ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
..……..
NGUYỄN THI ̣ BẨY
CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA
CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở CÁC TRƢỜNG
MẦM NON HẢI PHÒNG TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội - 2008
LỜI CẢM ƠN
Luận văn khoa học này được hoàn thành với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận
tình của các Cô giáo, Thầy giáo cùng với sự nỗ lực học hỏi, nghiên cứu của
bản thân trong thời gian học tập tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban chủ nhiệm và tập
thể giảng viên Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức,
kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó
Giáo sư – Tiến sỹ Đinh Hồng Thái, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài.
Tôi xin trân thành cảm ơn các cán bộ quản lý Sở Giáo dục và Đào tạo
Giáo dục và Đào tạo
GDMN
Giáo dục mầm non
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTGD
Hình thức giáo dục
HCMHS
Hội cha mẹ học sinh
NSNN
Ngân sách Nhà nước
KTXH
Kinh tế xã hội
XHH
Xã hội hoá
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn xã hội hoá công tác giáo dục nói
chung và công tác giáo dục Mầm non nói riêng
1.1.1. Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục
1.1.2. Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm giáo dục
1.2.2. Xã hội hoá
1.2.3. Xã hội hoá giáo dục
1.3. Sự tác động của xã hội hoá công tác giáo dục đến các lĩnh vực của
đời sống xã hội
1.3.1. Xã hội hoá công tác giáo dục là nhân tố tạo ra “Xã hội học tập
góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho
cộng đồng, cho đất nước”
1.3.2. Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ
đắc lực phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
1.3.3. Xã hội hoá giáo dục Mầm non tạo ra sự công bằng, dân chủ trong
hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục Mầm non
1.3.4. Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục
1.4. Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.4.1. Vị trí, vai trò của giáo dục Mầm non
1.4.2. Đặc trưng của giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc
dân
1.4.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục Mầm non
1.5. Xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
1.5.1. Mục tiêu xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
1.5.2. Các nguyên tắc xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
1.5.3. Nội dung xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Kết luận chương 1
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC MẦM NON Ở THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Vài nét về giáo dục Mầm non thành phố Hải Phòng
2.1.1. Những kết quả đạt được
2.1.2. Những khó khăn bất cập cần tập trung giải quyết
2.2. Thực trạng thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục Mầm non thành
phố Hải Phòng
2.2.1. Nhận thức về xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
2.2.2. Kết quả của xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
2.2.3. Thực trạng sử dụng các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác
giáo dục Mầm non Hải Phòng
Kết luận chương 2
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ CÔNG
TÁC GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON HẢI
PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển giáo dục Mầm non thành phố Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay
3.1.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của giáo dục Mầm non Hải
Phòng trong giai đoạn hiện nay
3.1.2. Mục tiêu và định hướng qui mô phát triển giáo dục Mầm non
3.2. Các biện pháp tăng cường việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo
dục Mầm non
3.2.1 Trên cơ sở quán triệt đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước, tích cực tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức
về xã hội hoá công tác giáo dục Mầm non
3.2.2. Xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục Mầm non phù hợp với yêu
cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, kinh tế – xã hội của địa phương
92
94
101
106
111
112
112
112
112
3.4.4. Nội dung khảo nghiệm yêu cầu
3.5. Phân tích kết quả khảo nghiệm
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
112
113
115
115
117
119
MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi cơ chế quan liêu bao cấp được chuyển sang cơ chế kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều vấn đề mới đặt ra cho giáo
dục và đào tạo. Một trong các vấn đề đang là mối quan tâm của các nhà quản lý
giáo dục là giải quyết mối quan hệ chức năng phúc lợi của giáo dục và chức
năng dịch vụ của nó trong cơ chế mới. Chính việc giải quyết giữa vấn đề này
làm nảy sinh quan hệ mới giữa giáo dục đào tạo với cộng đồng xã hội. Trong
tình hình đó, nhiều tỉnh và thành phố trong cả nước đã có những hướng đi khá
độc đáo, táo bạo, huy động sự ủng hộ lớn cả về vật chất và tinh thần đế phát
triển sự nghiệp giáo dục mầm non của địa phương. Hải Phòng là thành phố lớn
có truyền thống giáo dục, công tác xã hội hoá giáo dục đang là một trong những
điểm mạnh của giáo dục Hải Phòng nói chung, giáo dục mầm non Hải Phòng
nói riêng.
