thực trạng đầu tư và quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục trung học phổ thông ở tỉnh lạng sơn - Pdf 24

Lời mở đầu
Đất nớc ta với hơn 4000 năm lịch sử, ngay từ buổi đầu dựng nớc, ông
cha ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn nhân lực. Điều đó thể hiện
qua câu nói nổi tiếng đợc lu lại tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, trờng Đại học
đầu tiên của nớc ta: Hiền tài là nguyên khí của đất nớc, nguyên khí có sức
mạnh thì đất nớc mới vững, vì vậy không có vị vua nào là không quan tâm
chăm lo đến hiền tài của đất nớc. Sau này, Bác Hồ vị lãnh tụ của chúng ta đã
khẳng định: Vì lợi ích mời năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng ngời.
Qua đây khẳng định đợc tầm quan trọng của giáo dục đào tạo. Thực vậy, chỉ
khi có con ngời với đủ tài và đức mới là tài sản quý nhất của mỗi quốc gia
trong mọi thời đại.
Chúng ta đang bớc sang nhng năm đầu của TK 21, mong muốn của
toàn Đảng , toàn dân ta là Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
đa đất nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trớc mắt là sớm hoàn thành CNH-HĐH
đất nớc, trong công cuộc này đòi hỏi cần có: Con ngời phát triển cao về trí
tụê, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là
đông lực của xây dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã
hội. Chính vì thế nguồn lực con ngời luôn đợc coi trọng và quyết định nhất
trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia . Bởi vậy những năm gần
đây chúng ta đã coi GD là quốc sách Đảng và nhà nớc ta mở rộng thực hiện
xã hội hoáGD.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay, cùng với sự phát
triển nh vũ bão của khoa học kĩ thuật đòi hỏi phải có những con ngời có trình
độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm. Đó là kết quả của một nền giáo dục
toàn diện. Những năm gần đây tỷ trọng khá cao trong cơ cấu chi NSNN. Trên
thực tế sự nghiệp GD đã đạt đợc những thành tích đáng kể, xong bên cạnh đó
cũng còn những mặt hạn chế , trong đó đáng chú ý là hiệu quả sử dụng nguồn
lực từ NSNN còn thấp.
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
Để khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả chi NSNN đòi hỏi
phải xây dựng những biện pháp quản lý chặt chẽ , hiệu quả và phù hợp với

quan trọng trong cơ cấu chi ngân sách của nhà nớc vì giáo duc THPT đóng
một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc:
Giáo dục là nền tảng văn hoá của một quốc gia, là nguồn sức mạnh
trong tơng lai của một dân tộc, là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
con ngời và phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc. Muốn vậy, mỗi quốc gia
phải thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản là nâng cao hiệu quả sự nghiệp giáo dục.
ở nớc ta từ thời phong kiến các vị vua đã quan tâm đến sự nghiệp giáo
dục, quan tâm đến hiền tài của đất nớc vì hiền tài là nguyên khí của đất nớc.
Giáo dục càng quan tâm sâu rộng hơn khi đất nớc ta bớc vào thời kỳ mới, khi
nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời. Nhân ngày khai trờng đầu tiên của
một nứơc Việt Nam độc lập, Bác Hồ đã gửi th nhắn nhủ học sinh cả nớc cố
gắng học tập để rạng danh đất nớc, con ngời Việt Nam: "Non sông Việt Nam
có đợc trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có đợc sánh vai cùng các
cờng quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của
các cháu".
Trong thời đại ngày nay, thời đại của CNH - HĐH, giáo dục có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Quốc gia nào càng có
nền giáo dục hiện đại và phát triển thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó có tầng
lớp trí đông đảo , tạo điều kiện thuận lợi để tiến sâu vào nền khoa học kỹ thuật
đang phát triển của thế giới, không ngừng đa nền kinh tế phát triển. Đánh giá
sự tiến bộ về văn hoá xã hội và sự phát triển kinh tế của một quốc gia, ngày
nay ngời ta không chỉ căn cứ vào tốc độ tăng trởng kinh tế mà còn dựa trên ba
chỉ tiêu cơ bản là: Thu nhập bình quân đầu ngời, tuổi thọ và trình độ giáo dục.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trờng nh hiện nay, cùng với sự phát
triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đòi hỏi phải có những con ngời có trình
độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm. Đó là kết quả của một nền giáo dục
toàn diện.
Tuy nhiên, để Giáo dục - Đào tạo có tác động tích cực đến sự phát triển
kinh tế xã hội không phải chỉ dừng lại ở mức duy trì hệ thống giáo dục mà

