BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ HOÀI
MÃ SINH VIÊN: 1101200
XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ
CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI
VACCINE PHÒNG BỆNH DO
VI KHUẨN STREPTOCOCCUS
PNEUMONIA TRÊN ĐỐI TƢỢNG
TRẺ EM VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2016
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ HOÀI
MÃ SINH VIÊN: 1101200
XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ
CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI
VACCINE PHÒNG BỆNH DO
VI KHUẨN STREPTOCOCCUS
PNEUMONIA TRÊN ĐỐI TƢỢNG
TRẺ EM VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Người hướng dẫn:
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ........................................................................................ 3
1.1. Phế cầu khuẩn và bệnh gây ra do phế cầu khuẩn .................................................. 3
1.2.
Tình hình dịch tễ bệnh phế cầu khuẩn ................................................................ 4
1.2.1.
Tình hình dịch tễ bệnh phế cầu khuẩn trên thế giới .................................... 4
1.2.2.
Dịch tễ bệnh phế cầu khuẩn ở Việt Nam ..................................................... 5
1.3.
Gánh nặng kinh tế gây ra do bệnh phế cầu khuẩn .............................................. 6
1.4.
Vaccine phòng phế cầu ....................................................................................... 7
1.4.1.
Các loại vaccine phòng phế cầu................................................................... 7
1.4.2.
2.1.
Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 18
2.2.
Các bước tiến hành nghiên cứu ........................................................................ 18
2.2.1.
Tổng hợp các mô hình từ các nghiên cứu .................................................. 19
2.2.2.
Lựa chọn mô hình, xây dựng cấu trúc mô hình ......................................... 20
2.2.3.
Tổng hợp dữ liệu đầu vào .......................................................................... 20
CHƢƠNG 3.
3.1.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 23
Kết quả tìm kiếm và tổng hợp các mô hình từ các nghiên cứu ........................ 23
3.1.1.
Tên tiếng Anh
Tên tiếng Việt
CEA
Cost-effectiveness analysis
Phân tích chi phí – hiệu quả
CUA
Cost-utility analysis
Phân tích chi phí – thỏa dụng
GDP
Gross Domestic Product
Tổng thu nhập quốc dân
ICER
Incremental cost-effectiveness
Tỉ số chi phí – hiệu quả gia tăng
ratio
IPD
RCT
WHO
Randomized controlled trial
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có
World Health Organization
đối chứng
Tổ chức y tế thế giới
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Bảng phân phối xác suất của các thông số
15
Bảng 2.1. Phân bố tỉ lệ typ huyết thanh IPD bao phủ bởi PCV10 và
21
PCV13 ở trẻ em Việt Nam < 5 tuổi
Bảng 3.1. Đặc điểm của các mô hình trong các nghiên cứu
53
Bảng 3.2. Các trạng thái bệnh tật trong các mô hình
16
Hình 1.6. Giao diện làm việc của phần mềm TreeAge Pro 2011
17
Hình 2.1. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu
18
Hình 3.1. Sơ đồ lựa chọn mô hình
26
Hình 3.2. Cấu trúc chung của mô hình xây dựng
26
Hình 3.3. Cấu trúc các trạng thái bệnh tật
28
Hình 3.4. Các nhánh từ mô hình đã xây dựng trên
60
phần mềm TreeAge Pro 2011
Hình 3.5. Chi phí - hiệu quả của các phác đồ đánh giá
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là một trong những nguyên nhân
phổ biến nhất gây nên bệnh tật và tử vong cho trẻ em ở cả những nước đã và đang
phát triển trong đó có Việt Nam [12], [60]. Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng bệnh
do phế cầu khuẩn gây ra khoảng 1,6 triệu người chết mỗi năm và khoảng một nửa
trong số này là trẻ em trong độ tuổi ít hơn năm tuổi [70]. Hầu hết gánh nặng bệnh
tật và gánh nặng kinh tế đều diễn ra ở các nước đang phát triển [12].
