ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ BẨY
CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM
NON HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2008
Luận văn khoa học này được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận
tình của các Cô giáo, Thầy giáo cùng với sự nỗ lực học hỏi, nghiên cứu của
bản thân trong thời gian học tập tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban chủ nhiệm và tập
thể giảng viên Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức,
kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó
Giáo sư – Tiến sỹ Đinh Hồng Thái, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài.
Tôi xin trân thành cảm ơn các cán bộ quản lý Sở Giáo dục và Đào tạo
Hải Phòng, Ban giám hiệu các trường mầm non thành phố đã ủng hộ, cộng
tác, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ
liệu liên quan đến đề tài.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
luôn quan tâm giúp đỡ, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này vẫn khó tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế. Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp
ý, chỉ bảo của các Cô, các Thầy, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và
những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2008
Tác giả Nguyễn Thị Bẩy
Hội đồng nhân dân
Hình thức giáo dục
Hội cha mẹ học sinh
Ngân sách Nhà nước
Kinh tế xã hội
Xã hội hoá
Xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá công tác giáo dục
Xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Uỷ ban nhân dân
1.1.2. Khỏi quỏt nghiờn cu v xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc Mm non
10
1.2. Mt s khỏi nim c bn
13
1.2.1. Khỏi nim giỏo dc
13
1.2.2. Xó hi hoỏ
14
1.2.3. Xó hi hoỏ giỏo dc
18
1.3. S tỏc ng ca xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc n cỏc lnh vc ca
i sng xó hi
22
1.3.1. Xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc l nhõn t to ra Xó hi hc tp
gúp phn nõng cao dõn trớ, o to nhõn lc, bi dng nhõn ti cho
cng ng, cho t nc
22
1.3.2. Xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc gúp phn lm cho giỏo dc phc v
c lc phỏt trin kinh t xó hi a phng
24
1.3.3. Xó hi hoỏ giỏo dc Mm non to ra s cụng bng, dõn ch trong
hng th v trỏch nhim xõy dng giỏo dc Mm non
25
1.3.4. Xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc gúp phn nõng cao cht lng giỏo
dc
27
1.4. Giỏo dc Mm non trong h thng giỏo dc quc dõn
28
1.4.1. V trớ, vai trũ ca giỏo dc Mm non
28
ph Hi Phũng
53
2.2.1. Nhn thc v xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc Mm non
54
2.2.2. Kt qu ca xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc Mm non
68
2.2.3. Thc trng s dng cỏc bin phỏp thc hin xó hi hoỏ cụng tỏc
giỏo dc Mm non Hi Phũng
71
Kt lun chng 2
74
Chng 3: các biện pháp thực hiện xã hội hoá công
tác giáo dục Mầm non ở các tr-ờng Mầm non Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay
81
3.1. Mc tiờu v nh hng phỏt trin giỏo dc Mm non thnh ph Hi
Phũng trong giai on hin nay
81
3.1.1. Mc tiờu v phng hng phỏt trin ca giỏo dc Mm non Hi
Phũng trong giai on hin nay
82
3.1.2. Mc tiờu v nh hng qui mụ phỏt trin giỏo dc Mm non
83
3.2. Cỏc bin phỏp tng cng vic thc hin xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo
dc Mm non
86
3.2.1 Trờn c s quỏn trit ng li lónh o ca ng, chớnh sỏch
phỏp lut ca Nh nc, tớch cc tuyờn truyn nhm nõng cao nhn thc
v xó hi hoỏ cụng tỏc giỏo dc Mm non
86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
115
1. Kết luận
115
2. Khuyến nghị
117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
119
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, chúng ta đang sống
trong thời đại công nghệ thông tin, kinh tế tri thức thì vấn đề giáo dục, văn
hoá đang được coi trọng với mỗi quốc gia. Nó thực sự trở thành trung tâm
chiến lược phát triển đất nước. Đặc biệt, ở nước ta giáo dục được coi là quốc
sách hàng đầu, nhằm mục tiêu “Dân giàu – nước mạnh – xã hội công
bằng, dân chủ văn minh”
Xã hội hoá công tác giáo dục (XHHCTGD) là quan điểm lớn của
Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp phát triển giáo dục. Để phát triển sự
nghiệp giáo dục Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị
quyết để chỉ đạo, triển khai XHHCTGD và chỉ rõ những vấn đề liên quan
đến xã hội phải được giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.