chìa khoá để mở cánh cửa tri thức, đặc biệt trong thời đại KH-KT phát triển
nh vũ bão ngày nay thì không thể không quan tâm tới nền GD nớc nhà. GD là
sự nghiệp của toàn dân, mọi ngời trong cộng đồng đều phải có trách nhiệm với
nền GD. Trong những năm gần đây chúng ta đã huy động đợc nhiều nguồn
vốn để đầu t cho sự nghiệp GD, ngành GD đã dành đợc sự quan tâm rất lớn
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
của toàn Đảng, toàn dân, nguồn vốn đầu t cho sự nghiệp GD cũng rất đa dạng
bao gồm các nguồn vốn sau:
+ Nguồn vốn từ NSNN
+ Nguồn vốn đóng góp, bao gồm: tiền học phí của học sinh do nhân dân
đóng góp, tiền do nhân dân đóng góp để xây dựng trờng lớp, mua trang thiết
bị, đồ dùng học tập.
+ Nguồn vốn tài trợ, bao gồm: Tiền đóng góp ủng hộ của các cá nhân,
tổ chức, các doanh nghiệp trong và ngoài nớc; Tiền viện trợ của các tổ chức
phi Chính Phủ và các Chính Phủ nớc ngoài; Các khoản đợc biếu tặng cho các
trờng bằng hiện vật nh: sách giáo khoa, máy vi tính, mô hình giảng dạy của
các tổ chức đoàn thể.
Mặc dù GD, cũng nh GD THPT đợc sự quan tâm rất lớn của cả cộng
đồng, tất cả các thành phần kinh tế, mọi công dân trong xã hội. Xong trên thực
tế trong tất cả các nguồn vốn đầu t cho GD THPT thì nguồn vốn từ NSNN
luôn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất trong tất cả
các nguồn vốn đầu t cho cho GD THPT. Do vậy quy mô và chất lọng của GD
THPT phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn từ NSNN. Vai trò của nó đợc thể
hiện cụ thể :
Trớc hết: NSNN là nguồn tài chính cơ bản và ổn định để duy trì sự phát
triển của hệ thống GD, GD THPT theo đúng đờng lối, chủ trơng của Đảng và
Nhà Nớc. Đảng và Nhà Nớc ta coi GD là quốc sách hàng đầu và cần phải đầu
t xứng đáng với vai trò to lớn của GD. Những năm gần đây chúng ta đã đẩy
mạnh xã hội hoá GD nhng xét đến tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng số
vốn đầu t cho GD thì nguồn vốn ngoài ngân sách chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ.

nhóm.
* Chi cho con ngời.
Đây là một khoản chi lớn nó bao gồm về chi lơng, phụ cấp lơng,
BHXH, phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ công nhân viên của nhà trờng.
Khoản chi này là khoản chi cho con ngời, do vậy nó giúp cho ngời lao động
bù đắp đợc sức lực đã bỏ ra và đảm bảo cho quá trình tái sản xuất sức lao động
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
c
cn
= (m
cni
x S
cni
)
n
i = 1
của họ, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất xã hội diễn ra một cách bình
thờng.
Trong giáo dục chi cho con ngời chủ yếu là chi kinh phí cho giáo viên,
cán bộ công nhân viên ngành giáo dục. Khoản chi này hàng năm đợc xác định
dựa vào số giáo viên, cán bộ công nhân viên dự kiến có mặt kỳ kế hoạch. Cụ
thể số chi có đợc thể hiện qua công thức:
Trong đó:
C
cn
: Số chi kinh phí giáo viên kế hoạch.
M
cni
: Mức chi bình quân 1 giáo viên dự kiến kế hoạch.
S

x S
cni
)
n
i = 1
c
ms
= (ng
i
x T
i
)
n
i = 1
Công tác phí, hội nghị phí, công vụ phí, khoản chi này đối với ngành giáo dục
đợc xác định qua công thức:
Trong đó:
C
Ql
: Số chi quản lý hành chính kỳ kế hoạch.
M
QL
: Mức chi quản lý hành chính BQ 1 giáo viên dự kiến kỳ KH.
S
Cni
: Số giáo viên BQ dự kiến có mặt trong năm kế hoạch.
* Chi cho nghiệp vụ chuyên môn:
Bao gồm các khoản chi mua sắm sách giáo khoa, đồ thí nghiệm, các mô
hình, đồ dùng cho hoạt động giảng dạy nh: Phấn viết, bảng đen, thớc kẻ
Đây là khoản chi có ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng giáo dục vì vậy cần có