Phế cầu khuẩn có thể gây ra các bệnh như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết,
viêm phổi, viêm tai giữa và để lại những di chứng lâu dài cho trẻ em [10]. Bệnh gây
ra do phế cầu khuẩn có thể được điều trị bằng các kháng sinh. Tuy nhiên đáng lo
ngại là trong những năm gần đây phế cầu khuẩn đã kháng nhiều kháng sinh gây khó
khăn cho việc điều trị, dẫn đến bệnh tật kéo dài, bệnh nặng hơn và trong một số
trường hợp sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, tình trạng này trở thành vấn đề lớn đối với
ngành y tế, tạo áp lực, gánh nặng cho toàn xã hội [2]. Do đó, có một lựa chọn tốt
hơn là phòng bệnh phế cầu khuẩn thông qua tiêm chủng vaccine [56], [71]. Vaccine
phòng phế cầu đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả với trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi
để ngăn chặn các bệnh phế cầu khuẩn. Mặc dù vaccine phòng phế cầu có nhiều lợi
ích nhưng do chi phí cao nên chỉ được đem vào chương trình tiêm chủng mở rộng ở
một số quốc gia [32]. Loại vaccine phòng bệnh phế cầu khuẩn ở trẻ em hiện nay
đang được dùng là vaccine phòng phế cầu liên hợp (PCV) gồm hai loại: vaccine
phòng phế cầu liên hợp loại 10 typ (PCV10) và vaccine phòng phế cầu liên hợp loại
13 typ (PCV13).
Vaccine PCV10 đã có mặt trên thị trường Việt Nam nhưng chỉ đưa vào tiêm
chủng dịch vụ. Hiện nay, Việt Nam không nằm trong danh sách các nước được Liên
minh vaccine và tiêm chủng toàn cầu GAVI hỗ trợ [75], vì thế nếu chuyển đổi
vaccine phòng phế cầu từ tiêm chủng dịch vụ sang chương trình tiêm chủng mở
rộng sẽ là một thách thức lớn của nước ta về vấn đề tài chính. Đã có nhiều nghiên
cứu đánh giá chi phí - hiệu quả của vaccine phòng phế cầu [7 - 15], [28 - 40] bằng
2
thế kỷ 19. Phế cầu khuẩn gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng như viêm phổi, viêm màng
não, nhiễm khuẩn huyết, viêm tai giữa. Đến nay phế cầu khuẩn được biết đến với
hơn 92 typ huyết thanh, các typ huyết thanh khác nhau về khả năng gây bệnh, tỷ lệ
mắc, và mức độ kháng kháng sinh [25].
Viêm màng não (Meningitis)
S.pneumoniae có thể lây nhiễm vào máu sau khi vào cơ thể, từ máu S.
pneumonia có thể di chuyển tới nhiều cơ quan, đặc biệt là màng bao quanh não, từ
đó gây ra viêm màng não [70]. Chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng và xét
nghiệm dịch não tủy. Viêm màng não do phế cầu có thể đe dọa nghiêm trọng đến
tính mạng, diễn biến xấu nhanh và dẫn đến tử vong nếu không được điều trị [25].
Viêm màng não do phế cầu có thể phục hồi khỏe mạnh, cũng có thể để lại nhiều di
chứng như động kinh, điếc, chậm phát triển tâm thần [70].
Nhiễm hu n hu ết ( epsis, B cteremi )
Nhiễm khuẩn huyết là tập hợp những biểu hiện lâm sàng của một tình trạng
nhiễm trùng - nhiễm độc toàn thân nặng, có nguy cơ tử vong nhanh chóng do sốc và
suy cơ quan, gây ra bởi sự xâm nhập liên tục của vi khuẩn và các độc tố của chúng
vào máu xuất phát từ một ổ nhiễm khuẩn khởi điểm. Nhiễm khuẩn huyết có thể hồi
phục khỏe mạnh nhưng cũng có thể dẫn đến tử vong [76].
Bệnh viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết thường được gọi chung là bệnh
phế cầu khuẩn xâm lấn (IPD) tức là phế cầu khuẩn xâm lấn vào các tổ chức như
máu, màng não.
