BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
XIN LỖI VÀ TIẾP NHẬN LỜI XIN LỖI
CỦA NGƯỜI VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN
HÀ NỘI - 2015
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người. Nó không chỉ là hoạt động trao đổi thông tin, tư
tưởng, tình cảm giữa con người với con người trong xã hội mà còn có thể sử dụng để tạo lập, duy trì và củng cố mối
quan hệ giữa họ. Có nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức phổ biến và
quan trọng nhất. Nhờ phương tiện ngôn ngữ, con người đã thực hiện rất nhiều hành động khác nhau để thể hiện những
ý định và cảm xúc của mình, trong đó, “xin lỗi” được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Nhà văn Nikolai Vasilyevich
Gogol đã từng nói “Không có ai trên đời mà lương tâm không có vài tội lỗi”. Thật vậy, mỗi người chúng ta trong
cuộc sống này để làm đúng tất cả mọi việc mọi lúc, mọi nơi và không làm tổn thương ai là điều không hề dễ dàng.
Có lúc chúng ta cố tình mắc lỗi, sau đó, cảm thấy hổ thẹn. Nhưng cũng có lúc lỗi lầm xảy ra lại do chúng ta vô
tình. Song dù là vô tình hay cố ý thì một lời xin lỗi trong các tình huống đó là hoàn toàn hợp lý. Nhà văn Stephen
Gosson đã từng nói “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn là im lặng”. Do đó, việc sử dụng lời xin lỗi trong cuộc
sống hàng ngày là vô cùng cần thiết, bởi “xin lỗi” không chỉ đơn giản là giúp chúng ta nhận ra sai lầm của mình
2.1. Các công trình nghiên cứu về hành vi xin lỗi từ góc độ ngôn ngữ
Vận dụng lý thuyết dụng học vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ (HVNN) nói chung và hành vi
xin lỗi (HVXL) nói riêng trong khoảng thời gian gần đây cũng bắt đầu được các nhà ngôn ngữ quan tâm
nghiên cứu.
Các HVNN được thực hiện trong thực tiễn giao tiếp vô cùng phong phú và đa dạng như: mời, hỏi,
khen, chê, chào, chúc, tặng, cấm, cám ơn, hứa, cam kết, thề, giới thiệu, cảm thán, khuyên bảo, yêu cầu, tuyên
bố, miêu tả, kể, khẳng định, phủ định, nhận xét, đe dọa, phân tích, đánh giá, phê phán,đề nghị… Đã có rất
nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN này. Hành vi xin lỗi là một trong những hành vi thuộc nghi
thức lời nói, được sử dụng phổ biến đến nhưng nghiên cứu về nó chưa thật đầy đủ và toàn diện. Dưới đây là
một số công trình chúng tôi đã khảo sát được:
Năm 1989, luận văn Thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Văn Lập
đã đi vào phân loại, miêu tả các HVNN thuộc nghi thức lời nói tiếng Việt theo các phạm vi giao tiếp khác
nhau như phạm vi giao tiếp xã hội hóa; phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo
đức và phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ cầu khiến. Với hành vi xin lỗi, tác giả đã chia
thành hai loại tương ứng với hai phạm vi giao tiếp là phạm vi giao tiếp xã hội hóa và phạm vi giao tiếp của
những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo đức.
Ở phạm vi giao tiếp xã hội hóa, tác giả xác định hành vi xin lỗi với động từ “xin lỗi” như một tín
hiệu thu hút sự chú ý của người không quen để thông báo, yêu cầu, hỏi về một điều gì đó với thái độ lịch sự.
Tác giả đã đưa ra công thức ở dạng này như sau:
Xin lỗi B + làm ơn cho A (hỏi)…
Ví dụ:
(1) Xin lỗi, anh làm ơn xem hộ tôi mấy giờ rồi?
Ở phạm vi giao tiếp thứ hai – phạm vi giao tiếp của những hành vi bày tỏ thái độ về nhân cách, đạo
đức, tác giả khái quát những cách biểu hiện của hành vi xin lỗi như sau:
- Xin lỗi bằng động từ ngữ vi “xin lỗi”.
Ví dụ:
(2) Anh xin lỗi em!
- Xin lỗi bằng các động từ tha lỗi, thứ lỗi, tha thứ, lượng thứ.
Ví dụ:
(3) Dạ, thầy thứ lỗi cho con. Xin thầy thứ lỗi cho con!
Năm 2009, trong luận văn Thạc sĩ “Xin lỗi, cám ơn – biểu hiện của phép lịch sự trong văn hóa ứng
xử người Việt”, Nguyễn Thị Thủy đã trình bày khái quát về phép lịch sự, về hành vi xin lỗi và hành vi cám
ơn. Đặt hai hành vi xin lỗi và hành vi cám ơn trong mối tương quan với phép lịch sự của người Việt. Tác giả
kết luận hành vi xin lỗi có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt
Nam.