Tuy nhiên, yêu cầu phát triển ngày càng cao về số lượng và chất lượng
của GDMN Hải Phòng đòi hỏi sự tăng cường hơn nữa XHHCTGDMN. Đặc
biệt là cần có các biện pháp phù hợp hiệu quả để phát huy hơn nữa sức mạnh
của XHHCTGDMN, nhằm phát triển giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu phát
triển giáo dục trong tình hình mới. Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chon thực
hiện đề tài: “Các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở các
trường mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đề xuất một số biện pháp thực hiện XHHCTGDMN trong giai đoạn
hiện nay, góp phần làm cho công tác giáo dục mầm non (GDMN) ở thành phố
Hải Phòng có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động XHHCTGDMN ở thành phố Hải Phòng
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp thực hiện XHHCTGDMN ở
thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
7.3. Nhóm các phương pháp sử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được
chia làm ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của xã hội hoá công tác giáo dục mầm non.
Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục mầm non ở
thành phố Hải Phòng trong thời gian qua.
Chƣơng 3: Các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở các trường
mầm non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
MẦM NON
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá công tác giáo dục nói
chung và công tác giáo dục mầm non nói riêng
1.1.1. Khái quát nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Các nhà nghiên
cứu lịch sử giáo dục, xã hội, văn hoá và các nền văn minh trước đây đều khẳng
định: con người luôn sống trong trình độ xã hội nhất định. Với ý nghĩa trên, giáo
dục được xem như là một hiện tượng xã hội đặc biệt quan trọng, là nhân tố quan
trọng tác động mạnh mẽ đến các hiện tượng xã hội khác quyết định sự tồn tại và
chiều hướng phát triển xã hội loài người. Điều này có nghĩa là không thể tách rời
giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã
hội, cũng có nghĩa là không có xã hội nào có thể phát triển mà không gắn liền với
vai trò lịch sử của một nền giáo dục.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là hoạt động đặc trưng của xã
hội loài người. Chừng nào xã hội loài người còn tồn tại, chừng đó giáo dục tiếp tục
tồn tại và phát triển, giáo dục chỉ mất đi khi xã hội loài người không còn tồn tại.
Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có một nền giáo dục tương ứng với trình độ, tốc độ
phát triển của xã hội trong giai đoạn lịch sử đó. Giáo dục là sự phản ánh sinh động
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [26, tr.36].
Người còn kêu gọi toàn dân tích cực học tập theo phương châm: “Những
người chưa biết chữ càng gắng sức mà học, vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa
biết thì anh bảo, người ăn, người làm chưa biết thì chủ bảo”. Hưởng ứng lời kêu
gọi của Người, cả nước dấy lên một phong trào học tập sôi nổi, toàn dân ra sức thi
đua học tập, các lớp bình dân học vụ được mở ra khắp nơi. Người dân ban ngày đi
làm, tối tối lại đến lớp bình dân học vụ để học chữ Quốc ngữ. Nước ta từ chỗ trên
90% người dân không biết chữ dần dần trở thành một dân tộc có học vấn. Từ bài
học của Bác chúng ta mới thấm nhuần sâu sắc sức mạnh của toàn dân tộc.
Từ khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, nhất là trong thời đại công nghệ
thông tin, kinh tế tri thức hiện nay, chúng ta ngày càng ngày có điều kiện thuận lợi
hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục. Để thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với mục tiêu: “Dân giầu nƣớc mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ văn minh” toàn Đảng và toàn dân ta đang tích cực đẩy
mạnh sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Đây là chiến lược quốc gia có tầm quan
trọng góp phần vào sự thành bại của việc thực hiện mục tiêu trên - Nó được xác
định bằng chủ trương XHHCTGD, nhằm huy động nguồn lực của xã hội để phát
triển sự nghiệp giáo dục, làm cho học vấn đến được toàn dân một cách phổ cập,
ngày càng nhiều hơn và do đó toàn dân sẽ đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực làm
cho giáo dục ngày càng phát triển hơn.
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đường lối đổi mới
toàn diện của Đảng đã mở đầu cho sự phát triển mới về kinh tế – xã hội (KT-XH)
của đất nước, trong đó có giáo dục. Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền
giáo dục Việt Nam, Hội nghị đã thảo luận và ra Nghị quyết về sự nghiệp Giáo dục
và Đào tạo. Từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước,
các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo đài..., chúng ta thường gặp thuật ngữ
“xã hội hoá” đối với các lĩnh vực hoạt động chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
tr.10]. Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá
giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”. Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ
đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng
trong xã hội để phát triển giáo dục. XHHCTGD có thể coi đây là một chiến lược
của Đảng và nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục
một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.