Vi m phổi (Pneumonia)
4
S.pneumoniae là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh viêm phổi trên toàn thế
giới, gây ra khoảng 36% trường hợp viêm phổi [70]. Viêm phổi do phế cầu thường
xảy ra sau khi đường hô hấp bị tổn thương do nhiễm virus (như virus cúm) hoặc do
hóa chất [3]. Việc chẩn đoán viêm phổi thường dựa trên biểu hiện lâm sàng, Xquang, và xét nghiệm mẫu bệnh phẩm đường hô hấp dưới và xét nghiệm máu [25].
Tỷ lệ mắc bệnh viêm màng não do phế cầu ở trẻ em trên toàn thế giới là 17 trường
hợp trên 100.000 trẻ em, ước tính khoảng 103.000 trường hợp viêm màng não do
phế cầu khuẩn vào năm 2000. Tỷ lệ mắc bệnh viêm màng não là thấp nhất ở châu
Âu và cao nhất ở châu Phi. Vào năm 2000, trên thế giới có khoảng 13,8 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi mắc viêm phổi do phế cầu, trong đó Đông Nam Á có số lượng mắc cao
nhiều nhất, còn châu Phi có tỷ lệ mắc cao nhất [42]. Viêm tai giữa là bệnh hay gặp
nhất ở trẻ em. Khoảng 60% trẻ em dưới một tuổi có ít nhất một lần mắc viêm tai
giữa. Streptococcus pneumonia gây ra khoảng 25 - 40% tất cả trường hợp viêm tai
giữa ở trẻ em [43].
Theo WHO, phế cầu khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong do viêm
phổi ở trẻ em trên toàn thế giới. Năm 2005, WHO ước tính bệnh phế cầu khuẩn gây
ra khoảng 1,6 triệu ca tử vong, trong đó khoảng 700.000 đến 1 triệu là trẻ em dưới 5
tuổi. Các quốc gia ở châu Á và châu Phi cận Sahara chiếm trên 60% số trường hợp
tử vong do bệnh phế cầu khuẩn. Tại Bangladesh, ước tính cho thấy rằng có 50.000
trẻ em chết mỗi năm do bệnh phế cầu khuẩn. Ở Ấn Độ, viêm phổi gây ra một phần
tư tất cả các trường hợp tử vong. Trong đó, có khoảng từ 123.000 đến 164.000 trẻ
em tử vong do viêm phổi liên quan đến phế cầu.
Tỷ lệ trường hợp tử vong các bệnh viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết do phế
cầu ở các nước đang phát triển tương ứng là 50% và 20%, cao nhất là ở trẻ sơ sinh
[70].
1.2.2.
Dịch tễ bệnh phế cầu khuẩn ở Việt Nam
Một nghiên cứu ở Nha Trang, Khánh Hòa ước tính rằng tỷ lệ mắc bệnh phế
cầu khuẩn xâm lấn ở trẻ em dưới 5 tuổi là 48,7 trường hợp trên 100.000 trẻ em.
Trong đó tỷ lệ mắc bệnh IPD là cao nhất ở trẻ sơ sinh (tỷ lệ mắc IPD, 193,4 trường
hợp trên 100.000 trẻ sơ sinh) và ở trẻ em 1-2 tuổi (tỷ lệ mắc IPD là 49,3 trường hợp
khỏe hàng năm trên đầu người (khoảng 2 triệu đồng). Và 95% hộ gia đình báo cáo
rằng những bệnh này có ảnh hưởng tới tài chính của gia đình [34].
Như vậy rõ ràng các bệnh gây ra do phế cầu khuẩn đã ảnh hưởng tới kinh tế
của gia đình cũng như xã hội.
