ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM ĐỖ THỊ VÂN
Biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố
Hải Phòng đến năm 2008
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Lê Ngọc Hùng
Hà nội - 2004
THỰC TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở
HUYỆN AN DƯƠNG, HẢI PHÒNG 37
2.1 Vị trí vai trò của huyện An Dương trong công tác xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục của Hải Phòng 37
2
2.1.1 Khái quát tình hình địa lý, kinh tế - xã hội của huyện An Dương 37
2.1.2 Tình hình thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà
nước của thành phố Hải Phòng 38
2.2. Thực trạng xã hội hoá sự nghiệp giáo dục hiện nay ở huyện An
Dương 41
2.2.1 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non: toàn huyện có 16
trường mầm non, trong đó có 1 trường chính quy và 15 trường dân
lập đang chuyển dần sang bán công. 42
2.2.2 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc tiểu học 43
2.2.3 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học cơ sở: 44
2.2.4 Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục bậc trung học phổ thông: 45
2.2.5 Việc triển khai thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện
An Dương 48
2.3 Tình hình xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của huyện An Dương 49
2.3.1 Nhận thức về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An Dương
49
2.3.2 Kết quả của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục ở huyện An
Dương trong những năm qua: 53
2.3.3 Một số vấn đề đặt ra đối với công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục ở huyện An Dương 68
Chương 3 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP 73
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC 73
3.1 Một số xu hướng biến đổi về giáo dục và xã hội hoá giáo dục 73
3.1.1 Mục tiêu phát triển các cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo
4 MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài
Biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ
thông ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đến năm 2008
2. Lý do chọn đề tài
2.1 Về lý luận:
Chúng ta đang bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ của
nền văn minh trí tuệ, xã hội thông tin và kinh tế tri thức - Thế kỷ của hội
nhập khu vực và quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu”, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã khẳng định:
“Lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực trí tuệ cao”. Như vậy
cũng có nghĩa là, nếu dân tộc nào, quốc gia nào trình độ thấp thì sẽ rất thiệt
thòi, chỉ đi làm đầy tớ, “nô lệ” kiểu mới cho các dân tộc, quốc gia có trình
độ cao.
Đối với dân tộc ta, ngay từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định: “Hiền tài
là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì thế nước lên và hưng
thịnh, nguyên khí yếu thì thế nước suy”. Ngày nay “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” là quan điểm lớn của Đảng ta. Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
to lớn của người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã
2.2. Về thực tiễn:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện An Dương ngày càng mở rộng
về quy mô, nâng cao về chất lượng, trước yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sự phát triển kinh tế - xã
6
hội của huyện An Dương đòi hỏi: giáo dục - đào tạo phải đổi mới và phát
triển nhanh hơn nữa. Trong khi đó, ngân sách và đầu tư khác của Nhà nước
cho giáo dục và đào tạo còn thiếu, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của ngành. Bởi
vậy, cần có nhiều biện pháp có hiệu quả, toàn diện và đồng bộ để đẩy mạnh XHHSNGD trung học phổ thông, góp phần thúc đẩy công tác phổ cập
giáo dục bậc trung học và nghề ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Chủ trương XHHSNGD của Đảng đã và đang được triển khai rộng
khắp các địa phương trong cả nước. Ở thành phố Hải Phòng nói chung và ở
huyện An Dương nói riêng, XHHSNGD đã được thực hiện sớm và đem lại
nhiều kết quả, góp phần cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện ngày
một phát triển. Song công tác XHHSNGD của huyện chưa phải đã được tất
cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội huyện An Dương nhận thức đầy
đủ và chỉ đạo tốt, các gia đình, cá nhân ở huyện An Dương chưa phải đều
đã thấm nhuần và thực hiện tốt.
Vì vậy, cần thiết và cấp bách phải nghiên cứu, đề xuất một số biện
pháp XHHSNGD trung học phổ thông góp phần đạt mục tiêu giáo dục -
đào tạo của An Dương.
3. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ
thông nhằm góp phần đạt mục tiêu phổ cập trung học phổ thông và nghề ở
huyện An Dương, thành phố Hải phòng đến năm 2008
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
8. Những luận điểm bảo vệ:
8.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục trung học phổ thông ở huyện An Dương
8
8.2 Sự cần thiết phải nghiên cứu thực trạng và các biện pháp xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở địa phương
8.3 Luận chứng khoa học cho việc lựa chọn và sử dụng đồng bộ các biện
pháp (Các kết quả nghiên cứu về mặt lý thuyết, thực tế khách quan, khoa
học)
9. Cái mới của luận văn:
Các công trình, đề tài, các bài báo và Hội thảo đã nghiên cứu, thảo
luận vấn đề “Xã hội hoá giáo dục” dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ góc
độ khoa học quản lý về giáo dục. Tuy nhiên, chưa có nhiều đề tài nghiên
cứu chuyên sâu về biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá sự nghiệp
giáo dục trung học phổ thông ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Do đó cái mới của luận văn là việc áp dụng lý luận, phương pháp
nghiên cứu đã học làm sáng tỏ xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và đề xuất
biện pháp tăng cường xã hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông ở
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
10. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp chủ
yếu sau:
10.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng
10.2 Phương pháp phân tích tài liệu
10.3 Phương pháp điều tra xã hội học: (điều tra bằng phiếu, phỏng vấn,
tọa đàm )