Gần đây nhất, năm 2013, trong khóa luận tốt nghiệp “Sự biến đổi của lời xin lỗi và lời cảm ơn trong
giao tiếp tiếng Việt từ năm 1930 đến nay”, Nguyễn Thị Lành qua khảo sát sự xuất hiện của lời xin lỗi, cảm
ơn trong các tác phẩm văn học từ năm 1930 đến nay đã chỉ ra rằng, lời xin lỗi trong các giai đoạn 1930 –
1954, 1954 – 1975 và từ 1975 đến nay có một số biến đổi nhất định. Theo thời gian, nếu sự biến đổi trong
giai đoạn 1954 – 1975 còn mờ nhạt thì giai đoạn từ năm 1975 đến nay lại có những thay đổi đậm nét hơn.
Nếu ở giai đoạn trước hình thức xin lỗi sử dụng động từ ngữ vi xin lỗi kèm điệu bộ, cử chỉ thì từ năm 1975
đến nay ngoài việc sử dụng hành vi xin lỗi có chứa động từ ngữ vi xin lỗi, còn sử dụng những cái bắt tay, vỗ
vai thân thiện thỉnh cầu sự tha thứ ở người phạm lỗi, có khi là những nụ cười tỏ ý xin lỗi.
3
Như vậy, tuy không nhiều và chưa thật sâu, hành vi xin lỗi cũng đã được tìm hiểu cả ở phương diện
ngữ nghĩa lẫn cấu trúc với những mục đích khác nhau. Tuy nhiên, hành vi xin lỗi từ góc độ giới cho đến nay
chưa có đề tài, luận văn nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết.
2.2. Các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ, hành vi xin lỗi từ góc độ giới
Có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các HVNN từ các góc độ khác nhau như cấu trúc, tương tác hội
thoại, lịch sự... Chẳng hạn, nghiên cứu HVNN từ góc độ tương tác hội thoại có một số công trình sau: hành vi chê
(Nguyến Thị Hoàng Yến, luận văn thạc sĩ 2000, luận án tiến sĩ 2006), hành vi cam kết (Vũ Tố Nga, 2000), hành
vi thỉnh cầu (Nguyễn Thị Vân Anh, 2001), hành vi điều khiển (Trịnh Thanh Hà, 2001), hành vi trách (Nguyễn
Thu Hạnh, 2004), hành vi khen (Trần Thị Lan Anh, 2005), hành vi mỉa mai (Nguyễn Minh Huệ, 2007), hành vi
xin lỗi (Trần Thị Kim Oanh, 2007)… Song, không có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu HVNN, đặc biệt là
HVXL từ góc độ giới – một biến xã hội rất quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội. Theo khảo sát của
chúng tôi, cho đến nay mới chỉ có một số công trình đi sâu nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ từ góc độ giới. Đó là:
Luận án Tiến sĩ “Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt (qua hành vi khen và tiếp nhận
Trong công trình“Hành vi chào và tiếp nhận lời chào của người Việt nhìn từ góc độ giới (khảo sát
trong giới học sinh – sinh viên)”, Dương Thị Minh Hạnh đã tiếp cận hành vi chào trong sự so sánh về cách
sử dụng lời chào giữa các giới. Phạm vi của đề tài được giới hạn trong giới học sinh – sinh viên nên đã được
tác giả tiến hành khá cụ thể, từ đó đưa ra kết quả khảo sát và những nhận xét rất chân thực về cách sử dụng,
tần suất và cấu trúc lời chào theo từng giới ở lứa tuổi này. Cụ thể, tác giả xác định học sinh – sinh viên nam
ưa sử dụng kiểu chào trực tiếp, tích cực, ngắn gọn, ít động chạm tới thể diện, tránh vấn đề liên quan đến đời
tư và bình giá chủ quan. Còn học sinh – sinh viên nữ lại thường sử dụng kiểu chào gián tiếp nhằm đảm bảo
sự tế nhị, kín đáo, mang biểu cảm, cảm xúc.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu trên cơ sở của tư liệu tiếng Việt hoặc theo hướng đối chiếu
(tiếng Việt với các ngôn ngữ khác) đã chỉ ra tác động của giới đối với giao tiếp ngôn ngữ của người Việt:
– Nghiên cứu vấn đề lịch sự gắn với yếu tố giới: Vũ Thị Thanh Hương “Giới tính và lịch sự”; Vũ
Tiến Dũng “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính(qua một số hành động nói)”.
– Nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt của người Việt dưới tác động của nhân tố giới có: Nguyễn Đức Thắng
“Về giới và ngôi ở những từ xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt”– Nghiên cứu về sự tác động của yếu tố giới tới
tư duy ngôn ngữ có Nguyễn Trà My “Tác động của nhân tố giới tính đến sự sử dụng ngôn ngữ và tư duy của
người Việt (khảo sát trên đối tượng là sinh viên)”.
– Nghiên cứu đối chiếu sự tác động của nhân tố giới tới sử dụng ngôn ngữ giữa tiếng Việt với các
ngôn ngữ khác. Ví dụ: Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Hải Yến nghiên cứu đối sánh “Đặc trưng ngôn ngữ
- văn hóa trong hành vi chào hỏi Nga – Anh – Việt” và nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Vân về
“Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hành động chào hỏi trong tiếng Đức và tiếng Việt”.
Một số công trình nghiên cứu quan niệm về giới cũng như sự kì thị về giới nữ được thể hiện trong
ngôn ngữ và qua đó góp phần vào việc kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị, tạo ra sự bình đẳng về giới. Ví
dụ: Nguyễn Văn Khang “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính”, Nguyễn Văn Khang “Xã hội học
ngôn ngữ về giới: Kỳ thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị đối với nữ giới trong việc sử dụng ngôn
ngữ”.
Mặc dù đã có một số công trình đi sâu vào nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ theo hướng của ngôn
ngữ học xã hội xong mới chỉ xuất hiện ở hành vi khen, chê, chào, trong khi hành vi ngôn ngữ còn rất nhiều
kiểu hành vi khác nhau, trong đó có hành vi xin lỗi – được sử dụng thường xuyên cuộc sống hàng ngàylại
chưa được nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành đi sâu nghiên cứu khảo sát hành vi xin lỗi và
tiếp nhận lời xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới để làm rõ thêm mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới.
chuyện (trở thành một vai giao tiếp). Khi gặp gỡ, trò chuyện, bản thân mình cố gắng dẫn cuộc trò chuyện có
liên quan đến xin lỗi và hồi đáp xin lỗi để thu thập tư liệu. Chẳng hạn, chúng tôi sử dụng lời xin lỗi kèm theo
việc làm phiền tới người khác: nhờ xem hộ giờ đồng hồ, xin đi nhờ xe… Trong các cuộc bàn bạc như vậy sẽ
xuất hiện các lời xin lỗi và hồi đáp xin lỗi.
- Quan sát: Có thể nói, đi tới đâu, gặp gỡ bất cứ ai chúng ta cũng có thể bắt gặp những cuộc giao tiếp
bắt đầu với lời xin lỗi. Bởi vậy, ta có thể cố gắng quan sát và ghi chép khi lời xin lỗi và hồi đáp lời xin lỗi xuất
hiện.
- Điều tra bằng anket: Chúng tôi xây dựng anket theo hai cách là mở và đóng: ngoài những câu hỏi
có sẵn các phương án trả lời để cộng tác viên lựa chọn còn có những câu hỏi mở để cộng tác viên phát biểu ý
kiến, suy nghĩ của mình.
- Việc chọn mẫu điều tra: trong hai loại mẫu chủ ý và mẫu ngẫu nhiêu, chúng tôi sử dụng chủ yếu là
mẫu ngẫu nhiên. Lí do là phạm vi tư liệu rộng và nhiều, nếu chọn mẫu chú ý sẽ có thể làm hạn chế tư liệu
nên chúng tôi sử dụng mẫu ngẫu nhiên để có cho nguồn tư liệu được phong phú hơn.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành thống kê các ngữ liệu về hành vi xin lỗi và tiếp
nhận lời xin lỗi của cả nam và nữ ở phạm vi rộng, cả trong văn chương và giao tiếp hàng ngày. Sau đó, tiến
hành phân loại chúng theo các nội dung cần phân tích như: hành vi xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới,
hành vi tiếp nhận lời xin lỗi dưới sự tác động của nhân tố giới, cấu trúc của hành vi xin lỗi, cấu trúc của hành
vi tiếp nhận lời xin lỗi…
6
- Phương pháp phân tích, miêu tả kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi tiến hành
phân tích và miêu tả các ngữ liệu tìm được về hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi. Từ đó tiến hành so sánh
đối chiếu để tìm ra sự giống và khác nhau giữa nam và nữ trong việc sử dụng lời xin lỗi và tiếp nhận lời xin
lỗi.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lí luận
Về mặt lí luận, chúng tôi thực hiện luận văn này nhằm góp phần vào việc nghiên cứu để làm sáng tỏ
thêm lí thuyết hành vi ngôn ngữ và lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội cụ thể là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
thoại, nó do các tham thoại của người nói và người nghe đi với nhau tạo nên.
