Lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hoá (xét về khía cạnh từ vựng - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ XẢO BÌNH

LỖI CỦA NGƢỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XUYÊN VĂN HOÁ
( XÉT VỀ KHÍA CẠNH TỪ VỰNG)

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

Mã số: 50408 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học
PGS-TS TRẦN TRÍ DÕI
HÀ NỘI NĂM 2004 Mục lục
Trang
Mở đầu 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục đích nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3. Ý nghĩa của đề tài 7

3.2.3. Một số động từ 36
3.2.3.1. Động từ chuyển động 36
3.2.3.2. Những động từ khác 37
3.2.4. Một số danh từ 39
3.2.5. Một số phó từ 40
3.2.6.Số từ 42
3.2.7.Giới từ 43
3.2.8.Cảm từ 45
3.2.9.Về ―sự‖ và ―việc‖ 45
3.2.10.Tính từ 46
3.2.11.Về thành ngữ, tục ngữ 47
3.3. Phân loại các kiểu lỗi theo từng năm học 48
Chƣơng III Những phân tích và nhận xét dữ liệu từ góc độ
giao văn hoá. 50
1. Nguyên nhân gây lỗi 50
2. Thử đề nghị một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về xuyên văn hoá
cho sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt 54
Song song với việc dạy ngôn ngữ, phải dạy văn hoá của ngôn
ngữ đích 54
Một vài nhận xét và đề nghị việc dạy ngôn ngữ và văn hoá 56
Kết luận 59
Tài liệu tham khảo 60
người nước ngoài, nên bỏ qua sự ―thiếu văn hoá‖ của người nói, nếu không sẽ có
hậu quả nghiêm trọng. Đây là điều khó nhất đối với việc dạy và học ngoại ngữ. Hai
vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm rất nhiều khi tiếng
Hán được coi là ngoại ngữ đối với người nước ngoài, hay là tiếng Anh được coi là
ngoại ngữ đối với người Trung Quốc. Tuy nhiên, đối với tiếng Việt, một thứ ngoại
ngữ đang được nhiều người học ở Trung Quốc, những lỗi về văn hoá mà người học
đang vấp phải hầu như chưa có một công trình nào quan tâm đến. Thực ra, đây là
khâu rất quan trọng trong việc dạy và học tiếng Việt, do đó nó chính là lý do quan
trọng nhất để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
2. Mục đích nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Mục đích của luận văn này là chỉ ra những lỗi dùng từ của sinh viên
Trung Quốc khi học tiếng Việt, sau đó phân tích nguyên nhân nào đã gây những lỗi
đó, rồi tìm ra cách để chữa. Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ phải thu thập
những lỗi về từ vựng mà sinh viên Trung Quốc thường hay mắc, rồi phân tích từng
loại lỗi từ góc độ xuyên văn hoá.
2.2. Đối tượng nghiên cứu ở đây là đại từ nhân xưng (gồm đại từ nhân xưng
ngôi thứ 1, đại từ nhân xưng ngôi thứ 2 và đại từ nhân xưng ngôi thứ 3); đại từ chỉ
định; động từ: động từ chuyển động và một vài động từ khác; danh từ; tính từ; số
từ; giới từ ; cảm từ; một số thành ngữ tục ngữ, khi phân tích những trường hợp này
đều có sự so sánh đối chiếu với những từ ngữ tiếng Hán tương đương.
Lỗi mà sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt gây ra có phạm vị rất rộng, hầu
như mỗi một loại từ đều thấy có. Vì thế nếu chúng tôi phân tích mọi trường hợp và
từ nhiều góc độ, thì phải mất nhiều công sức. Trong khi đó nhiệm vụ của chúng tôi
chỉ là phạm vi của một luận văn thạc sĩ nên khả năng của chúng tôi là rất hạn chế.
Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ xem xét những lỗi dùng từ có tần suất cao,
rồi phân tích những những lỗi đó từ góc độ xuyên văn hoá để thực hiện mục đích
của luận văn như đã nêu ở trên.
3. Ý nghĩa của luận văn.
Thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn này hy vọng được góp
một phần cho việc giảng dạy tiếng Việt cũng như nghiên cứu về Việt ngữ học của

Ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội nhân loại. Ngôn ngữ chỉ tồn tại trong xã hội
nhân loại.
Ngôn ngữ và xã hội cùng tồn tại bên nhau. Một mặt, ngôn ngữ tựa vào xã hội.
Chỉ có xã hội nhân loại mới có ngôn ngữ, thế giới tự nhiên không tồn tại ngôn ngữ.
Động vật bày tỏ tình cảm và nguyện vọng bằng một số tiếng gọi đơn giản, nhưng
chúng không có ngôn ngữ thật sự với cơ sở là từ vựng cơ bản và cấu trúc ngữ
pháp. Ngôn ngữ còn phát triển theo sự phát triển của xã hội, sự phát triển của ngôn
ngữ thích ứng với sự phát triển của xã hội, và mất đi theo sự mất đi của xã hội. Nếu
xã hội không tồn tại nữa thì ngôn ngữ cũng mất đi. Mặt khác, sự tồn tại và phát
triển của xã hội cũng chịu sự hạn chế của ngôn ngữ. Xã hội không thể không có
ngôn ngữ, ngôn ngữ là tiêu chí quan trong để phân biệt nhân loại và thế giới động
vật. Lịch sử phát triển của xã hội nhân loại đã chứng minh rằng: trong mọi giai
đoạn phát triển của xã hội đều có ngôn ngữ, xã hội mà không có ngôn ngữ sẽ
không tồn tại.
Ngôn ngữ là một trong những động lực chính để tổ chức thúc đẩy đời sống xã
hội. Vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và trao đổi tư tưởng tình cảm, điều phối hoạt
động chung của con người. Nếu không có ngôn ngữ thì xã hội sẽ tan rã. Đồng thời
ngôn ngữ còn là công cụ tư duy trừu tượng của con người: Ngôn ngữ củng cố lại
những kết quả tư duy và thành quả hoạt động nhận thức của con người bằng từ
hoặc câu, truyền lại kinh nghiệm cho đời sau, là một phương tiện quan trọng để
cho văn hoá được truyền bá. Người sau có thể làm việc, nhận biết văn hoá từ cơ sở
của người trước. Cho nên, ngôn ngữ cũng là công cụ thúc đẩy mạnh mẽ đối với sản
xuất xã hội và sự phát triển của xã hội.
1.1.2. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đặc biệt của nhân loại, mà là công cụ giao tiếp
quan trọng nhất của nhân loại. Ngoài ngôn ngữ ra, người ta còn sử dụng công cụ
giao tiếp khác, chẳng hạn như ký hiệu toán học, công thức hoá học, đèn xanh đèn
đỏ, các động tác bằng cơ thể con người v.v. Nhưng tác dụng giao tiếp của những
phương tiện đó không thể sánh được với ngôn ngữ. Trước hết, tất cả những cái đó
đều xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ. Nếu không có ngôn ngữ làm cơ sở, thì chúng

thế này, khi áp dụng khái niệm văn hoá để miêu tả, phân tích, giải thích một số vấn
đề sẽ mất đi tác dụng của nó. Từ đó cho thấy, định nghĩa này vẫn không chính xác
lắm khi giúp cho chúng ta làm việc.
Sau Tylor, văn hoá lại được định nghĩa nhiều lần nữa. Cho đến năm 1952,
đã có hơn 160 định nghĩa khác nhau. Phát triển đến ngày nay, văn hoá vẫn chưa có
một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên có một điều có thể khẳng định rằng, định
nghĩa của văn hoá ngày càng rõ ràng, cụ thể và các phân tích cũng càng tỉ mỉ hơn.
Dựa trên những khái niệm trên, chúng tôi xin xác định ra khái niệm ―giao
văn hoá‖ hay gọi là ―xuyên văn hoá‖ để giải thích những hiện tượng dạy và học
ngoại ngữ nói chung và người Trung Quốc dạy và học tiếng Việt nói riêng theo
cách hiểu của mình. Phần này sẽ được trình bày ở Chương II và Chương III của
luận văn này.
1.3.Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Vấn đề giữa ngôn ngữ và văn hoá đã được các nhà khoa học bàn đến từ lâu và
bàn rất nhiều, bàn rất sâu sắc. Quan hệ đó, theo chúng tôi, đó là quan hệ như cá với
nước và có thể nói có nhiều ý kiến rất thống nhất.
1.3.1.Ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá
Trước hết, ngôn ngữ dân tộc bao giờ cũng là một bộ phận hợp thành của nền
văn hoá dân tộc đó. Nó là phương tiện để phản ánh nền văn hoá dân tộc nên được
phát triển không ngừng. Một nền văn hoá phát triển sẽ chứa đựng một ngôn ngữ
phong phú. Tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Việt những thế kỷ trước có rất nhiều cái
khác so với tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại, bởi một xã hội văn minh,
có một nền văn hoá cao đòi hỏi trong ngôn ngữ phải có những tín hiệu mới, quy tắc
mới đẻ phản ánh được tất cả những giá trị văn hoá tinh thần và vật chất của dân tộc
nói thứ tiếng đó.
1.3.2.Ngôn ngữ là cái hàm chữa văn hoá
Tuy ngôn ngữ nằm trong nền văn hoá dân tộc, nhưng bản thân ngôn ngữ lại là
tiền đề của một hiện tượng văn hoá. Theo Ănghen, ―đồng thời với lao động là ngôn
ngữ‖, vì vậy ngôn ngữ là cái sớm nhất, cùng với lao động, ngôn ngữ dần dần làm
cho con người văn minh hơn. Từ những từ đơn giản nhất phát ra trong lao động sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status