7
1.4. Vaccine phòng phế cầu
1.4.1. Các loại vaccine phòng phế cầu
Vaccine phòng phế cầu đầu tiên chống lại 14 typ huyết thanh khác nhau đã
được cấp phép vào năm 1977 nhưng đã bị rút khỏi thị trường do không đạt hiệu quả
tốt, và sau đó là vaccine chống lại 23 typ (PPV23) được cấp phép năm 1983. Tuy
nhiên, vaccine PPV23 chỉ có hiệu quả nhất ở người lớn, và không tạo ra khả năng
miễn dịch ở trẻ em dưới 2 tuổi. Loại vaccine phòng phế cầu khuẩn dành riêng cho
trẻ em đã được đưa ra thị trường được gọi là vaccine phòng phế cầu liên hợp. Trong
đó PCV7 là vaccine phòng phế cầu liên hợp được cấp phép đầu tiên vào năm 2000
[25]. Tuy nhiên hiện nay PCV7 đang dần bị rút ra khỏi thị trường [71]. Vaccine
phòng phế cầu liên hợp (Conjugate Pneumococcal Vaccines - PCV) dùng cho đối
tượng trẻ em có ba loại:
- PCV7 (Prevenar 7), chứa 7 typ huyết thanh của phế cầu 4, 14, 6B, 19F,
18C, 23F và 9V.
- PCV10 (Synflorix) chứa 10 typ huyết thanh của phế cầu bao gồm 7 typ như
trong PCV7 và thêm 3 typ 1, 5, 7F và liên hợp với protein D của vi khuẩn
Heamophilus influenzae.
- PCV13 (Prevenar 13) chứa 13 typ huyết thanh của phế cầu bao gồm 10 typ
như trong PCV10 và thêm 3 typ 3, 6A, 19A. [25], [41]
Ở Việt Nam: typ huyết thanh phổ biến nhất ở trẻ < 5 tuổi là 14, 19F và 23F.
Các vaccine PCV đều bao phủ hết các typ huyết thanh phổ biến ở trẻ em Việt Nam
ra [78], [79], [59]. Nhìn chung PCV có tính dung nạp và an toàn cao [44].
Lịch tiêm chủng vaccine phòng phế cầu
1.4.4.
Hiện nay vaccine phòng phế cầu có 2 lịch tiêm chủng được sử dụng cho trẻ sơ
sinh từ 6 tuần - 6 tháng tuổi [32], [78], [79].
- Lịch tiêm 2+1 liều: gồm 2 liều cơ bản và thêm 1 liều thứ ba tăng cường
(booster).
Liều đầu tiên tiêm vào lúc 2 tháng tuổi, liều thứ hai tiêm sau 2 tháng. Liều
thứ ba tiêm sau liều thứ hai sau ít nhất 6 tháng.
- Lịch tiêm 3+1 liều: gồm 3 liều cơ bản và thêm 1 liều thứ tư tăng cường.
Liều đầu tiên tiêm vào lúc 2 tháng tuổi, có thể tiêm sớm hơn vào lúc 6 tuần
tuổi, các liều tiếp theo cách nhau 1 tháng. Liều thứ tư cách liều thứ 3 ít nhất 6 tháng,
và tốt nhất là tiêm trong khoảng từ 12 - 15 tháng tuổi.
WHO khuyến cáo lịch tiêm chủng cho vaccine phòng phế cầu cho trẻ sơ sinh
là lịch tiêm 3+1 liều [66].
9
Ở Việt Nam hiện nay, vaccine phòng phế cầu khuẩn PCV10 được khuyến cáo
cho trẻ sơ sinh từ 6 tuần - 6 tháng tuổi là lịch tiêm 3+1 liều [73].
1.5. Phƣơng pháp mô hình hóa trong đánh giá kinh tế y tế
Đánh giá kinh tế y tế
1.5.1.
Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, nguồn lực nói chung và nguồn lực
dành cho y tế nói riêng là luôn luôn khan hiếm. Vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch
huyết áp giảm đi, lượng đường máu giảm đi ...
- Phân tích chi phí - thỏa dụng: đơn vị đầu ra sức khỏe được sử dụng là DALY
(số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật) hoặc đơn vị QALY (số năm sống điều chỉnh
theo chất lượng cuộc sống). Giá trị thỏa dụng được tính theo thang điểm 0 - 1. Đối
với trạng thái sức khỏe hoàn hảo, 1 năm sống được quy đổi thành 1 QALY; ngược
lại, đối với các trạng thái sức khỏe bị giảm sút do bệnh tật, 1 năm sống với trạng
thái sức khỏe đó quy đổi ra nhỏ hơn 1 QALY [72].