1.1.2. Hành vi ngôn ngữ
1.1.2.1. Định nghĩa, phân loại các hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ (speech act): vốn có nhiều cách dịch là hành động ngôn ngữ, hành động ngôn từ,
hành động nói... Với cách dịch là hành vi ngôn ngữ thì hành động này được hiểu là hành vi được thực hiện
bằng phương tiện ngôn ngữ.
Theo J. L Austin, có 3 loại hành vi đó là hành vi tạo lời (act locutoire), hành vi mượn lời (act
perlocutoire) và hành vi ở lời (act illocutoire). Trong đó:
Hành động ở lời lại được phân ra thành nhiều loại khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có sự thống
nhất giữa các nhà nghiên cứu về việc phân loại các hành động này bởi các hành động này có số lượng rất lớn.
Dưới đây chúng tôi chỉ đưa ra một số cách phân loại đáng chú ý như sau:
Trước tiên là Austin, ông đã dựa trên sự liệt kê của Wittgenstein về các hành vi ngôn ngữ trước đó
và phân loại thành 5 phạm trù, đó là:
(1) Phán xử: xử trắng án, miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại…
(2) Hành xử: ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, xin, khuyến cáo, biện hộ cho và các hành vi ngôn ngữ như:
bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố khai mạc…
(3) Cam kết: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền…
(4) Trình bày: khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác…
(5) Ứng xử: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyền rủa,
thách thức, nghi ngờ…
Như vậy, theo Austin, hành vi xin lỗi thuộc phạm trù Ứng xử.
8
Tiếp theo là cách phân loại của Searle. Ông đã chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại của Austin
và đưa ra cách phân loại của bản thân mình dựa trên tiêu chí là “12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn
ngữ”. Cụ thể ông phân ra thành 5 loại hành vi ở lời như sau:
(1) Tái hiện (representatives):: tán thành, khẳng định, xác nhận, giải thích…
(2) Điều khiển (directives, directifs):: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, cho phép, cấm, khuyên...
ngôn kết thúc thì cũng là lúc người nói thực hiện xong HVXL của mình.
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “xin lỗi” được hiểu là:
1. Xin được tha thứ vì đã biết lỗi.
2. Dùng để mở đầu lời nói một cách lịch sự khi có việc phải làm phiền tới người khác. [29, 1470]
9
Như vậy, đối với người Việt, “xin lỗi” không chỉ là một hành động để người thực hiện hành vi đó
nhận ra lỗi lầm của mình để sửa chữa và trở nên tốt đẹp hơn. “Xin lỗi” còn là biểu hiện của truyền thống ứng
xử văn hóa, là hành vi lịch sự trong các mối quan hệ xã hội.
HVXL có nhiều biểu hiện khác nhau nhưng xét về cách thức, nó được chia thành hai kiểu: xin lỗi
trực tiếp và xin lỗi gián tiếp.
- HVXL trực tiếp là hành vi có chứa ĐTNV xin lỗi và có BTNV xin lỗi. Ở dạng đầy đủ, hành vi xin
lỗi chứa cả 3 yếu tố là: chủ thể thực hiện hành vi xin lỗi Sp1, động từ ngữ vi thể hiện hành vi xin lỗi và chủ
thể tiếp nhận hành vi xin lỗi Sp2. Dạng này có cấu trúc là:
SP1+ ĐTNV (xin lỗi/cáo lỗi/tạ lỗi) + SP2.
- HVXL gián tiếp là hành vi không chứa ĐTNV xin lỗi mà mượn các HVNN khác như hỏi, cầu
khiến, xác tín,… để đưa ra lời xin lỗi ở dạng hàm ẩn, phụ thuộc vào ngữ cảnh.
1.1.2.2. Điều kiện sử dụng hành vi xin lỗi
Searle trên cơ sở phân tích một hành vi ở lời đó là hành vi “hứa” (tiếng Anh là “promise”) đã bổ
sung vào những điều kiện may mắn mà Austin đưa ra trước đó khiến cho chúng hoàn thiện hơn, ông gọi
chúng là điều kiện sử dụng, cụ thể là bốn điều kiện sau:
(1) Điều kiện nội dung mệnh đề.
(2) Điều kiện chuẩn bị.
(3) Điều kiện chân thành.
(4) Điều kiện căn bản.
Theo bốn điều kiện nói trên, chúng tôi có thể đưa ra các điều kiện sử dụng mà hành vi xin lỗi phải
đáp ứng là:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành động X do SP1 thực hiện có thể diễn ra trong quá khứ, hiện tại
sẻ, cảm thông. Đáng sợ nhất là lời nói bị rơi vào khoảng trống.
