biệt với
chiến thắng Đường 5 lịch sử - “trận Bạch Đằng trên cạn” đã đánh tan kế hoạch co
cụm phòng thủ duyên hải Nam Trung Bộ của chính quyền Sài Gòn, quân và dân
Huyện Phú Hòa 1 thị trấn (Phú Hoà) và 8 xã.
•
Huyện Sơn Hòa 1 thị trấn (Củng Sơn) và 13 xã.
•
Huyện Sông Hinh 1 thị trấn (Hai Riêng) và 10 xã.
•
Huyện Tây Hòa 11 xã.
•
Huyện Tuy An 1 thị trấn (Chí Thạnh) và 15 xã.
Như vậy, hiện nay tỉnh Phú Yên có 112 đơn vị cấp xã (gồm 16 phường, 5 thị
trấn và 91 xã).
1.1.2.2. Đặc điểm dân cư
Dân số Phú Yên năm 1990 là 657.997 người, năm 2000 là 799.645 người, năm
2009 là 862.373 người. Mật độ dân số trung bình khoảng 146 người/km2. Phân bố
dân số không đều, ở các huyện miền núi thưa dân: Sông Hinh 42 người/km2, Sơn
Hòa 50 người/km2, Đồng Xuân 56 người/km2. Trong khi đó ở Thành phố Tuy Hòa
1.542 người/km2, huyện Tuy Hòa 290 người/km2 (năm 2002) [17], [63], [65].
Cơ cấu dân số chia theo khu vực chưa có sự biến đổi lớn giữa thành thị và
nông thôn: dân số ở thành thị chiếm khoảng 20%, nông thôn chiếm 80%. Nguồn lao
động khá dồi dào, chiếm bình quân từ 56%-58,5% tổng dân số, tốc độ tăng bình
quân giai đoạn 1996-2000 là 1,78%/năm, giai đoạn 2001 – 2005 tăng 1,6%/năm và
Sông Hinh (1986) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông
Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu ...Toàn tỉnh có trên 30.000 người dân tộc đang
sinh sống.
Phú Yên có 3 huyện miền núi là Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân với 36 xã,
thị trấn. Mỗi huyện đều có xã vùng cao và người dân tộc thiểu số sống xen kẽ với
người Kinh. Trong 4 huyện, thị xã còn lại địa phương nào cũng có xã miền núi, bán
đảo, vùng khó khăn, các dân tộc thiểu số sống rải rác trên các địa bàn hiểm trở ấy.
Do những đặc điểm nói trên nên vấn đề phát triển kinh tế-văn hóa-giáo dục gặp rất
nhiều khó khăn. Điều đó đỏi hỏi công tác giáo dục đối với con em đồng bào dân tộc
thiểu số làm sao có những nét riêng phù hợp, song không vì vậy mà hạ thấp mặt
bằng giáo dục mà phải đảm bảo trình độ chung của giáo dục cả tỉnh, cả nước.
Tình hình tôn giáo, toàn tỉnh có 5 loại tôn giáo chính. Phật giáo có 238.446 tín
đồ, 347 chức sắc nhà tu; Công giáo có 17.000 tín đồ, trong đó sinh hoạt chính thức
là 15.170 tín đồ, 25 nhà tu hành, 14 linh mục; Tin lành có 3.775 tín đồ, có 3 mục sư;
Ðạo Cao đài và đạo Hoà hảo, trong đó đạo Cao đài có 3.154 tín đồ, đạo Hoà hảo có
gần 300 tín đồ. Các tôn giáo tồn tại hòa bình với nhau, chưa có xung đột xảy ra.
Con người Phú Yên chất phác, hiền hòa, dũng cảm và thông minh đã sống, lao
động và chiến đấu trong suốt chiều dài lịch sử để bảo vệ và dựng xây quê hương
giàu và đẹp xứng đáng với niềm tự hào đứng trong hàng ngũ đại gia đình Việt Nam,
điều đó đã được hun đúc nên một nền văn hiến ngàn đời của dân tộc, một nền văn
hóa giáo dục đậm đà bản sắc Việt Nam.
1.1.3. Truyền thống văn hóa – giáo dục Phú Yên
Theo dòng lịch sử của dân tộc, Việt Nam được hình thành và lại phải sớm
đương đầu với giặc ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc. Trong ngàn năm đấu tranh chống
xâm lược của phong kiến phương Bắc cũng là ngàn năm dân tộc ta đấu tranh
chống lại sự nô dịch bằng văn hóa giáo dục của kẻ thù. Dân tộc ta không bị nền
giáo dục Nho giáo của Trung Quốc đồng hóa mà ngược lại còn biết lựa chọn, hấp
thu những tinh hoa của nền văn hóa đó để xây dựng và phát triển cho nền văn hóa