Nghị quyết số 90/CP, ngày 21/8/1997 và Nghị định số 73/1999/NĐ-
CP ngày 19/8/1999; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 về đẩy
hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đề xuất một số biện pháp thực hiện XHHCTGDMN trong giai
đoạn hiện nay, góp phần làm cho công tác giáo dục mầm non (GDMN) ở
thành phố Hải Phòng có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động XHHCTGDMN ở thành phố Hải Phòng
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp thực hiện XHHCTGDMN ở
thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu lý luận về XHHCTGDMN
3
4.2. Khảo sát thực trạng việc thực hiện XHHCTGDMN ở thành phố Hải Phòng.
4.3. Đề xuất một số biện pháp thực hiện XHHCTGD ở các trường MN
thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp thực hiện XHHCTGDMN phù
hợp sẽ góp phần tạo điều kiện phát triển sự nghiệp GDMN hiện nay của
thành phố.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu: Trong điều kiện về thời gian và khả năng, đề
tài tập trung nghiên cứu chủ yếu năm học 2007 – 2008 và xu hướng những
năm học tiếp theo của ngành học trong thành phố.
Địa bàn nghiên cứu: Các trường mầm non nội ngoại thành Hải
Phòng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Các Nghị quyết, Chính sách của Đảng, Nhà nước; các văn bản, tài
5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO
DỤC MẦM NON
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá công tác giáo dục nói
chung và công tác giáo dục mầm non nói riêng
1.1.1. Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Các nhà
nghiên cứu lịch sử giáo dục, xã hội, văn hoá và các nền văn minh trước đây
đều khẳng định: con người luôn sống trong trình độ xã hội nhất định. Với ý
nghĩa trên, giáo dục được xem như là một hiện tượng xã hội đặc biệt quan
trọng, là nhân tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến các hiện tượng xã hội khác
quyết định sự tồn tại và chiều hướng phát triển xã hội loài người. Điều này có
nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói cách khác,
không có giáo dục đứng ngoài xã hội, cũng có nghĩa là không có xã hội nào có
thể phát triển mà không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền giáo dục.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là hoạt động đặc trưng của
xã hội loài người. Chừng nào xã hội loài người còn tồn tại, chừng đó giáo dục
tiếp tục tồn tại và phát triển, giáo dục chỉ mất đi khi xã hội loài người không
còn tồn tại. Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có một nền giáo dục tương ứng
với trình độ, tốc độ phát triển của xã hội trong giai đoạn lịch sử đó. Giáo dục là
sự phản ánh sinh động nhất về trình độ phát triển của nền KT-XH, chịu sự ảnh
hưởng chi phối của truyền thống văn hoá, những điều kiện bối cảnh phát triển
của một dân tộc, một đất nước, khái quát hơn là một thời đại, vì thế, cũng có
thể xem đó chính là bản chất xã hội của giáo dục.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu cũng như chỉ đạo giáo dục, cần phân biệt
rõ tính chất xã hội của giáo dục và XHHCTGD. Đây là 2 vấn đề có ý nghĩa
khác biệt, chúng không phải là một. Tự thân hoạt động giáo dục vẫn có tính
chất xã hội, nhưng nó chưa đạt tới trình độ xã hội hoá đích thực theo đúng
nơi. Người dân ban ngày đi làm, tối tối lại đến lớp bình dân học vụ để học chữ
Quốc ngữ. Nước ta từ chỗ trên 90% người dân không biết chữ dần dần trở
7
thành một dân tộc có học vấn. Từ bài học của Bác chúng ta mới thấm nhuần
sâu sắc sức mạnh của toàn dân tộc.