Khi nhận được một hành vi xin lỗi từ người khác thì người tiếp nhận sẽ tùy vào những trường hợp
khác nhau mà có những phản ứng tương thích với hành vi ngôn ngữ ấy. Do vậy, tương thích với HVXL trực
tiếp và gián tiếp cũng có các hành vi tiếp nhận lời xin lỗi (HVTNLXL) trực tiếp và gián tiếp.
1.2. Vấn đề giới
1.2.1. Phân biệt giới – giới tính
Trong đời sống xã hội hiện nay, có rất nhiều người nhầm lẫn giới và giới tính, thậm chí đánh đồng hai
thuật ngữ ấy là một. Tuy nhiên, chúng là hai thuật ngữ mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau và được phân biệt một
cách rõ ràng.
Tổ chức Y tế thế giới WHO phân biệt:
+ Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học và sinh lí học giúp phân biệt được đàn ông và phụ nữ. Ví dụ: hệ
xương của đàn ông phát triển hơn phụ nữ…
+ Giới chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được
gọi là chuẩn mực của nam giới và nữ giới. Giới chỉ các quan niệm, mong đợi, và các chuẩn mực được công nhận
rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông. Ví dụ: Ở Việt Nam, đàn ông thường tập trung vào vai trò sản xuất
(chẳng hạn: lao động kiếm sống, làm kinh tế…). phụ nữ thường đảm nhận vai trò tái sản xuất như việc nội trợ,
việc chăm con cái…).
Hoàng Phê trong cuốn Từ điển tiếng Việt chỉ ra rằng:
+ Giới tính là “ những đặc điểm chung phân biệt nam và nữ, giống đực với giống cái”.
+ Giới là “những lớp người trong xã hội được phân theo một đặc điểm rất chung nào đó như nghề nghiệp,
địa vị xã hội (giới báo chí, giới trí thức, giới quân sự)… đơn vị phân loại sinh học lớn nhất, trên ngành (giới thực
vật)”.
Trong tiếng Anh có hai từ tương đương với giới tính và giới là sex và gender. Sex được giải thích là “tình trạng
là đực hay là cái”. Gender được giải thích là “(i) Sự phân chia danh từ hay đại từ thành giống đực và giống cái; (ii) Sự
phân chia về giới tính”.
11
Như vậy, hiểu một cách khái quát, giới tính là thuật ngữ bao hàm những đặc điểm sinh học để phân
giao tiếp thì giới tính được bộc lộ” .Vấn đề này đã được tác giả trình bày một cách hệ thống thành một chương
và chuyên sâu tại ba cuốn sách về ngôn ngữ học xã hội.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung xem xét việc sử dụng lời xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi của
nam giới và nữ giới trong tương quan so sánh, đối chiếu để thấy rõ sự khác biệt. Nói cách khác, luận văn đi
sâu nghiên cứu ngôn ngữ của giới, tức là, từng giới sẽ có cách sử dụng, mức độ, mục đích... lời xin lỗi và tiếp
nhận lời xin lỗi như thế nào.
12
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi chủ yếu tập trung đưa ra những kiến thức khái quát về lí thuyết hành vi
ngôn ngữ, về hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi trong tiếng Việt và về vấn đề giới trong ngôn ngữ. Cụ
thể:
Về lí thuyết hành vi ngôn ngữ, chúng tôi đã đưa ra những phần kiến thức chung nhất, khái quát nhất
làm cơ sở cho việc phân tích hành vi xin lỗi và tiếp nhận xin lỗi như các loại hành vi ngôn ngữ, động từ ngữ
vi, biểu thức ngữ vi... Từ phần kiến thức chung này lại chỉ ra những phần kiến thức cụ thể có ý nghĩa quan
trọng nhất trong việc đi sâu nghiên cứu tìm hiểu hành vi xin lỗi và tiếp nhận xin lỗi, đó là hành vi ở lời, hành
động ngôn ngữ trực tiếp, hành động ngôn ngữ gián tiếp, biểu thức ngữ vi tường minh, biểu thức ngữ vi
nguyên cấp…
Về hành vi xin lỗi và tiếp nhận xin lỗi nói chung, vì đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu
nên chúng tôi chỉ tập trung chỉ ra hành vi xin lỗi và tiếp nhận xin lỗi trong giao tiếp tiếng Việt.