1.5.2.
Mô hình hóa trong đánh giá kinh tế y tế
Vai trò c a mô hình ra quyết ịnh
Phân tích quyết định là sự tập hợp nhiều phương pháp, công cụ để xác định,
trình bày rõ ràng, và đánh giá những lựa chọn để ra quyết định. Phân tích quyết định
hỗ trợ người ra quyết định trong nhiều lĩnh vực như marketing, luật, kỹ thuật. Đây
cũng là kỹ thuật được áp dụng rộng rãi và hiệu quả trong trong đánh giá kinh tế y tế,
trong đó phương pháp mô hình ra quyết định đang ngày càng được sử dụng nhiều.
Mô hình ra quyết định là một phương pháp định lượng có hệ thống với ít nhất
2 lựa chọn được đưa ra và mỗi lựa chọn được so sánh, đánh giá với nhau trên cả chi
phí và hiệu quả. Việc ứng dụng mô hình ra quyết định trong đánh giá kinh tế y tế
xuất phát từ những hạn chế của những phương pháp khác trong phân tích quyết
định. Ví dụ như thử nghiệm lâm sàng (RCT) cũng là một phương pháp thường dùng
trong phân tích quyết định nhưng nó lại có những hạn chế sau: (1) hiếm khi so sánh
được tất cả các liệu pháp hoặc chỉ so sánh được với giả dược, (2) có thể không cung
cấp đầy đủ tất cả những thông tin cần thiết như các loại chi phí trực tiếp, gián tiếp,
(3) nghiên cứu trong thời gian ngắn nên không phù hợp với các đánh giá kinh tế y tế
Mô hình Markov:
Mô hình Markov mô tả sự dịch chuyển giữa các trạng thái sức khỏe của bệnh
nhân với các xác suất khác nhau trong một khoảng thời gian xác định (hình 1.2).
Mô hình Markov được sử dụng trong trường hợp thuốc điều trị trong thời gian dài,
12
bệnh mạn tính, các trạng thái bệnh lặp đi lặp lại. Khi xây dựng mô hình Markov cần
quan tâm đến các yếu tố:
Trạng thái bệnh nhân tại thời điểm ban đầu do mô hình Markov dự đoán
một loạt các trạng thái bệnh mà bệnh nhân có thể có tại các thời điểm khác nhau.
Thời gian theo dõi. Bệnh nhân có thể di chuyển từ trạng thái này sang
một trạng thái khác với xác suất nhất định trong mỗi khoảng thời gian, gọi là 1 chu
kỳ. Khoảng thời gian theo dõi sẽ chia đều theo các chu kỳ.
Độ dài chu kỳ phụ thuộc vào tần suất của bệnh, có thể là tuần, tháng,
năm. Độ dài chu kỳ liên quan đến dữ liệu đầu vào mô hình, chẳng hạn chu kỳ 1 năm
sẽ yêu cầu dữ liệu chi phí hàng năm, xác suất dịch chuyển hàng năm, hiệu quả điều
trị trong 1 năm.
quyết định, Markov, mô hình vi mô phỏng. Thông thường, với vấn đề mang tính
thời gian ngắn và các biến cố không lặp lại thì người ta thường dùng mô hình cây
quyết định. Khi các biến cố có sự lặp lại thì mô hình Markov là thích hợp hơn. Còn
mô hình vi mô phỏng áp dụng khi yêu cầu theo dõi rất nhiều trạng thái trên mỗi cá
thể. Với những trường hợp có sự tương tác giữa các cá thể như trong bệnh truyền
nhiễm thì người ta sẽ chọn mô hình động hoặc mô hình mô phỏng biến cố rời rạc
[38], [72].
Mô hình động
CÓ
Có cần thiết biểu
diễn mô hình theo
từng cá thể?