Từ khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, nhất là trong thời đại công
nghệ thông tin, kinh tế tri thức hiện nay, chúng ta ngày càng ngày có điều kiện
thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục. Để thực hiện công cuộc đổi
mới, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với mục tiêu: “Dân giầu
nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” toàn Đảng và toàn dân ta
đang tích cực đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Đây là chiến lược
quốc gia có tầm quan trọng góp phần vào sự thành bại của việc thực hiện mục
tiêu trên - Nó được xác định bằng chủ trương XHHCTGD, nhằm huy động
nguồn lực của xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục, làm cho học vấn đến
được toàn dân một cách phổ cập, ngày càng nhiều hơn và do đó toàn dân sẽ
đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực làm cho giáo dục ngày càng phát triển hơn.
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đường lối đổi
mới toàn diện của Đảng đã mở đầu cho sự phát triển mới về kinh tế – xã hội
(KT-XH) của đất nước, trong đó có giáo dục. Hội nghị lần thứ tư Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VII đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây
dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam, Hội nghị đã thảo luận và ra Nghị
quyết về sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo. Từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các
văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo
đài , chúng ta thường gặp thuật ngữ “xã hội hoá” đối với các lĩnh vực hoạt
động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, dân số – kế hoạch hoá gia đình, thể
dục thể thao, giáo dục và đào tạo,… Như vậy, chuyển sang thời kỳ đổi mới, xã
hội hoá việc thực hiện các chính sách xã hội là một chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước trong đó có chủ trương về XHHCTGD.
Xác định vai trò của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị
mang tính toàn diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng
trong xã hội để phát triển giáo dục. XHHCTGD có thể coi đây là một chiến
lược của Đảng và nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển
giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.
9
Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm XHHCTGD: Đó là việc
lôi cuốn, thu hút khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng
làm giáo dục; Việc huy động và động viên đó mang tính chất là những phong
trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của
Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi người dân đều có trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm giáo dục.
Hưởng ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước về XHHCTGD, nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu khoa học của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo
dục quan tâm, nghiên cứu, bàn luận về xã hội hoá giáo dục như: “Xã hội hoá
công tác giáo dục” do Ban khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học Giáo dục phối hợp xuất bản
năm 1997. “Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện xã hội hoá giáo dục thông qua
Đại hội giáo dục các cấp” của Công đoàn Giáo dục Việt Nam; “ XHHCTGD
là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con
đường phát triển của Đảng ta”. Tập thể viện Khoa học giáo dục do PGS. Võ
Tấn Quang làm chủ biên đã viết: “Xã hội hoá công tác giáo dục: Nhận thức và
hành động” do tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình biên
soạn Trong cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục”, GS. Phạm Tất Dong coi xã hội
hoá là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt
Nam qua mỗi giai đoạn. Khái niệm xã hội hoá cũng được tác giả Nguyễn Quí
Thanh đề cập trong cuốn “Xã hội học” do GS.Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng
đồng chủ biên. Xã hội hoá được các tác giả dùng với hai nội dung , trong nội
dung thứ nhất: khái niệm này chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật
chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện nào đó của xã hội mà trước đấy chỉ có
dục” chính thức có mặt như một thành tố mới góp phần tích cực tạo nên sự
phát triển giáo dục hiện nay của đất nước
1.1.2. Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là bậc học đầu tiên.Theo tinh
thần của Luật giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển công tác GDMN
11
cần phải gắn bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao. Tính
phong trào vừa là đặc điểm riêng vừa là quy luật phát triển của GDMN, vì vậy
phải phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển
được bậc học này.
GDMN cũng như sự nghiệp giáo dục cả nước đã và đang có những bước
chuyển biến đáng kể. Có được kết quả đó là nhờ thực hiện đổi mới toàn diện
giáo dục mầm non trong đó phải kể đến một phần quan trọng trong vận dụng
đúng đắn chủ trương XHHCTGDMN.
