MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự tiếp xúc, giao thoa giữa các ngôn ngữ cũng thường nảy sinh
nhiều vấn đề, trong đó có những tình huống mắc lỗi của người học.
Mắc lỗi là điều không thể tránh khỏi nhưng nếu không được lưu ý sửa
thì người học sẽ khó có thể đạt kết quả tốt. Đây là lí do chúng tôi chọn
đề tài Lỗi ngôn ngữ của ng
ười nước ngoài học tiếng Việt (trên tư
liệu lỗi từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mỹ) để góp một phần vào
việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tiếng Việt (TV).
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có một vài công trình nghiên cứu về lỗi của người nước ngoài
(NNG) học TV như: Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm TV của sinh
viên nói tiếng Anh (Luận án tiến sĩ ngữ
văn của Nguyễn Văn Phúc),
Khảo sát lỗi ngữ pháp TV của NNG và những vấn đề liên quan (Luận
án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn Thiện Nam). Luận án của Nguyễn
Thiện Nam nghiên cứu về lỗi ngữ pháp (NP) của người nói tiếng
Khơme, tiếng Nhật và TA (TA) khi học TV (chủ yếu là người nói
tiếng Khơme và tiếng Nhật), đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng.
Những kết luận này đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất
lượng giảng dạy TV cho NNG.
3. Mục đích của đề tài
Luận án chọn lí thuyết phân tích lỗi (PTL) của S.P. Corder làm
khung lí thuyết và cơ sở lý luận. Mục đích của đề tài là nghiên cứu
một cách toàn diện và có hệ thống PTL đối với việc thụ đắc ngôn ngữ
với tư cách là một ngoại ngữ mà ở đây đối t
ượng là TV nhằm:
- Xác định và phân loại lỗi, tiến hành mô tả, phân tích và giải thích
những kiểu loại lỗi về từ vựng, NP của người Mỹ, người Anh, học TV
ở trình độ sơ cấp và trung cấp; chỉ ra một số nguyên nhân mắc lỗi của
Luận án gồm 196 trang chính văn. Ngoài phần Mở đầu (7 trang),
Kết luận (3 trang), Thư mục tài liệu tham khảo (16 trang), luận án
gồm 4 chương: Chương 1 (39 trang), Chương 2 (60 trang), Chương 3
(61 trang), Chương 4 (26 trang).
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỖI VÀ
PHÂN TÍCH LỖI KHI HỌC NGÔN NGỮ THỨ HAI
1.1. KHÁI NIỆM LỖI
Lỗi trong luận án được định nghĩa "là một phát ngôn, một hình thức
biểu đạt hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy
rằng không thể chấp nhận được bởi vì cách sử dụng không hợp lí của
chúng hoặc là sự vắng mặt c
ủa chúng trong các diễn ngôn đời
thường" [J.M. Hendrickson, 1980].
1.2. NGUỒN GỐC VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA PTL
Luận án trình bày về thuyết hành vi, phân tích tương phản (PTTP)
và PTL để chúng ta hiểu được rõ hơn nguồn gốc và sự hình thành của
PTL, hiểu được vì sao PTL lại trở nên rất phổ biến đối với các nhà
nghiên cứu sự thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
1.2.1. Thuyết hành vi (Behaviourist learning theory)
Vào khoảng cuối những năm 50 của thế kỷ XX, theo quan điể
m của
thuyết hành vi lỗi được coi như là một cái gì đó nên tránh và mắc lỗi
được coi là điều nguy hiểm đối với quá trình học ngoại ngữ thích hợp.
1.2.2. Phân tích tương phản (Contrastive Analysis)
PTTP là hệ thống nghiên cứu hai ngôn ngữ nhằm xác định sự khác
nhau và giống nhau về cấu trúc. PTTP liên quan đến việc so sánh và
đối chiếu những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích, tìm ra
những khác biệt để
NH đối với những tài li
ệu mà họ học, (5). Những chiến lược giao tiếp
L2 (strategies of L2 communication), tức là cách tiếp cận của NH khi
giao tiếp với người bản ngữ [L.Selinker, 1972]. Năm giai đoạn này tạo
nên những phương tiện mà NH sử dụng để lĩnh hội hệ thống L2.
