BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI
CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Hồng Ngân – người đã dành thời gian cùng tâm huyết hướng dẫn
tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này trong suốt thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn Trung tâm thông tin – thư viện trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, Phòng tư liệu khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận
với nguồn tư liệu phục vụ cho luận văn thạc sĩ của tôi.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ơn các thầy, các cô trong tổ
Ngôn ngữ và các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu luận văn.
Xin cám ơn gia đình, bạn bè và các học viên Cao học Ngôn ngữ học
K23 đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực
: động từ ngữ vi
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Tổng quát về hành vi xin lỗi với biểu thức xin lỗi..........................37
trong tiếng Việt................................................................................................37
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát tổng quát các kiểu xin lỗi theo tiêu chí Giới.......39
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ tổng quan tỉ lệ các kiểu xin lỗi theo giới.......................39
Biểu đồ 2.2. Mục đích của hành vi xin lỗi trong tiếng Việt theo giới.............43
Bảng 2.3. Mức độ sử dụng lời xin lỗi giữa hai giới........................................44
Biểu đồ 2.3. Mức độ sử dụng lời xin lỗi giữa hai giới....................................45
Tiếp tục đi sâu vào khảo sát ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy, với mỗi mục đích
xin lỗi, mức độ sử dụng lời xin lỗi giữa các giới lại khác nhau. Có thể hiểu rõ
hơn thông qua bảng sau:..................................................................................45
Mục đích..........................................................................................................45
Mức độ............................................................................................................45
Giới..................................................................................................................45
Nam.................................................................................................................45
Nữ....................................................................................................................45
Thể hiện sự xin được tha thứ...........................................................................46
Rất hay xin lỗi.................................................................................................46
21% (29/140)...................................................................................................46
23% (32/140)...................................................................................................46
Hay xin lỗi.......................................................................................................46
56% (78/140)...................................................................................................46
61% (85/140)...................................................................................................46
Bình thường.....................................................................................................46
Hiếm khi xin lỗi...............................................................................................46
3% (4/140).......................................................................................................46
4% (6/140).......................................................................................................46
Bảng 2.4. Mức độ sử dụng lời xin lỗi giữa hai giới đối với mỗi mục đích xin
lỗi.....................................................................................................................46
Ở mục đích thứ nhất, “HVXL thể hiện sự ăn năn, hối lỗi và xin được tha thứ
của người nói đối với người nghe”, mức hay xin lỗi: nam chiếm56% (78/140)
so với nữ chiếm 61% (85/140) và rất hay xin lỗi: nam chiếm 21% (29/140) so
với nữ chiếm 23% (32/140). Tỉ lệ này cho thấy, nữ giới có tần suất sử dụng
hành vi xin lỗi để thể hiện sự ăn năn và xin được tha thứ nhiều hơn nam giới
và ngược lại ở hai mức còn lại nữ giới sử dụng nhiều hơn nam giới. Kết quả
đó cũng phản ánh vị thế của người phụ nữ Việt Nam, họ thường ở vai thấp
hơn nên khi xin lỗi họ không sợ bị mất thể diện hay lòng tự cao nhiều. Còn
nam giới do bản tính bảo thủ và luôn để cao thể diện, lòng tự cao của bản thân
nên nhiều khi họ mắc lỗi nhưng họ không muốn xin lỗi vì sợ bị mất thể diện,
bị người khác coi thường mình.......................................................................46
Biểu đồ 3.3. Mức độ sử dụng các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi theo hướng tiêu
cực giữa các giới.............................................................................................81
Biểu đồ 3.3. Mức độ sử dụng các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi theo hướng........83
trung gian giữa các giới...................................................................................83
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người. Nó không chỉ là
cầu xoa dịu thể diện của người tiếp nhận và có ý muốn sửa lại cho đúng một
sự vi phạm mà người xin lỗi biểu lộ trách nhiệm, giúp tái thiết sự cân bằng
giữa người xin lỗi và người tiếp nhận. Hay nói cách khác, xin lỗi là hành động
xin được tha thứ vì đã biết lỗi.
Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, hành vi xin lỗi được nghiên cứu theo
quan hệ tương tác giao tiếp có sự phân tầng về xã hội. Theo định hướng này,
với tư cách là một biến thể, hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi được xem
xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi, địa vị, giới, nghề nghiệp, học
vấn… của người xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi.