Từ thực tiễn giáo dục mầm non có thể nói đây là bậc học được xã hội
hoá cao hơn bất kỳ bậc học nào. Giáo dục mầm non là sự thể hiện sinh động sự
phối hợp hài hoà nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm.
Thực hiện chiến lược phát triển giáo dục mầm non đến năm 2020; nhằm
phát triển giáo dục mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá
VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 25/6/2002 Thủ
tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non. Hội
nghị đề ra những giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh
biện pháp xã hội hoá giáo dục mầm non, đa dạng hoá các loại hình giáo dục
mầm non. Ngày15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non và
khẳng định rõ ở điều 1, nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non đến 2010: “Nhà
nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã
hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp
mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,…” [16, tr.2]. Quyết định 161/2002/QĐ-
địa bàn quận Hoàn Kiếm – Hà Nội" của Dương Thị Thanh Huyền; “Các biện
pháp tăng cường thực hiện XHHCTGDMN tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay”
của Cù Thị Thuỷ; “Các biện pháp quản lý XHHGDMN trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” của Tạ Thu Vân; “ Một số biện pháp
của hiệu trưởng nhằm huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển
trường mầm non trên địa bàn huyên Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn
13
Thị Minh; “Các biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở
thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010” của thạc sĩ Hoàng Phú Mạnh; “Giải
pháp thực hiện XHHCTGD của ngành học mầm non trên địa bàn quận Thanh
Khê thành phố Đà Nẵng” của Võ Ngọc Hoa; “Một số giải pháp xã hội hoá giáo
dục ở bậc học mầm non” của tiến sĩ Trần Thị Bích Trà
Các đề tài trên cho thấy bức tranh sinh động về XHHCTGDMN ở các
địa phương trong cả nước. Tuy nhiên, tất cả đều chung nhận định cần thiết có
sự tham gia của xã hội vào phát triển giáo dục mầm non. Đồng thời GDMN cần
phải tạo ra một môi trường giáo dục lành manh, có sự tham gia đóng góp của các
cấp các ngành, cha mẹ học sinh, và toàn xã hội vào sự phát triển giáo dục mầm
non. Mục tiêu của XHHGDMN, theo các đề tài là sự hưởng thụ cơ hội giáo dục
của mọi người và sự tham gia dưới nhiều hình thức đóng góp vào sự phát triển
của giáo dục, đó là các phương thức thực hiện XHHCTGDMN, đa dạng hoá các
loại hình đào tạo, tham gia đóng góp về tài chính, công sức cho giáo dục, cùng
với nhà trường tham gia trực tiếp vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ em và
giải quyết các vấn đề phát triển giáo dục, và các lực lượng xã hội tham gia vào
quản lý giáo dục. Đặc biệt trong đó các đề tài đều nhấn mạnh đến việc lôi cuốn
thu hút khích lệ mọi người dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục, xác
định được vai trò của xã hội, nhân dân, Nhà nước trong từng trách nhiệm. Việc
huy động đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, là sự tập hợp lực
lượng sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn xã hội cho GDMN.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
“Học thường xuyên”, “Học suốt đời”. Tức là, giáo dục hướng tới tất cả những
ai có nhu cầu và có điều kiện học tập, được thực hiện ở bất cứ không gian, thời
gian nào thích hợp, bằng các phương tiện dạy học khác nhau. Ở đây giáo dục
tuy thực chất cũng là một quá trình xã hội hoá con người nhưng có tính độc
lập, riêng biệt tương đối của nó.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành cho con người cơ sở
khoa học của thế giới quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện
15
thực, phát triển và nâng cao thể lực con người. Quá trình này được coi là bộ
phận của quá trình giáo dục tổng thể. Giáo dục hiểu theo nghĩa này không bó
hẹp trong môn đạo đức mà phải được hiểu là thực hiện trong tất cả các mặt
trong cuộc sống, trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.