Chúng là những phương tiện NH sử dụng để giảm gánh nặng học tập
của họ xuống một mức độ thích hợp.
1.3.1.3. Đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ trung gian
(1). Ngôn ngữ của NH tiếng không chặ
t chẽ (permeable)
IL của NH L2 không chặt chẽ theo nghĩa là các quy tắc cấu thành
kiến thức của NH tại bất cứ một giai đoạn nào không cố định mà có
thể thay đổi.
(2). Ngôn ngữ của NH tiếng năng động (dynamic)
IL của NH L2 thường xuyên thay đổi. Quá trình này diễn ra bằng
cách đưa ra một quy tắc mới, đầu tiên là ở trong một ngữ cảnh, sau đó
là ở một ngữ cảnh khác v.v…
(3). Ngôn ngữ c
ủa NH tiếng mang tính hệ thống (systematic)
Mặc dù IL hay thay đổi nhưng cũng có thể nhận biết được bản chất
nếu dựa vào quy tắc sử dụng L2 của NH. Họ không lựa chọn bừa bãi
những quy tắc trong IL mà chọn theo những cách dự đoán của họ. NH
đặt kế hoạch thể hiện L2 của mình dựa trên một hệ thống các quy tắc
sẵn có.
1.3.2. Ý nghĩa của PTL và IL đối vớ
i việc dạy tiếng
PTL và nghiên cứu IL của NH giúp chúng ta hiểu được quá trình thụ
đắc L2, hiểu được vấn đề của NH sâu sắc hơn. Từ đó giáo viên kịp
thời giúp NH sửa chữa lỗi để họ có thể đạt được kết quả tốt khi học
L2. Mặt khác, PTL một cách khoa học và có hệ thống sẽ giúp cho việc
Là lỗi được xác định trong lĩnh vực ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng,
đoạn văn hay văn bản.
b. Lỗi ở cấu trúc bề mặt (surface structure taxonomy)
(1). Lỗi tỉnh lược (omission): Là lỗi mà NH đã lược bớt từ, cụm từ
hoặc một phần của kết cấ
u NP do chưa nắm vững được cách dùng.
(2). Lỗi thêm vào (addition): là "kết quả của việc sử dụng máy móc
các quy tắc nhất định" [Durlay, Burt và Krashen, 1982, tr.56].
(3). Lỗi lựa chọn sai (misselection): Thể hiện ở việc chọn không đúng
các hình thức biểu đạt, các kết cấu và quy tắc trong ngôn ngữ đích.
(4). Lỗi dùng sai trật tự (misordering): thể hiện ở chỗ NH dùng sai trật
tự từ.
(5). Lỗi trộn lẫn (blends): NH bị lẫn lộn hai kết cấu trong ngôn ngữ
đích cùng bi
ểu thị một nghĩa và không quyết định được kết cấu nào họ
cần sử dụng nên lỗi xuất hiện.
1.3.4.2. Phân loại lỗi theo các tiêu chí
Luận án theo cách phân loại của James [1998] dựa vào ba tiêu chí:
thể thức/phương thức (modality), phương tiện (medium), và trình độ
(level). Tiêu chí thể thức nói đến hành vi của NH là tiếp nhận hay sản
sinh. Tiêu chí phương tiện liên quan đến việc tìm hiểu xem liệu ngôn
ngữ được sản sinh hay tiếp nhận là
ở dạng nói hay viết. Việc kết hợp
xem xét cả phương thức và phương tiện sẽ cho phép xác định rõ được
kỹ năng nào bị mắc lỗi trong các kỹ năng mà NH đang sử dụng: lỗi
nói, viết, nghe hay đọc. Ngoài ra, có thể xác định được trình độ ngôn
ngữ (mức độ chất liệu (substance), đoạn văn (text), diễn ngôn
(discourse) mà NH thể hiện tại thời điểm mắc lỗi.