Về vấn đề giới trong ngôn ngữ, chúng tôi cũng đứng trên quan điểm của ngôn ngữ học xã hội như
một số nhà nghiên cứu trước đó, coi giới là biến tác động đến việc sử dụng ngôn ngữ của con người trong
mối quan hệ với các biến khác như: tuổi tác, địa vị, học vấn, nghề nghiệp… để tiến hành khảo cứu một cặp
hành vi ngôn ngữ cụ thể trong giao tiếp tiếng Việt, đó là hành vi xin lỗi và tiếp nhận lời xin lỗi.
13
Nam (430)
63% (270/430)
32% (137/430)
Nữ (430)
37% (159/430)
68% (292/430)
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát tổng quát các kiểu xin lỗi theo tiêu chí Giới
2.2. Một vài nhận xét về hành vi xin lỗi trong tiếng Việt từ góc độ giới
2.2.1. Mục đích của hành vi xin lỗi trong tiếng Việt
Đối tượng mà chúng tôi khảo sát trong luận văn là HVXL và nhân tố tác động là nhân tố giới. Người
được khảo sát phải trả lời các câu hỏi trong bảng hỏi của chúng tôi. Kết quả phần này liên quan đến mục đích
của mỗi giới khi thực hiện HVXL. Từ kết quả khảo sát thu được, chúng tôi có thể chỉ ra một số mục đích và
chức năng của HVXL trong tiếng Việt từ góc độ giới như sau:
- Mục đích thứ nhất, HVXL thể hiện sự ăn năn, hối lỗi và xin được tha thứ của người nói đối với
người nghe.
14
- Mục đích thứ hai, HVXL dùng để tạo lập, duy trì và củng cố mối quan hệ giữa người nói với người
nghe hoặc thay thế nghi thức gặp mặt.
- Mục đích thứ ba, HVXL dùng để mở đầu lời nói một cách lịch sự khi có việc phải làm phiền người
khác.
2.2.2. Mức độ xin lỗi giữa các giới
củng cố mối quan
Mở đầu lời nói
một cách lịch sự
Giới
Mức độ
Nam
Nữ
Rất hay xin lỗi
21% (29/140)
23% (32/140)
Hay xin lỗi
56% (78/140)
61% (85/140)
Bình thường
19% (27/140)
14% (20/140)
Rất hay xin lỗi
19% (27/140)
17% (24/140)
Hay xin lỗi
58% (81/140)
53% (74/140)
Bình thường
20% (28/140)
26% (36/140)
Hiếm khi xin lỗi
3% (4/140)
4% (6/140)
Bảng 2.4. Mức độ sử dụng lời xin lỗi giữa hai giới đối với mỗi mục đích xin lỗi
2.2.3. Các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi nhìn từ góc độ giới
Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, mức độ lỗi và mối quan hệ thân sơ mà mỗi
giới sử dụng các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi khác nhau. Tuy nhiên, sau khi khảo sát, chúng tôi nhận
thấy có hai kiểu cấu trúc – chiến lược phổ biến mà cả hai giới thường dùng là: kiểu cấu trúc – chiến lược xin
lỗi trực tiếp và kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi gián tiếp.
Khuyết thiếu Sp2
Sp1
(Đại từ nhân xưng
hoặc tên gọi)
Khuyết thiếu cả Sp1
và Sp2
Động từ ngữ vi
(xin lỗi/xin… tạ lỗi/xin…
cáo lỗi)
Động từ ngữ vi
(xin lỗi/xin… tạ lỗi/xin…
cáo lỗi)
Động từ ngữ vi
(xin lỗi/xin… tạ lỗi/xin…
cáo lỗi)
Sp2
(Đại từ nhân xưng hoặc
tên gọi)
(3) Dạng mở rộng
a. Sử dụng thêm các từ chỉ mức độ: chân thành, thành thật, hết sức, ngàn lần…
Mô hình:
Sp1 + thành phần mở rộng (chân thành…) + ĐTNV xin lỗi + Sp2 (!)
b. Sử dụng thêm các tiểu từ tình thái: ạ, nhé…
Mô hình:
74% (68/92)
71% (65/92)
88% (81/92)
2.2.3.2. Các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi gián tiếp
Trên thực tế, cách xin lỗi trong giao tiếp vô cùng đa dạng và phong phú. Qua việc khảo sát thực tế sử
dụng lời xin lỗi trong giao tiếp hàng ngày, bên cạnh các kiểu cấu trúc xin lỗi trực tiếp như đã trình bày ở
phần 2.2.3.1, chúng tôi đã thống kê được 5 kiểu xin lỗi gián tiếp được sử dụng phổ biến nhất trong tiếng Việt
là :
Các kiểu cấu trúc – chiến lược xin lỗi
gián tiếp
(1) Cầu khiến để xin lỗi
(2) Hỏi để xin lỗi
(3) Trình bày để xin lỗi.