10.4 Phương pháp thống kê toán học
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
1.1 Một số quan điểm về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục.
Lý luận Mác-Lê nin coi giáo dục có vai trò quan trọng trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Khi đề cập đến vấn đề tổng quát của lịch sử phát
triển loài người Marx chỉ rõ ở mỗi giai đoạn phát triển đều đòi hỏi một sức
lao động xã hội nhất định. Sức lao động đó là: "Toàn bộ các sức mạnh thể
chất và sức mạnh tinh thần ở trong cơ thể con người, ở trong nhân cách
sinh động của con người, những sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần
mà con người phải cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích" [1]. Sức
mạnh này do đâu mà có? Marx chỉ ra đó là do đào tạo. Trên nền tảng tư
tưởng giáo dục của Marx về phổ cập giáo dục phổ thông kỹ thuật tổng hợp
và việc kết hợp với lao động sản xuất, Lê-nin đã phát triển hoàn chỉnh lý
luận về bản chất kinh tế của giáo dục. Theo Lê-nin, giáo dục xã hội chủ
nghĩa vừa là mục đích kinh tế, vừa là sức mạnh của kinh tế. Giáo dục trong
các nước XHCN biểu hiện cả hai mặt của quy luật kinh tế cơ bản của chủ
khẩn trương, Hồ Chủ tịch vẫn thường xuyên quan tâm việc phát triển nền
12
giáo dục mới, hướng hoạt động của giáo dục vào việc đào tạo cán bộ mới
và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ "kháng chiến và kiến quốc", góp phần
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới.
Nhằm giúp cho cán bộ giáo dục thấy rõ nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang
của ngành trước hoàn cảnh mới của cách mạng, trong lớp đào tạo hướng
dẫn viên các trại hè của ngành giáo dục tháng 4/1956, Hồ Chủ tịch nói rõ:
"Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn
hoá. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì đột
xuất, nhưng rất vẻ vang". Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: "Vì lợi ích
mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người". Người
yêu cầu toàn xã hội: Phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp
giáo dục lên những bước phát triển mới". Người chỉ thị cho ngành giáo
dục: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt" để
"thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật"[ 1, tr. 62].
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục
Xuất phát từ đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI, ngày 10/10/1990 Bộ Giáo dục - Đào tạo và Công đoàn giáo dục Việt
Nam ra thông tư liên tịch số 35/TT – LT về việc động viên toàn ngành
tham mưu với các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương mở Đại hội giáo
dục cấp cơ sở, thực hiện XHHSNGD [32].
Đặc biệt từ khi có Nghị quyết 04/NQ-TW về việc tiếp tục đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo với quan điểm: “Huy động toàn xã hội làm giáo
dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc
dân dưới sự quản lý của Nhà nước”. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân
địa phương, dưới sự quản lý của Nhà nước, trong khuôn khổ chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nhằm đảm bảo quyền, cơ hội cho mọi
14
tầng lớp nhân dân dược tham gia chủ động và bình đẳng các hoạt động của
giáo dục và đào tạo.
XHHSNGD còn là sự tìm tòi khai thác các tiềm ẩn nguồn lực và vật
lực trong xã hội cho giáo dục, đây là chủ trương lâu dài, một phương châm
trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. XHHSNGD
còn là vấn đề sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí mà giáo dục huy
động được.
Đại hội IX tiếp tục khẳng định vị trí vai trò và nhiệm vụ của công tác
XHHSNGD: Thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy
tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng
lực tự học, tự hoàn thiện học vấn tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập
trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính
quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội
học tập” [34].
Đại hội IX cũng nhấn mạnh “thực hiện chủ trương xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc
xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ
giáo dục”.
Trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “chiến
lược phát triển giáo dục 2001-2010” cũng đã xác định: Giáo dục là sự
nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Xây dựng xã hội học tập, tạo
điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường
xuyên, học suốt đời. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự
nghiệp giáo dục. Đẩy mạnh xã hội hoá; khuyến khích, huy động và tạo điều
kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục.
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục
tục đổi mới mạnh mẽ tư duy giáo dục mà công tác xã hội hoá giáo dục
được xem như giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục.