1.2.2- Đặc điểm chi ngân sách nhà nớc cho giáo dục Trung học phổ
thông:
Trong nhóm các khoản chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn - xã
thì chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục chiếm tỷ trọng lớn, chi NSNN cho sự
nghiệp giáo dục là một trong những khoản chi thờng xuyên vì vậy nó mang
đầy đủ đặc điểm của chi thờng xuyên:
Thứ nhất, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi cơ bản có
tình ổn định khá rõ nét.
Tính ổn định ở đây đợc hiểu theo nghĩa là trong bất cứ hoàn cảnh nào,
giai đoạn phát triển nào của lịch sử thì Nhà nớc cũng luôn phải chăm lo cho sự
nghiệp Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và trình độ khoa
học kỹ thuật cho mọi ngời.
Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng
cuối cùng của vốn cấp phát thì chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục THPT
mang tính chất tiêu dùng xã hội.
Kết quả của hoạt động giáo dục không tạo ra của cải vật chất tuy nhiên
nó có mục đích đầu t cho con ngời, tạo ra đợc những con ngời có đủ năng lực
làm việc và trình độ để tiếp thu, ứng dụng va sáng chế ra những phát minh
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
mới, luôn tự hoàn thiện bản thân. Vì thế cũng có thể coi chi cho GD - ĐT
mang tính chất tích luỹ đặc biệt.
Thứ ba, phần lớn các khoản chi NSNN cho giáo dục THPT mang tính
chất không hoàn trả trực tiếp.
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu
với mức độ và số lợng của các địa chỉ cụ thể nêu đều đợc hoàn lại dới hình
thức chi NSNN cho giáo dục THPT. Các khoản cấp phát từ NSNN cho các tr-
ờng không phải lo hoàn trả mà coi nh một khoản tài trợ hay bao cấp của Nhà
nớc.
Thứ t, chi NSNN cho giáo dục THPT là khoản chi mang tính chất tích
luỹ đặc biệt.

và hàng năm của các nớc. Những chỉ tiêu, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển
giáo dục THPT.
Thứ hai: Dựa vào khả năng nguồn kinh phí để đáp ứng đợc nhiệm vụ đ-
ợc giao và nội dung hoạt động của sự nghiệp giáo dục THPT.
Thứ ba: Dựa vào các loại tiêu chuẩn định mức, các chính sách, chế độ
của nhà nớc liên quan đến hoạt động giáo dục THPT.
Thứ t: Căn cứ vào quy mô giáo dục, số giáo viên, cán bộ, số học sinh.
Cơ quan tài chính giao số kiểm tra cho các đơn vị giáo dục. Căn cứ vào
dự toán sơ bộ và thu chi NSNN kỳ kế hoạch, cơ quan tài chính xác định mức
chi tổng hợp dự kiến phân bổ cho mỗi đối tợng và trên cơ sở đó hớng dẫn các
đơn vị này lập dự toán kinh phí.
Dựa vào số kiểm tra và các văn bản hớng dẫn lập dự toán kinh phí, các
đơn vị dự toán cơ sở tiến hành lập dự toán kinh phí của đơn vị mình. Căn cứ
vào dự toán chi thờng xuyên đợc cơ quan quyền lực Nhà Nớc xét duyệt, cơ
quan tài chính sau khi xem xét lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ dự toán
chi thờng xuyên cho mỗi đơn vị cơ sở. Dự toán ngân sách của các đơn vị phải
phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do
cơ quan có thẩm quyền ban hành.
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
1.3.2- Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nớc cho giáo dục Trung
họcphổ thông:
Tổ chức chấp hành kế hoạch chi là khâu thứ hai của chu trình quản lý
chi NSNN cho giáo dục THPT. Thời gian tổ chức chấp hành ở nớc ta tính từ
ngày 1/1 - 31/12 dơng lịch. Trong qúa trình tổ chức chấp hành dự toán chi
NSNN cho giáo dục THPT phải dựa trên các căn cứ sau:
Thứ nhất: Dựa vào chỉ tiêu trong dự toán đã đợc duyệt.
Thứ hai: Dựa vào mức chi đã đợc duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán.
Thứ ba: Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng nhu cầu chi
cho giáo dục THPT trong mỗi thời kỳ. Thứ t dựa vào chính sách, chế độ chi
NSNN cho giáo dục THPT hiện hành.