1.3.4.3. Phân loại lỗi theo góc độ giải thích
Luận án theo cách phân loại của James [1998]. Theo cách này có 5
Đây là lỗi ngược lại với chiến lược (CL) vượt tuyến. NH chỉ áp
dụng một phần của quy tắc NP chứ không áp dụng toàn bộ quy tắc NP
nhằm đơn giản hóa quá trình thụ đắc L2. Ngay từ đầu, NH đã phân
tích các quy tắc và chia thành nhiều giai đoạn nhỏ hơn, mỗi giai đoạn
hoàn hảo tại m
ột thời điểm nào đó.
c. Dư thừa (redundancy)
NH thường sử dụng những từ, những câu dư thừa, không cần thiết.
d. Bỏ qua những quy tắc (overlooking cooccurrence restrictions)
Trong quá trình thụ đắc L2 có những quy tắc ngữ pháp NH chưa nắm
được nên họ liền bỏ qua và sử dụng những quy tắc NP tương đương
mà mình đã biết, do đó đã mắc lỗi.
e. Chuyển di (transfer)
Với những kiến thức cơ bản của tiếng mẹ đẻ, NH đã đưa ra những
giả thuyết về ngôn ngữ đích, sử dụng các “vật thay thế”, tức là mượn
các quy tắc, kết cấu của tiếng mẹ đẻ để đưa vào ngôn ngữ đích.
f. Vượt tuyến (overgeneralization)
Jakaobovits [1970] định nghĩa vượt tuyến là sử dụng các CL sẵn có
từ trước trong các tình huống mới. Vượt tuyến nói chung liên quan
đến việc tạo ra một kết cấu không đúng thay vào chỗ của kết cấu
thông thường. Nó là kết quả của việc NH muốn giảm gánh nặng ngôn
ngữ.
1.3.5.2. Chi
ến lược giao tiếp (communication strategies)
a. Chiến lược giải thích gần đúng (approximation)
Khi NH thiếu hình thức biểu đạt mà họ cần, họ thường sử dụng một
hình thức biểu đạt đồng nghĩa tương đương trong L2.
b. Trở về bản ngữ (language switch)
Là chiến lược NH dùng cả tiếng mẹ đẻ (TA) lẫn TV để biểu thị, giải
thích ý mình muốn diễn đạt.
xác định được lỗi thì phân tích và tìm ra được những nguyên nhân gây
ra lỗi của NH và sửa chữa kịp thời sẽ giúp cho việc thụ đắc L2 có hiệu
quả cao.
CHƯƠNG 2: LỖI VỀ TỪ V
ỰNG
2.0. DẪN NHẬP
Từ ngữ là đơn vị hạt nhân làm nên cấu trúc NP. Cách sử dụng từ
ngữ nói chung, các thực từ nói riêng sẽ phản ánh năng lực ngôn ngữ
và khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của NH. Tuy nhiên,
điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nội dung chính của chương
này là tập trung khảo sát và hệ thống hóa các lỗi dùng thực từ (danh
từ, động từ và tính từ và đại từ) xuất hiện với tần số cao ở NH nhằm
phác họa một bức tranh toàn cảnh về lỗi, trên cơ sở đó tiến hành miêu
tả, phân tích để chỉ rõ bản chất của lỗi về cách sử
dụng thực từ. Trong
18.601 lỗi mà luận án đã thu thập được có đến 9.432 trường hợp lỗi
liên quan đến việc sử dụng các thực từ để tạo nên các câu, các phát
ngôn trong quá trình tạo lập văn bản.
2.1. LỖI DÙNG DANH TỪ (DT)
DT là một trong những từ loại quan trọng bậc nhất của TV hiện đại.
Đây là một từ loại bao gồm một khối lượng từ rất lớn, có nhữ
ng đặc
trưng phong phú về cấu tạo, về nội dung ý nghĩa cũng như các đặc
điểm ngữ pháp. DT là một từ loại bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau,
trong đó có những tiểu loại chỉ có trong TV như loại từ. Đây là một
lớp từ đặc biệt trong từ loại danh từ TV mà không có trong các ngôn
ngữ Ấn – Âu.
2.1.1. Lỗi dùng loại từ
Tổng số lỗi loại t
6. Lỗi dùng " không có thể " thay
vì " không thể "
195 9,99
Tổng số 1.953 100%
Dưới đây là một số câu mắc lỗi của NH:
a. Em thích hơn học tiếng Việt buổi sáng.
b. Chúng ta sẽ xong học lúc mấy giờ?
c. Nếu anh ấy làm việc ở đó thì anh ấy trở thành rất giàu.
d. Làm ơn chị phô tô bài 12 cho tôi.
e. Vợ tôi không là cao.
f. Những người đánh cá không có thể làm việc.