(4) Xác tín để xin lỗi
(5) Xác tín – hứa, cam đoan để xin lỗi
Nam
85% (81/95)
83% (79/95)
78% (74/95)
80% (76/95)
81% (77/95)
Giới
Nữ
87% (83/95)
đích chủ yếu là xin người khác tha thứ cho mình. Bên cạnh đó, do nam nam giới có xu hướng thích quảng
giao, hướng ngoại, còn nữ giới có xu hướng sống khép kín, hướng nội nên tỉ lệ sử dụng hành vi xin lỗi với
mục đích thể hiện phép lịch sự và tạo mối quan hệ cao hơn nữ giới. Đồng thời, hai giới cũng sử dụng cả hai
kiểu cấu trúc xin lỗi là xin lỗi trực tiếp và xin lỗi gián tiếp. Trong đó, đối với hành vi xin lỗi trực tiếp, nữ giới
hay sử dụng cấu trúc xin lỗi trực tiếp ở dạng đầy đủ và mở rộng, còn nam giới hay sử dụng hành vi xin lỗi
trực tiếp ở dạng khuyết thiếu. Đối với hành vi xin lỗi gián tiếp, nữ giới hay sử dụng các kiểu xin lỗi gián tiếp
là cầu khiến để xin lỗi, trình bày để xin lỗi, xác tín để xin lỗi, còn nam giới hay sử dụng kiểu xin lỗi gián tiếp
là hỏi để xin lỗi. Sở dĩ như vậy, phần nhiều là do nam giới có bản tính thẳng thắn, chín chắn nên thường
dùng kiểu cấu trúc xin lỗi, đơn giản, ngắn gọn, cô đọng. Còn nữ giới tế nhị, khéo léo, chỉn chu nên thường
dùng kiểu cấu trúc xin lỗi đầy đủ, dài dòng.
(3) Trong truyền thống văn hóa ứng xử, người Việt vốn ít xin lỗi, nhưng ngày nay lời xin lỗi đang
dần trở nên quen thuộc với nhiều dạng thức phong phú, đa dạng. Với tùy từng hoàn cảnh, đối tượng giao tiếp
mà chủ thể giao tiếp chọn ra cho mình một kiểu xin lỗi phù hợp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất.
18
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH VI TIẾP NHẬN
LỜI XIN LỖI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
3.1. Đối tượng, phương pháp và kết quả khảo sát
3.1.1. Đối tượng
Có nhiều cách phản hồi lại lời xin lỗi nhưng đối tượng khảo sát của chúng tôi là HVTNLXL được
thực hiện bằng lời.
3.1.2. Phương pháp và kết quả khảo sát
Chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát về HVTNLXL bằng các phương pháp là phỏng vấn và anket,
với các đối tượng khảo sát như ở chương 2.
Chúng tôi cũng phát ra 1000 phiếu và thu về 720 phiếu, trong đó đã chọn lọc được số lượng phiếu
của nam là 360 và của nữ là 360.
Dưới đây là kết quả khảo sát tổng quát các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi tích cực, tiêu cực, trung gian
theo tiêu chí giới:
3.2.2. Các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi nhìn từ góc độ giới
19
Tiếp nhận lời xin lỗi chính là những phản ứng của đối tượng giao tiếp khi nhận được một lời xin lỗi của
chủ thể giao tiếp nào đó trong quá trình giao tiếp. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng giao tiếp đều có
cùng phản ứng mà còn tùy thuộc vào các nhân tố như đã nói là mức độ lỗi mà Sp1 gây ra cho Sp2, thái độ xin lỗi
của Sp1 đối với Sp2, hình thức xin lỗi của Sp1, tính cách, tâm lí của Sp2... mà Sp2 có sự hồi đáp tương thích.
Hướng tiếp nhận của Sp2 thường được thể hiện theo ba hướng sau đây:
3.2.2.1 Các kiểu tiếp nhận lời xin lỗi tích cực
(1) Kiểu tiếp nhận lời xin lỗi trực tiếp mang ý nghĩa tích cực
(2) Kiểu tiếp nhận lời xin lỗi gián tiếp mang ý nghĩa tích cực
(i) Sp2 tha thứ, nhận lỗi về mình và xin lỗi lại Sp1
(ii) Sp2 cho rằng lỗi của Sp1 là lỗi nhỏ, không đáng kể
3.2.2.2 Các kiểu tiếp nhận xin lỗi tiêu cực
(1) Kiểu tiếp nhận lời xin lỗi trực tiếp mang ý nghĩa tiêu cực
Sp2 không chấp nhận lời xin lỗi của sp1
(2) Kiểu tiếp nhận lời xin lỗi gián tiếp mang ý nghĩa tiêu cực
Sp2 lưỡng lự, băn khoăn, phân vân, có thể tha thứ, có thể không tha thứ cho Sp1 .