KHÔNG
CÓ
Mô phỏng
sự kiện rời rạc
Các cá thể trong
quẩn thể có tương tác
với nhau không?
Vi mô phỏng
CÓ
KHÔNG
CÓ
hoặc phải lấy dữ liệu chính xác vì những sai lệch này sẽ được đánh giá trong phân
tích độ nhạy [46].
Bước 4. Ước tính và phiên giải kết quả
Giá trị về chi phí và QALY tương ứng với các trạng thái khác nhau trong mô
hình sẽ được sử dụng để tính chi phí, hiêu quả kỳ vọng của cả mô hình. Thông
thường các mô hình đều chiết khấu cho cả chi phí và QALY [46].
Tính tỉ số chi phí – hiệu quả gia tăng ICER được tính theo công thức sau rồi so
với ngưỡng chi trả của từng quốc gia hoặc theo khuyến cáo của WHO [72]:
ICER =
Costa Costb
Cost
Effecta Effectb Effect
Costa, Costb là chi phí của phương án a và phương án b.
Effecta, Effectb là hiệu quả của phương án a và phương án b.
Bước 5. Phân tích tính bất định (uncertainty)
Sau khi mô hình đã được xây dựng và phân tích ban đầu hoàn tất, bước tiếp
theo được tiến hành phân tích tính bất định. Tính bất định (uncertainty) bao gồm
tính bất định về cấu trúc và tính bất định về tham số. Tính bất định về cấu trúc liên
quan đến việc lựa chọn và giả định về cấu trúc mô hình và khó có thể đánh giá
được, tính bất định về tham số liên quan đến độ dao động của các tham số đầu vào
15
như xác suất dịch chuyển, chi phí, thỏa dụng, hiệu quả của thuốc và có thể đánh giá
bằng phân tích độ nhạy [72].
Có rất nhiều loại phân tích độ nhạy, đơn giản nhất là phân tích độ nhạy một
và β.
β = n-r (*)
cố có thể xảy ra bằng 1.
Ký hiệu beta (α,β)
Mean =
SE =
Trọng số chất
Thường nhận giá trị trong khoảng [0, 1].
lượng cuộc sống
Phân phối beta
( )( 1)
Như trên
Ký hiệu θ~beta (α,β)
Ký hiệu θ~gamma (α,β)
SE = αβ2
(*) Mean: giá trị trung bình; n: cỡ mẫu; r: số biến cố xảy ra trong mẫu đó,
X
là khoảng giá trị RR trong khoảng tin cậy 95%
(*)
16
Cách thực hiện phân tích độ nhạy xác suất: mỗi lần từng giá trị tham số
được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trong khoảng phân phối của mỗi tham số đó,
sau đó ước tính kết quả đầu ra (Chi phí gia tăng, số QALY gia tăng của từng phác
đồ). Lặp lại công việc này nhiều lần (1.000; 10.000 lần mô phỏng Monte Carlo).
Kết quả cho chúng ta 1.000, hay 10.000 giá trị, tập hợp này cho ta biết sự dao động
của giá trị phân bố chi phí gia tăng và hiệu quả gia tăng khi các thông số đầu vào
thay đổi. Mỗi điểm đại diện cho kết quả 1 lần mô phỏng, hình elip thể hiện khoảng
tin cậy 95% của các giá trị, đây là biểu đổ phân tán chi phí và hiệu quả gia tăng
(hình 1.4). Ngưỡng sẵn sàng chi trả (WTP) được biểu diễn bằng đường thẳng. Nếu
phần lớn các điểm nằm dưới ngưỡng chi trả thì phác đồ sẽ đạt chi phí hiệu quả. Đồ
thị hình 1.5 thể hiện sự tương quan giữa ngưỡng và tỉ lệ phần trăm đạt chi phí - hiệu
quả của từng phác đồ gọi là “Đường cong đạt chi phí-hiệu quả” (cost-effectiveness
acceptability curve, CEAC). Dựa vào đồ thị sẽ chọn được phác đồ đạt chi phí - hiệu
quả nhất đối với mỗi ngưỡng chi trả [38],[46], [72].