*Nhận xét: Trong t
ổng số 9.432 lỗi về từ vựng, lỗi dùng ĐT có
1.953 trường hợp, chiếm 20,71%. Trong đó lỗi dùng ĐT “thích
hơn” có tần số xuất hiện cao nhất với 616 lỗi, chiếm 31,54%. Các loại
lỗi dùng ĐT từ nêu trên chủ yếu là do hiện tượng giao thoa ngôn ngữ.
Người học đã sử dụng CL chuyển di và vượt tuyến để tạo ra những kết
cấu riêng biệt trong IL của mình.
2.3. LỖI DÙNG TÍNH TỪ (TT)
2.3.1. Lỗi về trật tự của tính từ
Dưới đây là bảng thống kê các lỗi dùng tính từ
:
STT Các loại lỗi SL Tỉ lệ %
1. Lỗi về trật tự của TT 531 34,44
2. Lỗi về trật tự của TT chỉ mức độ "nhanh,
chậm", "sớm, muộn" với cụm từ chỉ thời gian
480 31,13
3. Lỗi dùng từ "giống nhau, khác nhau" thay vì
"giống, khác"
235 15,24
NH gặp nhiều khó khăn khi học và sử các từ xưng gọi trong TV.
Dưới đây là bảng thống kê các lỗi dùng các từ xư
ng gọi:
STT Các loại lỗi Số lỗi Tỉ lệ
%
1. Dùng “con ấy”, “cháu ấy” thay vì “cháu” 657 23,74
2. Dùng “chúng ta” thay vì “chúng tôi” 568 20,52
3. Dùng “họ” thay vì “chúng” 482 17,41
4. Dùng “mình” thay vì “em” và “chúng
mình” thay vì “chúng em”
317 11,45
5.
Dùng “chúng tôi” thay vì “chúng em” 305 11,02
6. Dùng “các em” thay vì “chúng em” 276 9,97
7. Dùng “chị ấy”, “anh ấy” thay vì “cô ấy”,
“thầy ấy”
163 5,89
Tổng số 2.768 100%
Dưới đây là một số câu mắc lỗi của NH:
a. Hôm nay con gái tôi học nhiều vì ngày mai con ấy có kiểm tra.
b. Cuối tuần trước gia đình chúng ta đi Nha Trang.
c. Tôi đưa hai con chó đi dạo. Họ rất vui.
d. Mình chỉ nhớ tên ca sĩ Lam Trường. Bài ca đầu tiên mình không
thuộc lắm nhưng bài sau đó thật hay, thú vị.
e. Sau khi múa các cô gái Thái rủ các em đi tắm suối.
108 7,71
Tổng số 1.400 100%
Dưới đây là một số câu mắc lỗi của NH:
a. Ở đâu cô dạy tiếng Việt?
b. Lúc này tôi nhìn thấy không gì?
c. Đối với tôi mùa hè đây là thời kì tốt.
d. Thế nào cũng chúng ta gặp em ấy.
e. Em gọi món nấy tôi gọi món nào.
f. Tủ sách của cô rất to. Cô có mấy quyển sách.
*Nhận xét: Luận án thu được 1.400 lỗi dùng các loại đại từ khác,
chiếm 33,59% trong tổng số
lỗi về đại từ. Nguyên nhân NH mắc lỗi
dùng các loại đại từ khác là do hiện tượng giao thoa giữa TA và TV.
2.5. TIỂU KẾT
1. Lỗi về thực từ chủ yếu là các lỗi GT, lỗi TNĐ. NH chưa nắm
vững được kết cấu của TV nên đã sử dụng CL chính là chuyển di để
tạo ra một kết cấu mới trong IL của mình. Đây cũng chính là nguyên
nhân tạo ra lỗi.
2. Lỗi dùng đạ
i từ xuất hiện nhiều nhất. Tiếp theo là lỗi về DT, ĐT
và TT. Tổng số lỗi về từ vựng là 9.432 lỗi, trong đó lỗi về từ xưng gọi
có tần số xuất hiện cao nhất.
3. Lỗi về trật tự từ (TTT) cũng xuất hiện khá nhiều do (TTT) trong
các kết cấu của TV và TA khác nhau. Tổng số lỗi dùng(TTT) của DT,
ĐT và TT là 2.537, chiếm 26,90% trong tổng số lỗi v
ề từ vựng.