Như vậy, theo cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội, giới là một trong
những biến xã hội quan trọng có tác động mạnh mẽ vào hoạt động giao tiếp
của con người, trong đó có hành vi xin lỗi. Và nếu như trong ngôn ngữ học xã
hội có “phong cách ngôn ngữ của mỗi giới” thì tất sẽ có phong cách ngôn ngữ
của mỗi giới ở hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi.
Có thể nói, hành vi xin lỗi cho đến nay cũng được nghiên cứu nhiều ở
góc độ dụng học và văn hóa, nhưng chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên
cứu sâu về sự tác động của nhân tố giới đến hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời
xin lỗi trong tiếng Việt. Đây chính là lí do khiến tôi lựa chọn vấn đề “Xin lỗi
và tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ giới” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về hành vi xin lỗi từ góc độ ngôn ngữ
2
Vận dụng lý thuyết dụng học vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ
(HVNN) nói chung và hành vi xin lỗi (HVXL) nói riêng trong khoảng thời
gian gần đây cũng bắt đầu được các nhà ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu.
Các HVNN được thực hiện trong thực tiễn giao tiếp vô cùng phong phú
Ví dụ:
(2) Anh xin lỗi em!
- Xin lỗi bằng các động từ tha lỗi, thứ lỗi, tha thứ, lượng thứ.
Ví dụ:
(3) Dạ, thầy thứ lỗi cho con. Xin thầy thứ lỗi cho con!
- Xin lỗi bằng cách từ chối lịch sự.
Ví dụ:
(4) - Ấy! Ông ngồi chơi đã. Đi bây giờ nắng chết.
- Ông tha phép (cho)…! Tôi phải ra tỉnh ngay cho kịp.
- Xin lỗi bằng sự nhận lỗi.
Ví dụ:
(5) Bác, cháu thật có lỗi với bác!
Từ đó, tác giả đồng thời cũng đưa ra hai dạng lời đáp cho hành vi xin lỗi
trong phạm vi giao tiếp này: Sp2 chấp nhận lời xin lỗi và Sp1 không chấp nhận
lời xin lỗi.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, Phạm Thị Thành trong luận án của
mình (1995) đã đi sâu tìm hiểu và chia các phát ngôn xin lỗi ra thành hai loại:
- Các phát ngôn xin lỗi được thực hiện một cách tường minh: là các
phát ngôn có động từ ngữ vi “xin lỗi”. Với kiểu HVXL này, tác giả đã kế thừa
và phát triển quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Lập.
- Các phát ngôn xin lỗi được thực hiện một cách hàm ẩn: là các phát
ngôn không chứa động từ ngữ vi “xin lỗi”. Với kiểu HVXL này, tác giả bước
4
đầu đưa ra được những cấu trúc xin lỗi gián tiếp. Đây chính là điểm nổi bật
trong công trình của tác giả.
Năm 2007, trong công trình “Hành vi xin lỗi của người Việt”, Trần Thị
Kim Oanh dựa vào lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết về phép lịch sự đã
thiện thỉnh cầu sự tha thứ ở người phạm lỗi, có khi là những nụ cười tỏ ý xin
lỗi.
Như vậy, tuy không nhiều và chưa thật sâu, hành vi xin lỗi cũng đã
được tìm hiểu cả ở phương diện ngữ nghĩa lẫn cấu trúc với những mục đích
khác nhau. Tuy nhiên, hành vi xin lỗi từ góc độ giới cho đến nay chưa có đề
tài, luận văn nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết.
2.2. Các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, hành vi xin lỗi
từ góc độ giới
Có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN từ các góc độ khác
nhau như cấu trúc, tương tác hội thoại, lịch sự... Chẳng hạn, nghiên cứu HVNN
từ góc độ tương tác hội thoại có một số công trình sau: hành vi chê (Nguyến Thị
Hoàng Yến, luận văn thạc sĩ 2000, luận án tiến sĩ 2006), hành vi cam kết (Vũ Tố
Nga, 2000), hành vi thỉnh cầu (Nguyễn Thị Vân Anh, 2001), hành vi điều khiển
(Trịnh Thanh Hà, 2001), hành vi trách (Nguyễn Thu Hạnh, 2004), hành vi khen
(Trần Thị Lan Anh, 2005), hành vi mỉa mai (Nguyễn Minh Huệ, 2007), hành vi
xin lỗi (Trần Thị Kim Oanh, 2007)… Song, không có nhiều công trình đi sâu
nghiên cứu HVNN, đặc biệt là HVXL từ góc độ giới – một biến xã hội rất quan
trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội. Theo khảo sát của chúng tôi, cho
đến nay mới chỉ có một số công trình đi sâu nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ từ
góc độ giới. Đó là:
Luận án Tiến sĩ “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt
(qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen)” của Phạm Thị Hà (2013) đã nghiên
cứu hành vi khen theo hướng của ngôn ngữ học xã hội. Tác giả đã xem hành
6
vi khen như một biến xã hội và việc sử dụng hành vi khen – tiếp nhận lời
khen có sự phân biệt khá rõ giữa các giới. Cụ thể:
- Đối với khen: Tác giả chỉ ra rằng, chiếm tỉ lệ cao là lời khen dành cho
nữ, trong đó cao nhất là nam khen nữ, tiếp đó là nữ khen nữ và nữ khen nam,
dung chê là hành động, còn nữ giới có xu hướng lựa chọn nội dung chê là đạo
đức, phẩm chất.