của các trờng THPT và kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, hồ sơ thanh toán,
lệnh chuẩn chi của Hiệu trởng các trờng THPT so với chính sách chế độ quy
định.
Trình tự quyết toán chi NSNN cho giáo dục THPT:
Hết kỳ kế toán 31/12 các trờng THPT tiến hành khoá sổ sách và đối
chiếu với KBNN nơi giao dịch, sau đó lập báo cáo quyết toán năm gửi Sở Tài
chính xét duyệt báo cáo của các trờng THPT, đồng thời tổng hợp lập quyết
toán ngân sách của ngành giáo dục trình UBND và HĐND tỉnh phê duyệt.
Chơng 2
Thực trạng đầu t và quản lý chi ngân sách nhà
nớc cho giáo dục trung học phổ thông ở
tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua.
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
2.1.Vài nét về đặc điểm tự nhiên, Kinh tế -Xã hội tỉnh Lạng Sơn:
Lạng Sơn là một tỉnh , vùng cao biên giới ở phía Bắc của tổ quốc. Lạng
Sơn có diện tích tự nhiên 8.325 km2, chiếm 2,5% diện tích cả nớc. Lạng Sơn
có 10 huyện và 1 thành phố trong đó có 135/226 xã phờng là xã vùng cao,
trong đó có 50 xã là xã thuộc vùng III chiếm 35,6% nên còn gặp khó khăn
trong công tác giáo dục ở các vùng xâu, vùng xa. Lạng Sơn với dân số
786.456 ngời, trong đó dân tộc Nùng chiếm khoảng 43,8%, dân tộc Tày chiếm
khoảng 35,9%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 15,3% còn lại 5% là các dân tộc
khác nh : Dao, Sán Chay, Hoa ,Mông ,Thái, Mờng Địa bàn Lạng Sơn tơng
đối phức tạp đồi núi chập trùng hiểm trở tuy nhiên giao thông đi lại tơng đối
dễ dàng, nằm ở vị trí có các trục đờng quốc lộ 1A, 1B, 4A , 4B và 3B nối liền
với các tỉnh phía Bắc nên thuận lợi cho việc buôn bán , trao đổi hàng hoá
không chỉ trong nội vùng, liên vùng mà còn là một thị trờng trung chuyển giữa
nớc ta với Trung Quốc, Châu á Thái Bình Dơng, các nớc SNG và Đông Âu.
Tuy nhiên giao thông liên huyện còn rất khó khăn, đặc biệt giao thông giữa
các xã vùng sâu, vùng cao.
Khí hậu Lạng Sơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung

của Nhà Nớc về vốn, tín dụng,hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nên đang từng bớc phát
triển bền vững. Trong 5 năm qua đã chuyển đổi 22 hợp tác xã, thành lập mới
gần 30 hợp tác xã kiểu mới, kinh tế t nhân ngày càng đợc mở rộng và phát
triển. Năn 2004 nền kinh tế Lạng Sơn có nhiều bứơc tiến rõ rệt kinh tế phát
triển ổn định, đặc biệt là ngành du lịch đã thu hút đựơc số lợng du khách đến
đông là do tỉnh Lạng Sơn có một chiến lợc văn hoá du lịch một cách hợp lý
2.2.Thực trạng giáo dục Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn:
Nhận thức đợc tầm quan trọng của giao dục trong sự nghiệp đổi mới
mọi mặt nền KT-XH Lạng Sơn, mặc dù còn rất nhiều khó khăn xong đợc sự
quan tâm của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và
UBND tỉnh, sự phối hợp giữa các Ban,Ngành, Đoàn thể và Nhân dân trong
tỉnh, đặc biệt sự cố gắng của đội ngũ cán bộ quản lý,giáo viên và học sinh, sự
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
nghiệp giáo dục đào tạo THPT tỉnh Lạng Sơn đã không ngừng phát triển về cả
quy mô lẫn chất lợng.
Mạng lới trờng lớp đợc mở rộng, các loại hình đào tạo đã đợc đa dạng
hoá, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Năm học 2001-2002 có 20 trờng
THPT (trong đó có 18 trờng quốc lập ,1 trờng bán công, 1trờng dân lập) và
331 lớp học (trong đó có 241 học sinh bán công trên tổng số 4 lớp và334 học
sinh thuộc trờng dân lập) đến năm học 2002-2003 có 21 trờng THPT ,số tr-
ờng THPT quốc lập tăng thêm 1 trờng, tổng số hoc sinh thuộc khối THPT
cũng tăng lên là 20111 học sinh, tăng 5137 học sinh so với năm học 2001-
2002. Đến năm học 2003 - 2004 số học sinh PTTH đã tăng lên đáng do một số
trờng mở rộng thêm quy mô và lớp học, cụ thể số lớp học ở trờng quốc lập
tăng thêm 35 lớp so với năm 2002-2003, số lớp học ở trờng dân lập tăng thêm
04 lớp, do vậy số học sing cũng tăng theo theo, dự đoán số học sinh THPT
trong 5 năm trở lại đây mỗi năm tăng trung bình 1800 em tơng ứng với tỷ lệ
16%/năm. Có thể khái quát sự gia tăng về số trờng lớp qua bảng sau:
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02