CHƯƠNG 3: LỖI VỀ NGỮ PHÁP
3.0. DẪN NHẬP
g. Tôi muốn hàng ngày xem tivi tiếng Việt.
h. Mỹ có thể áp đặt lệnh trừng phạt trên Triều Tiên.
*Nhận xét: Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ
là nguyên nhân chính tạo
ra các lỗi về GT. NH đã sử dụng CL chuyển di, CL suy luận, CL trực
dịch để tạo ra những kết cấu riêng biệt trong IL của mình.
3.1.2. Lỗi dùng liên từ (LT)
Dưới đây là bảng thống kê các lỗi dùng liên từ:
STT Các loại lỗi SL Tỉ lệ %
1. Lỗi dùng cặp LT “ngoài ra” 537 24,32
2. Lỗi dùng cặp LT "không những mà còn" 498 22,56
3. Lỗi dùng cặp LT "càng càng " 312 14,13
4. Lỗi dùng cặp LT " càng ngày càng " 306 13,86
5. Lỗi dùng cặp LT "cả lẫn "
thay vì kết từ "vừa vừa"
305 13,81
6. Lỗi dùng từ "mà" thay vì dùng từ "rằng" 250 11,32
Tổng số 2.208 100%
Dưới đây là một số câu mắc lỗi của NH:
a. Ngoài ra tiếng Việt, tôi học tiếng Trung Quốc.
b. Chị ấy không những ca sĩ mà còn kĩ sư.
c. Càng anh ấy xem ti càng anh ấy nói tiếng Việt giỏi
d. Thời tiết càng ngày xấu.
e. Phở ở đây cả ngon lẫn rẻ.
f. Anh ấy nghĩ mà mùa thu là mùa tốt nhất.
*Nhận xét: Trong 2.208 l
ỗi dùng liên từ, có 537 lỗi dùng cặp liên từ
“ngoài …… ra”, chiếm 22,65%. Loại lỗi này xuất hiện nhiều nhất vì
đây là cặp liên từ khá khó đối với người Anh, người Mỹ học TV. Một
3. Lỗi dùng PT "một ít" thay vì dùng PT "hơi" 302 14,69
4. Lỗi dùng PT chỉ mức độ "rất", "quá" và "lắm" 242 11,78
5. Lỗi dùng "không" thay vì dùng "không phải" 200 9,73
6. Lỗi dùng từ "xuể" và "nổi" 173 8,42
7. Lỗi dùng từ "hàng" trong kết cấu chỉ thời gian
"hàng tuần/ tháng/ năm + nay"
151 7,35
Tổng số 2.055 100%
Dưới đây là một số câu mắc lỗi của NH:
a. Cả chị ấy lẫn em thích học tiếng Việt.
b. Thế nào chị ấy đến muộn.
c. Bây giờ răng của con gái vẫn một ít đau.
d. Tàu này rất đẹp quá.
e. Tôi không là học viên của ESP vì thế tôi không được tặng quà.
f. Em không uống xuể vì cà phê nóng quá.
g. Chị ấy rất nhớ nhà vì đi công tác trong tuầ
n nay.
*Nhận xét: CL chuyển di là nguyên nhân chính dẫn đến lỗi về phụ từ.
Lỗi về trật tự phụ từ chiếm tỉ lệ cao nhất với 2.055 lỗi là do TA và TV
thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau nên có trật tự từ khác nhau.
3.3. TIỂU KẾT
1. Về mặt lí thuyết, NH thường mắc lỗi GT và lỗi TNĐ khi học TV.
Phần lớn các lỗi dùng hư từ là lỗi GT. NH đã sử dụng CL vượ
t tuyến,
CL chuyển di, CL trực dịch, CL tránh nói .v.v để tạo ra những từ, tổ
hợp từ mới trong IL của mình.
2. Trong tổng số 9.441 lỗi dùng hư từ thì có tới 6.293 lỗi dùng quan
hệ từ, chiếm 66,66%. Số còn lại là lỗi dùng phụ từ (3.148 trường hợp,
chiếm 33,34%).