16
Quốc hội đã dành toàn bộ thời gian còn lại trong ngày để các đại biểu
thảo luận về tình hình giáo dục. Tổng số đã có 15 ý kiến phát biểu, 3 ý kiến
chất vấn và 22 đại biểu đăng ký nhưng chưa được phát biểu. Điều đó chứng
tỏ lĩnh vực giáo dục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Quốc hội [27].
Chủ trương xã hội hoá đã có tác động tích cực đến sự nghiệp giáo dục,
đã thu được những kết quả quan trọng: Mở ra quy mô, đa dạng hoá loại
hình, nâng cao dân trí, tăng thêm cơ hội được học tập cho nhân dân, góp
phần thực hiện công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm ổn định đời sống
cho hàng vạn người. Huy động được nhiều nguồn tài nguyên đa dạng đầu
tư cho giáo dục.
Nguyên nhân của những thành công là: Quá trình XHHSNGD đã
được chỉ đạo thực hiện theo đúng đường lối của Đảng thể hiện trong các
Đại hội VIII và IX. XHHSNGD là một quá trình hợp quy luật, dúng với
bản chất xã hội vốn có của giáo dục. Mặt khác, nguyên nhân của những hạn
chế cũng xuất phát từ nhận thức, cơ sở lý luận chưa đầy đủ, tâm lý ỷ lại
trông chờ ở Nhà nước và công tác quản lý hay nói rộng ra hơn là cách làm
xã hội hoá chưa đáp ứng nhu cầu phát triển” [36].
Đổi mới cách vận hành nền giáo dục trước hết cần đổi mới cơ chế
chính sách và quản lý theo hai nhóm giải pháp chính: Kích thích xã hội đầu
tư cho giáo dục và tạo điều kiện xã hội tham gia vào quá trình giáo dục.
.3 Theo quan điểm lịch sử phát triển giáo dục
Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể phân thành các giai đoạn
theo sự phát triển của hình thái xã hội. Tuy nhiên cũng có thể nhìn nhận sự
phát triển đó dưới một góc nhìn khác. Ta có thể coi từ khi có xã hội loài
người đến nay đã trải qua 4 nền văn minh : Văn minh hái lượm ; Văn
minh nông nghiệp ; Văn minh công nghiệp ; Văn minh trí tuệ. Trong nền
nhà trường truyền thống sẽ có những thay đổi lớn về cách thức chuyển tải
nội dung và phương thức giáo dục cũng rất đa dạng. Nhà trường trở thành “
18
Siêu thị kiến thức”! Chỉ có như vậy giáo dục mới đáp ứng được những đặc
điểm mới của kinh tế xã hội. Từ những kiến giải trên chúng ta thấy rõ : mối
quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với xã hội xét trong suốt tiến trình phát
triển của chúng ta tạo nên một hình xoắn ốc, ứng với mỗi giai đoạn phát
triển mối quan hệ hai chiều giáo dục-xã hội thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Sự cân bằng động đó tồn tại vì con người, do con người hay nói một cách
khác lấy con người làm điểm tựa. Ở đây giáo dục phải là công cụ, phương
tiện để cải biến xã hội và nhờ có giáo dục làm động lực xã hội không
ngừng phát triển. Khi xã hội phát triển lên một mức nào đó xã hội sẽ “ Đặt
hàng mới” cho giáo dục và cũng tạo điều kiện mới cho giáo dục buộc giáo
dục phải tự nâng mình lên để đáp ứng bối cảnh mới. Mối quan hệ cân bằng
động này tồn tại cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Theo TS.Đặng Xuân Hải thì : “Cân bằng động” trong đào tạo yêu cầu
các nhà giáo dục phải ý thức được tính đi trước một bước của giáo dục -
đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. “Cân bằng động” này chỉ có
thể duy trì trên cơ sở hệ thống giáo dục phải có chiến lược nghiên cứu các
bước đi của kinh tế - xã hội, nghiên cứu sự thay đổi của thị trường lao
động, đồng thời có chiến lược nâng cao vai trò của giáo dục - đào tạo và
nhà trường nên tương xứng với yêu cầu kinh tế – xã hội luôn thay đổi. Con
người là lực lượng tạo ra và duy trì thế cân bằng động, nên phải thực hiện
chiến lược con người thông qua đầu tư thích đáng cho giáo dục - đào tạo,
chú trọng đặc biệt và trước hết đến chất lượng đào tạo của nhà trường [12].
1.1.4 Theo quan điểm tiếp cận hệ thống trong khoa học quản lý
giáo dục
Dưới góc nhìn của tiếp cận hệ thống, hệ thống giáo dục là một hệ con
của hệ thống xã hội. Giáo dục chi phối nhiều yếu tố của hệ thống xã hội và
thì cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cải biến xã hội. Như vậy dưới góc
20
nhìn này của chúng ta cũng thấy rõ mối quan hệ cân bằng động giữa giáo
dục với các yếu tố khác của xã hội.