1.2.2. Xã hội hoá
Khái niệm xã hội hoá đã đựơc các nhà xã hội học sử dụng để mô tả
những phương cách giá trị mà vai trò xã hội đã đề ra tạo cơ sở cho việc hình
thành và phát triển nhân cách con người:“Xã hội hoá là quá trình tương tác
giữa cá nhân và xã hội, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức,
kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội” [46, tr.331]. Thuật
ngữ XHH hiện nay được dùng với hai nội dung.
Nội dung thứ nhất: thuật ngữ ”Xã hội hoá xã hội” để chỉ quá trình biến
những hành vi, hoạt động có tính đơn lẻ, khu biệt của cá thể, tư nhân hay
nhóm, tổ chức xã hội thành những hành vi, hoạt động có tính chất xã hội với sự
tham gia rộng rãi của các thành phần xã hội khác nhau. [35,Tr .296]. Khái
niệm này chỉ tăng cường sự chú ý quan tâm của xã hội đến những vấn đề, sự
kiện cụ thể nào đó mà trước đây chỉ một bộ phận xã hội quan tâm. Hay nói
cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề, sự kiện cụ thể
nào đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng, một bộ phận của xã hội
quan tâm, nay được đông đảo quần chúng quan tâm, đó là quá trình xã hội hoá
các vấn đề, các sự kiện như: XHHGD, XHH ytế…
hiện đại hoá đất nước.
Muốn thực hiện xã hội hoá trước hết và quan trọng là phải đổi mới cơ
chế quản lý theo phương châm dân chủ hoá: dân biết, dân làm ,dân bàn ,dân
kiểm tra. Vì vậy, xã hội hoá và đổi mới cơ chế quản lý trong lĩnh vực văn hoá,
xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, vấn đề này cũng có thể hiểu : "Xã hội
hoá gắn với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý trong các lĩnh vực văn hoá, xã
hội những năm qua chỉ rõ, nơi nào thực hiện xã hội hoá mà không đổi mới cơ
chế quản lý, vi phạm quyền dân chủ thì ở nơi đó nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp"[49.Tr.71].
17
Khi chưa thực hiện xã hội hoá thì nguồn lực hoàn toàn do Nhà nước bao
cấp. Thực hiện xã hội hoá rồi thì sẽ có thêm nhiều nguồn lực trong xã hội.
Trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, nước ta đã có thời kỳ tuyệt đối hoá sự
phân công lao động xã hội mà có quan niệm cho rằng : Nhà nước cần phải lo
mọi việc cho dân, dẫn đến các mặt hoạt động văn hoá, xã hội vốn có bản chất
xã hội sâu sắc đã bị Nhà nước hoá; giáo dục khoán trắng cho nhà trường. Hậu
quả là các lĩnh vực này xuống cấp trầm trọng, giáo dục bị tan vỡ từng mảng…
vào cuối thập kỷ 80. Thực tế đó đòi hỏi phải đổi mới cách làm, cách quản lý
các lĩnh vực văn hoá xã hội song song với việc đổi mới quản lý kinh tế.
Mục tiêu chủ yếu của xã hội hoá là: Huy động tổng lực sức mạnh của
toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực to lớn thức đẩy sự phát triển mạnh mẽ của
lĩnh vực văn hoá- xã hội , làm cho lĩnh vực công tác này thực sự gắn bó với
dân, của dân, do dân và vì dân. Từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân.
Trong Nghị định của Chính phủ số 73/1999 NĐ-CP ngày 19 tháng 8
năm 1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá, đối với các hoạt động trong
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao - Điều 1 chỉ rõ:" Xã hội hoá các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao là vận động sự tham gia rộng rãi của
nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm nâng cao
giáo dục, y tế, văn hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân
dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng
cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và
tinh thần của nhân dân. Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các
tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội
lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. Xã hội hoá
là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và
tài lực trong xã hội.
Như vậy, xã hội hoá là một chủ trương có nội dung phong phú. Đó là
quá trình vận động quần chúng, nâng cao tính tích cực, ý thức tự giác và sức