Năm học
Ngành học
2001 - 2002 2002 - 2003 2003- 2004
+ Học lực giỏi 0,89 0,71 0,8
+ Học lực khá 22,81 21,56 22,1
+ Học lực TB 69,63 70,64 69,6
+ Học lực yếu 6,67 7,04 7,47
+ Học lực kém 0,01 0,02 0,03
+ Tỷ lệ lu ban 0,61 0,3 0,4
+ Tỷ lệ tốt nghiệp 90,75 85,1 87
+ Hiệu quả đào tạo 88,1 79,49 83
(Nguồn Sở giáo dục Lạng Sơn)
Số học sinh giỏi đợc công nhận ngày càng tăng về số lợng và chất lợng.
Việc bồi dỡng học sinh giỏi đã đi vào chiều sâu. Nhiều kỳ thi học sinh giỏi
các khối lớp và quốc gia đã đợc tổ chức.
Bảng 3: Kết quả thi Học sinh giỏi khối THPT năm 2003-2004
Bậc học cấp thi
Tổng
số giải
Trong đó
Ghi
chú
Giải nhất Giải nhì Giải ba Giải K.K
I. Cấp tỉnh
- THPT 540 1 45 181 313
- Lớp 10 145 0 5 54 86
- Lớp 11 191 1 24 55 111
- Lớp 12 204 0 16 72 116
II. Cấp Quốc gia
Lớp 12

phổ thông:
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đờng lối phát triển kinh
tế của nớc ta đã có sự chuyển biến cơ bản, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà Nớc
theo định hớng XHCN. Đổi mới đơng lối kinh tế đã có tác động mạnh mẽ tới
mọi mặt của đời sống KT-XH nói chung và sự nghiệp GD nói riêng. Trong
những năm gần đây nền kinh tế Lạng Sơn đã có những chuyển biến cơ bản,
từng bớc thích ứng với nền kinh tế thị trờng. Sự phát triển đa dạng của các loại
hình kinh tế trong nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các
cấp, các ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế.
Công tác quản lý NSNN ở Lạng Sơn trong những năm qua đã đạt đợc những
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
thành tích đáng phấn khởi, kế hoạch thu, chi NSNN nhiều năm liền đã hoàn
thành và hoàn thành vợt kế hoạch, điều đó tạo điều kiện để thúc đẩy phát triển
kinh tế của tất cả các ngành, các lĩnh vực, thúc đẩy đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ
cấu đầu t, đảm bảo sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, từng bớc nâng
cao đời sống của nhân dân.
Bảng 4: Tình hình thu- chi Ngân Sách tinh Lạng Sơn.
Đơn vị: triệu đồng
STT Chỉ tiêu 2002 2003 2004
1 Thu NSNN 1.044.000 652.000 895.000
2 Chi NSNN 1.034.269 550.570 984.322
(Nguồn: phòng quản lý Ngân Sách-Sở Tài Chính)
Nhìn vào bảng trên ta thấy số thu, chi NSNN hằng năm vẫn tăng lên
đáng kể năm 2004 số thu tăng lên so với năm 2003là 243.000 triệu đồng, Số
thu ngân sách tăng lên phản ánh đợc sự phát triển kinh tế của Tỉnh và điều đó
cũng chứng tỏ các chính sách quản lý tài chính đang áp dụng là phù hợp với
điều kiện thực tế của Tỉnh, các biện pháp nhằm huy động các nguồn thu đợc
thực hiện khá hiệu quả. Tơng ứng với sự tăng lên của thu NSNN thì chi NSNN
cũng tăng lên năm 2004 tăng so với năm 2003 là 433.752 triệu đồng. Do