3.2.2.3. Kiểu tiếp nhận lời xin lỗi trung gian
Bên cạnh kiểu cấu trúc chiến lược hồi đáp tích cực, tiêu cực. Chúng tôi xem xét thêm một kiểu nữa
là hồi đáp trung gian, tức người nghe im lặng trước lời xin lỗi của Sp1. Im lặng vốn là một hành vi rất khó
nắm bắt, bởi nó phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh. Nó khác với sự trì hoãn, sự lưỡng lự, phân như ở mục (ii).
Im lặng là kiểu hành vi khó lí giải nên số lượng nam, nữ chọn sự tiếp nhận im lặng cho hành vi xin lỗi chiếm
tỉ lệ không cao. Do phép lịch sự và do yêu cầu của giao tiếp: mọi hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự phản hồi
dù là tích cực hay tiêu cực.
Với kiểu tiếp nhận này thì nữ giới hay sử dụng hơn nam giới. Theo khảo sát của chúng tôi: nam
chiếm so 46% (12/25) với nữ chiếm 54% (13/25).
Tiểu kết chương 3
21
PHẦN KẾT LUẬN
1. Trong truyền thống ứng xử văn hóa người Việt, “xin lỗi” được xem như là hành vi ngôn ngữ thể
hiện nét đẹp trong văn hóa ứng xử giúp hàn gắn các mối quan hệ cá nhân. Cùng với các hành vi khác như
chào, cám ơn, khen… thì hành vi xin lỗi cũng nhằm mục đích tôn vinh thể diện của người nghe. Đây chính là
một trong những nét văn hóa ứng xử lâu đời của người Việt trong giao tiếp: khiêm tốn, chân thành, tôn trọng
người đối thoại với mình. Không chỉ xưa mà nay nét văn hóa này vẫn ngày càng được coi trọng và phát huy,
đặc biệt là thông qua công tác giáo dục như giáo dục trong gia đình, giáo dục trong nhà trường, ngoài xã
hội… Thêm nữa, trong các dạng hồi đáp thì lời xin lỗi của người Việt từ truyền thống đến hiện đại đều rất ít
khi sử dụng các kiểu hồi đáp tiêu cực và trung gian. Có thể thấy, mặc dù ngày càng có rất nhiều kiểu cấu trúc
– chiến lược xin lỗi khác nhau, tuy nhiên mỗi người trong giao tiếp đều biết cách lựa chọn cho mình một
kiểu xin lỗi sao cho vừa phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp lại vừa đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.
2. Từ góc độ ngôn ngữ học, luận văn chủ yếu đi vào nghiên cứu, khảo sát hành vi xin lỗi. Từ đó,
chúng tôi đã chỉ ra những điều kiện sử dụng hành vi xin lỗi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi… Chúng tôi
phân biệt rõ ràng hai kiểu cấu trúc – chiến lược là xin lỗi trực tiếp và xin lỗi gián tiếp với các mô hình cấu
trúc khu biệt.
3. Từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, hành vi xin lỗi cũng như nhiều hành vi ngôn ngữ khác như
chào, cám ơn, khen… đều chịu sự tác động của một loạt nhân tố xã hội, trong đó có nhân tố giới. Hay cụ thể
hơn thì giới là một trong những biến xã hội mạnh tác động vào hành vi xin lỗi ở các nội dung như mục đích
xin lỗi, cách xin lỗi, việc giải thích hành vi xin lỗi cũng như việc tiếp nhận lời xin lỗi và được thể hiện bằng
ngôn từ trong lời xin lỗi. Tách giới ra thành một nhân tố độc lập để nghiên cứu hành vi xin lỗi nhằm nhằm
mục đích tập trung làm rõ mối quan hệ giữa giới với hành vi xin lỗi. Điều đó cũng không có nghĩa là tách giới ra
khỏi các biến xã hội, văn hoá khác như địa vị, nghề nghiệp, tuổi tác, nền văn hoá... mà chúng là một tổng thể hoà
quyện vào nhau theo kiểu nhân tố này là tiền đề của nhân tố kia, nhân tố kia hỗ trợ nhưng đồng thời ràng buộc,
hạn chế nhân tố này.
Chúng tôi nhận thấy cả nam giới và nữ giới đều mạnh dạn sử dụng lời xin lỗi khi bản thân mắc lỗi hoặc
để thể hiện phép lịch sự với đối tượng giao tiếp. Tuy nhiên, việc lựa chọn kiểu xin lỗi giữa hai giới là không giống