- Để tăng cường mối quan hệ giữa giáo dục, nhà trường và cộng đồng xã
hội, chúng ta cần đi sâu vào đặc điểm của các mối quan hệ cụ thể, nghiên
cứu kỹ đặc điểm từng ngành học, bậc học, hoàn cảnh của từng cộng đồng,
từng vùng, từng địa phương để có biện pháp triển khai mối quan hệ này cho
phù hợp và có hiệu quả
1.2 Một số khái niệm nghiên cứu về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục
.1 Khái niệm xã hội hoá
Trong xã hội học, XHH được sử dụng với nghĩa là quá trình con người
tiếp thu nền văn hoá của xã hội trong đó con người được sinh ra, quá trình
nhờ nó con người đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được
cách suy nghĩ, ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội hay là quá trình
chuyển biến cá nhân còn mang tính sinh vật sang cá nhân có tính cách xã
hội. Đây chính là quá trình XHH cá nhân, quá trình hình thành và phát triển
nhân cách.
Còn khái niệm XHH trong luận văn này thuộc phạm trù cách làm. XHH
là một khái niệm chỉ quá trình làm cho một cái gì đó mang tính xã hội hay
trở thành cái chung của xã hội, mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội
có trách nhiệm quan tâm. Đó là quá trình XHH các vấn đề, hoạt động xã
hội như XHH hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao Hiện
có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng
bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của
Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi
người dân, mọi lực lượng xã hội, tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có
- “XHHSNGD hoàn toàn không phải là một ý đồ chiến thuật, được vận
dụng một cách nhất thời cho một giải pháp tình thế. Vì vậy, không nên hiểu
22
XHHSNGD như một phương châm hành động khi đất nước còn nghèo,
điều kiện đầu tư cho giáo dục còn quá eo hẹp. XHHSNGD là một quan
điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho
hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân Nói cách
khác không phải vì nghèo mà chúng ta tiến hành XHHSNGD. Tuy nhiên
trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội như hiện nay thì lại
cần phải nhấn mạnh phát triển giáo dục theo tinh thần XHH” [14].
- “XHHSNGD không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của
Nhà nước.Trái lại, XHHSNGD chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự
lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà
nước và vai trò, chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục”
- XHHSNGD không chỉ nhằm huy động “mọi người cho giáo dục”, mà
còn chủ yếu nhằm tạo cơ hội “giáo dục cho mọi người”.
- XHHSNGD không phải chỉ là huy động các lực lượng xã hội hỗ trợ
cho giáo dục, mà còn huy động xã hội cùng làm giáo dục.
- XHHSNGD không phải chỉ là huy động tiền của trong nhân dân,
không phải là giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Huy động tiền của
của nhân dân chỉ là một nội dung của XHHSNGD. Ngoài huy động tài lực,
việc huy động nhân lực, vật lực, trí lực là nội dung quan trọng của
XHHSNGD nhằm đa dạng hoá các nguồn lực cho giáo dục.
- XHHSNGD không phải là dân chủ hoá giáo dục. Đây là hai khái niệm
có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau. Dân chủ hoá giáo dục là một
nội dung lớn của thời đại, là nội dung rất cơ bản của sự nghiệp đổi mới giáo
dục, biến hệ thống giáo dục và trường học như một “thiết chế hành chính”
thành một “thiết chế giáo dục hoàn toàn của dân, do dân và vì dân”.
XHHSNGD chỉ là một con đường thực hiện dân chủ hoá giáo dục, tạo điều
XHHSNGD là giảm vai trò, là giảm gánh
nặng cho ngân sách Nhà nước, là chuyển
giáo dục cho xã hội tự lo liệu
XHHSNGD đòi hỏi tăng cường vai trò,
trách nhiệm và quản lý của Nhà nước.
Đồng thời với viêc huy động nguồn lực
phải tăng và sử dụng có hiệu quả NSNN
chi cho giáo dục
XHHSNGD chỉ nhằm huy động “mọi
người cho giáo dục”
XHHSNGD không chỉ nhằm huy động
“mọi người cho giáo dục”, mà còn chủ yếu
24
nhằm tạo cơ hội “ giáo dục cho mọi người”
XHHSNGD là huy động xã hội hỗ trợ cho
giáo dục
XHHSNGD là huy động xã hội không chỉ
hỗ trợ cho giáo dục, mà còn cùng làm giáo
dục
XHHSNGD chủ yếu huy động tiền của của
nhân dân
Huy động tiền của của nhân dân chỉ là một
nội dung của XHHSNGD. Ngoài huy động
tài lực, coi trọng huy động nhân lực, vật
lực, trí lực cho giáo dục
XHHSNGD là đa dạng hoá các loại hình
giáo dục, là dân chủ hoá giáo dục, là tổ
chức ĐHGD các cấp
Đa dạng hoá giáo dục, dân chủ hoá giáo