3. Loại lỗi mà NH mắc nhiều nhất là lỗi dùng giới từ (GT). Tổng số
tạo thành câu hoàn chỉnh, sắp xếp thành câu đúng, v.v
KẾT LUẬN
1. Khi học một ngôn ngữ, tức là làm quen với một hệ thống mã mới
mà hệ thống này không trùng khớp với hệ thống ngôn ngữ mẹ đẻ. Nói
chung, đối với người học đã trưởng thành, ở họ năng lực ngôn ngữ đã
ổn định và hoàn thiện, thì việc học ngôn ngữ thứ hai trở nên khó khăn
hơn nhiều và kết quả là người học sẽ mắc nhiều lỗ
i hơn trong quá
trình thụ đắc ngôn ngữ.
Từ thực tế giảng dạy, khảo sát, mô tả và phân tích lỗi, chúng tôi thấy
khi học tiếng Việt, người nước ngoài nói chung và người Anh, người
Mỹ nói riêng thường mắc một số lỗi giao thoa và tự ngữ đích trong
quá trình sử dụng từ ngữ và các kết cấu ngữ pháp của tiếng Việt.
Trong số các lỗi đó thì những lỗi do ảnh hưởng về lo
ại hình các ngôn
ngữ được thể hiện rất rõ. Lỗi giao thoa là quan trọng nhất vì do sự
khác biệt về loại hình giữa hai ngôn ngữ.
2. Chữa lỗi là một biện pháp hữu ích để giúp người học tiến bộ hơn,
dần dần đạt tới trình độ tiếng Việt hoàn thiện hơn trong quá trình thụ
đắc tiếng Việt. Để có những giải pháp phù hợp và hiệu quả trong việc
chữa lỗi bao gi
ờ cũng phải dựa trên những cơ sở lí thuyết nhất định và
thông thường trong quá trình sửa chữa lỗi bao giờ cũng phải theo trình
tự dựa trên cơ sở lí thuyết về lỗi, nguồn gốc, các cách phân loại lỗi,
nguyên nhân tạo ra lỗi.
Luận án đã đưa ra các nguyên tắc và các cách chữa lỗi, cung cấp các
dạng bài luyện ngữ pháp để giúp cho quá trình dạy và học tiếng Việt
có hiệu quả cao hơ
5. Ở chương 3, luận án khảo sát và phân tích lỗi về ngữ pháp cụ thể
là các lỗi về dùng các hư từ và các kết cấu ngữ pháp chứa hư từ mà
người học tiếng Việ
t ở trình độ sơ và trung cấp thường mắc phải.
Trong 9.169 các loại lỗi về ngữ pháp, lỗi dùng quan hệ từ là 6.021
trường hợp (chiếm 65,67%), lỗi dùng phụ từ là 3.148 trường hợp
(chiếm 34,33%).
Lỗi người học mắc chủ yếu ở chương 3 là lỗi giao thoa và lỗi tự ngữ
đích. Nguyên nhân gây ra lỗi là do người học đã sử dụng chiến lược
vượt tuyến, chiến lượ
c chuyển di, chiến lược trực dịch, chiến lược
tránh nói, v.v để tạo ra những từ, tổ hợp từ mới trong hệ thống ngôn
ngữ trung gian (IL) của mình.
6. IL của người Anh, Mỹ học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp và trung
cấp mặc dù năng động và mang tính hệ thống nhưng nó cũng luôn
luôn thay đổi trong quá trình người học thụ đắc tiếng Việt để phù hợp
với h
ệ thống tiếng Việt chuẩn của người Việt.
7. Các kết quả khảo sát và phân tích cho thấy rằng các học viên
người Anh, Mỹ học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp và trung cấp vẫn còn
gặp khó khăn trong việc sử dụng từ vựng và kết cấu ngữ pháp của
tiếng Việt. Đặc biệt là cách sử dụng các từ xưng gọi và giới từ. Người
h
ọc đã nắm được cách sử dụng danh từ, động từ và tính từ trong tiếng
Việt, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục, trong đó
đặc biệt là cách dùng trật tự từ của tiếng Việt. Họ cũng đã biết sử dụng
các kết cấu ngữ pháp cơ bản nhưng vẫn gặp khó khăn đối với một số
k
ết cấu ngữ pháp điển hình như “ngoài ra”, “không những mà
còn”,“càng càng ”, “cả lẫn ”,“trở nên ”, “trở