Trong công trình“Hành vi chào và tiếp nhận lời chào của người Việt
nhìn từ góc độ giới (khảo sát trong giới học sinh – sinh viên)”, Dương Thị
Minh Hạnh đã tiếp cận hành vi chào trong sự so sánh về cách sử dụng lời
chào giữa các giới. Phạm vi của đề tài được giới hạn trong giới học sinh –
sinh viên nên đã được tác giả tiến hành khá cụ thể, từ đó đưa ra kết quả khảo
sát và những nhận xét rất chân thực về cách sử dụng, tần suất và cấu trúc lời
chào theo từng giới ở lứa tuổi này. Cụ thể, tác giả xác định học sinh – sinh
viên nam ưa sử dụng kiểu chào trực tiếp, tích cực, ngắn gọn, ít động chạm tới
thể diện, tránh vấn đề liên quan đến đời tư và bình giá chủ quan. Còn học sinh
– sinh viên nữ lại thường sử dụng kiểu chào gián tiếp nhằm đảm bảo sự tế nhị,
kín đáo, mang biểu cảm, cảm xúc.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu trên cơ sở của tư liệu tiếng
Việt hoặc theo hướng đối chiếu (tiếng Việt với các ngôn ngữ khác) đã chỉ ra tác
động của giới đối với giao tiếp ngôn ngữ của người Việt:
– Nghiên cứu vấn đề lịch sự gắn với yếu tố giới: Vũ Thị Thanh Hương
“Giới tính và lịch sự”; Vũ Tiến Dũng “Lịch sự trong tiếng Việt và giới
tính(qua một số hành động nói)”.
– Nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt của người Việt dưới tác động của nhân tố
giới có: Nguyễn Đức Thắng “Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp
tiếng Việt”– Nghiên cứu về sự tác động của yếu tố giới tới tư duy ngôn ngữ có
8
Nguyễn Trà My “Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và
tư duy của người Việt (khảo sát trên đối tượng là sinh viên)”.
– Nghiên cứu đối chiếu sự tác động của nhân tố giới tới sử dụng ngôn
ngữ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác. Ví dụ: Luận văn Thạc sĩ của
- Thứ ba, thống kê – khảo sát – điều tra: Chúng tôi tiến hành thống kê,
khảo sát ngữ liệu trong các tác phẩm của một số tác giả là Nam Cao, Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… và trong cuộc
sống hàng ngày.
4. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin
lỗi.
- Tư liệu mà chúng tôi thu thập chủ yếu theo bằng hai nguồn là giao
tiếp nói và giao tiếp viết.
+ Đối với tư liệu từ giao tiếp nói, luận văn tiến hành thu thập tư liệu
bằng cách ghi âm, quan sát ghi chép và tiến hành phỏng vấn.
+ Luận văn sử dụng tư liệu từ các phim phát sóng trên các chương trình
truyền hình của Việt Nam.
+ Đối với tư liệu từ giao tiếp viết, luận văn tiến hành thu thập tư liệu từ một
số tác phẩm văn của một số tác giả là Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… và trong cuộc sống hàng ngày.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện được luận văn này chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn
theo cách trò chuyện để thu thập thông tin về lời xin lỗi.