Trung học phổ thông:
Nhìn chung, các khoản chi thờng xuyên cho sự nghiệp GD THPT đã phát huy
đợc hiệu quả ở một mức độ nhất định, thể hiện ở những thành tựu to lớn mà
GD THPT đạt đợc trong những năm qua. Các khoản chi cho GD THPT bao
gồm 4 nhóm sau:
+ Nhóm chi cho con ngời ( chi CN)
+Nhóm chi Quản lý hành chính ( chi QLHC)
+ Nhóm chi Nghiệp vụ chuyên môn ( chi NVCM)
+ Nhóm chi mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ (chi MS)
Mỗi nhóm chi ảnh hởng tới tổng số chi NSNN cho GD THPT ở mỗi
thời kỳ khác nhau. Trong mỗi nhóm chi lại có từng đối tợng riêng biệt để tính
toán, xây dựng định mức cụ thể, nên yêu cầu cách thức quản lý cũng rát khác
nhau. Để phan tích một cách cụ thể và sâu sắc hơn ta đi phân tiach tình hình
thực hiện các nhóm chi đó trong chi NSNN cho GD THPT ở tỉnh Lạng Sơn
thời gian qua. Từ đó thấy đợc khoản chi nào hợp lý và khoản chi nào bất hợp
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
lý để có biện pháp quản lý phù hợp, phát huy hiệu quả của việc sử dụng
NSNN là cao nhất.
Trớc hết ta xem xét phân tích bảng số liệu sau:
Bảng 6: Cơ cấu chi NSNN cho GD THPT ở tỉnh Lang Sơn:
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2002
Năm
2003
So sánh
Số tuyệt
đối
Tỷ trọng

Chi lơng là khoản chi lớn nhất trong cơ cấu chi thờng xuyên cho sự
nghiệp GD THPT , thực tế chiếm tới hơn 70% tổng số chi NSNN cho GD
THPT . Nội dung của khoản chi này bao gồm : Tiền lơng, tiền công, phụ cấp
lơng, tiền thởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp khác. Nhóm chi này
ảnh hởng trực tiếp đến đời sống của đội ngũ giáo viên, học sinh mà họ là
những ngời quyết định đến chất lợng GD. Do vậy để nâng cao chất lợng GD
thì trớc hết phải nâng cao đời sống của giáo viên, đảm bảo cho họ cuộc sống
ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần , từ đó họ sẽ chuyên tâm công tác, đem hết
khả năng tâm huyết của mình ra để truyền thụ kiến thức cho học sinh Để biết
đợc cụ thể tình hình chi NSNN cho con ngời ta đi phân tích số liệu trong bảng
sau:
SV: Chu Hải Đôn Lớp: K39 01.02
Bảng 7
Chỉ tiêu Năm 2002 Tỷ lệ(%) Năm 2003 Tỷ lệ(%)
Tổng 11.248 12.894
Chi lơng 4.479 39,8 6.125 47,5
Chi phụ cấp 3.993 35,5 4.120 32
Thởng 101 0,9 193 1,5
Phúc lợi 56 0,5 51 0,4
Chi khác 2619 23,3 2.405 18,6
(Nguồn Phòng ngân sách - STC)
Qua số liệu trên ta thấy chi cho CN nhìn chung là tăng đáng kể năm
2003 so với năm 2002 tăng 1.904 triệu đồng, tơng ứng với 27%, sở dĩ có đợc
sự tăng trên là do trong những năm qua Đảng và Nhà nớc luôn quan tâm và có
những chính sách đúng đắn đến đời sống của giáo viên nh :Nghị Định
35/2001/ NĐ-CP, quyết định số 973/1997/QĐ-TTg ngày 17/11/1997 của
Chính Phủ. Thông t hơng dẫn số 147/1998/TT-LT-TCCP-TC-LĐTBXH-GD
ĐT ngày 5/3/1998 về hớng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp u đãi đối với giáo
viên đang triếp giảng dạy ở các trờng công lập của Nhà Nớc. Đối với giáo viên
công tác tại các trờng khu vực III theo Quyết định 42/UBDT MN của Uỷ ban


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status