- Nhập thân vào vai giao tiếp: Cách điều tra này đòi hỏi chúng ta tham
gia trực tiếp vào cuộc trò chuyện (trở thành một vai giao tiếp). Khi gặp gỡ, trò
chuyện, bản thân mình cố gắng dẫn cuộc trò chuyện có liên quan đến xin lỗi
và hồi đáp xin lỗi để thu thập tư liệu. Chẳng hạn, chúng tôi sử dụng lời xin lỗi
10
kèm theo việc làm phiền tới người khác: nhờ xem hộ giờ đồng hồ, xin đi nhờ
xe… Trong các cuộc bàn bạc như vậy sẽ xuất hiện các lời xin lỗi và hồi đáp
của ngôn ngữ học xã hội cụ thể là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, thực hiện luận văn này đã đóng góp vào việc nghiên
cứu hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt thông qua giao tiếp
dưới tác động của nhân tố giới. Trên cơ sở đó thấy được những sự khác biệt
về lối ứng xử văn hóa – ngôn ngữ từ góc độ giới của người Việt.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tối có cấu trúc như sau: Ngoài phần mở đầu, phần
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương là :
Chương 1. Cơ sở lí luận.
Chương 2. Đặc điểm của hành vi xin lỗi của người Việt nhìn từ góc độ
giới.
Chương 3. Đặc điểm của của việc tiếp nhận lời xin lỗi của người Việt
nhìn từ góc độ giới.
12
13
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Lí thuyết chung về ngữ dụng học
1.1.1. Cặp thoại
Khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ không thể tách rời nó với hội thoại,
vì thông qua hội thoại, tất cả các vấn đề thuộc về giao tiếp bằng ngôn ngữ của
con người đều được bộc lộ như: hành vi ngôn ngữ, chiếu vật và chỉ xuất, vấn
đề tính lịch sự, lập luận...
Hội thoại là do những đơn vị ở những bậc khác nhau tạo nên những
đáp nói chung và chỉ rõ mức độ thỏa mãn các trách nhiệm mà tham thoại ở lời
dẫn nhập đặt ra. Khi một cặp thoại thỏa mãn được cả chức năng ở lời dẫn
nhập và chức năng ở lời hồi đáp thì tạo thành một cặp kế cận như: hỏi – trả
lời, ra lệnh – nhận lệnh, thỉnh cầu – đồng ý, cảm thán – an ủi, xin lỗi – tha
thứ...
Ví dụ:
(106) Sp1: - Con xin lỗi mẹ vì đã làm mẹ buồn!
Sp2: - Được rồi.
Hành vi ngôn ngữ của Sp1 là hành vi xin lỗi qui định quyền lực và
trách nhiệm là Sp1 phải thực hiện lời xin lỗi. Còn hành vi ngôn ngữ phản hồi
của Sp2 là chấp nhận lời xin lỗi của Sp1. Cả hai hành vi ngôn ngữ của Sp1 và
Sp2 tạo thành một cặp thoại có sự tương tác xin lỗi – chấp nhận lời xin lỗi.
- Cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực:
Khi tham thoại hồi đáp có chức năng hồi đáp tích cực, tức là thỏa mãn
được đích ở lời của hành vi thực hiện tham thoại dẫn nhập, ta có cặp thoại
tích cực.
Ví dụ:
15
- Sp1: Cái bút đẹp thế!
- Sp2: Ừ! Đẹp thật!
Hành vi ngôn ngữ của Sp1 là hành vi khen với mục đích cụ thể là khen
chiếc bút đẹp và hành vi ngôn ngữ phản hồi của Sp2 là đồng tình với lời khen
của Sp1. Cả hai hành vi của Sp1 và Sp2 tạo thành một cặp thoại tương tác
mang tính tích cực.
Khi tham thoại hồi đáp mang chức năng hồi đáp tiêu cực, đi ngược lại
với đích của tham thoại dẫn nhập.
Ví dụ:
(107) Sp1: - Em biết lỗi rồi. Anh tha lỗi cho em!
tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu
quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Chẳng hạn, nghe một người phàn nàn “Hôm nay lại bị mất nước rồi.” có
người sẽ tỏ ra lo lắng cho chủ nhà, có người tỏ ra thờ ơ, có người thương hại,
có người sung sướng, vui mừng…
Hành vi ở lời (act illocutoire) là những hành vi người nói thực hiện
ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có
nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người
nhận. Khác với các hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích –
intentionnel), quy ước (conventionnel) và có thể chế (institutionnel) (tức là
những quy tắc được mọi người trong một cộng đồng tuân theo một cách
không tự giác). Điều này cho thấy việc sử dụng một hành động ở lời nào đó
phải căn cứ vào những quy định chung của cộng đồng sao cho phù hợp với
ngữ cảnh, với người tiếp nhận để tránh bị xem là không lịch sự trong giao
tiếp. Chẳng hạn, khi một người nói “Mời bác vào xơi cơm ạ.” Thì người nói
đã thực hiện hành vi “mời” ngay khi đưa ra phát ngôn trên.
17