1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC TRẦN THANH TÙNG
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN “THÔNG CÁO BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT”
TRÊN TƢ LIỆU BÁO THANH NIÊN, TUỔI TRẺ, NHÂN DÂN,
NGƢỜI LAO ĐỘNG NĂM 2013 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. ĐINH VĂN ĐỨC Hà Nội – 2014
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài 1
2, Mục đích và phƣơng pháp nghiên cứu 2
3, Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2
4 , Tƣ liệu nghiên cứu 2
5 , Bố cục luận văn 3
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1. Truyền thông và đặc điểm của truyền thông 4
16
18
17
21
25
23
3.3.2. 27
3.3.3. 29
29
CHƢƠNG 2:
THÔNG CÁO BÁO CHÍ NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN
NGỮ NGHĨA HỌC
31
- 34
34
- 35
38
2.3.1. S. Dik ( 1978) 38
2.3.2. M.A.K. Halliday(1985) 39
42
báo chí 41
5
42
45
2.4.3 . 48
50
50
GS
Khoa,
Học viên cao học
TRẦN THANH TÙNG 7
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PR : Quan hệ công chúng
TCBC : Thông cáo báo chí
UBND : Uỷ ban nhân dân
MTTQ : Mặt trận tổ quốc
TAND : Toà án nhân dân
1.2 Mô hình truyền thông của Claude Shannơn và Harold Laswell 4
2.4.4 Sơ đồ minh họa quá trình PR 12
2.4.1 Mô hình cấu trúc “ hình tháp thường” 42
2.4.2 Mô hình cấu trúc theo dạng “hình tháp ngược” 46
2.4.3 Mô hình cấu trúc theo dạng “ hình chữ nhật” 49
2, Mục đích và phƣơng pháp nghiên cứu
a, Mục đích
Mục đích của đề tài nghiên cứu là phân tích diễn ngôn trên
những mẫu tư liệu có trong thông cáo báo chí năm 2013. Từ đó xác lập được
những cấu trúc và những chiến lược giao tiếp trong cách thể hiện một thông
cáo báo chí.
b, Phƣơng pháp
Luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn , phương pháp so sánh: Chúng tôi
thu thập tư liệu những mẫu thông cáo báo chí tiếng Việt trên một số các tờ
báo(báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013)
3, Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tƣợng:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những đặc điểm về diễn
ngôn được thể hiện trong thông cáo báo chí tiếng Việt qua tư liệu báo Thanh
Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013
b, Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn chỉ nghiên cứu các diễn ngôn “Thông cáo báo chí
tiếng Việt” trên tư liệu báo Thanh Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao
Động năm 2013
4 , Tƣ liệu nghiên cứu
Về phần tư liệu nghiên cứu, đề tài sử dụng nguồn tư liệu từ báo Thanh
Niên, Tuổi trẻ, Nhân Dân, Người Lao Động năm 2013 để phân tích .
5 , Bố cục luận văn
11
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
Trong chương 3, chúng tôi sẽ phân tích thông cáo báo chí về hai chức
năng: Liên nhân và tác động. Từ đó tìm ra những nghệ thuật sử dụng từ ngữ
thông qua những yếu tố lịch sự trong chiến lược giao tiếp.
Sau cùng là Tài liệu tham khảo. 12
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1. Truyền thông và đặc điểm của truyền thông
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…
chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường
hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù
hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội.
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, bao gồm 6 yếu
tố tham dự chính:
công tác marketing tiếp cận với khách hàng: phương tiện điện tử( truyền
hình và radio), báo chí, thư chào hàng trực tiếp, bán hàng qua điện thoại, bán
hàng cá nhân và trang wed. Thậm chí quan hệ công chúng ( PR) cũng là một
phương tiện giao tiếp với khách hàng hiện tại và tiềm năng. Nói đến báo chí
là nói đến các loại hình của nó như :
hình, Đó là các bộ phận, các kênh thông tin cơ bản nhất, cốt lõi
nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận động của thông tin
đại chúng.
Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn
chế riêng, chẳng hạn như: Báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu
phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí
này có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc, mọi thời điểm khác nhau.
Hạn chế cơ bản của loại báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi
tới công chúng ở vùng sâu, vùng xa…
14
Phát thanh ,Truyền hình có thế mạnh là nhanh, đồng thời, rộng khắp,
hàng triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với thời điểm
diễn ra sự kiện. Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng lưu trữ
kém…đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình báo chí này phải
hết sứ tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng, thời tiết…
Báo chí qua mạng Internet là một loại hình báo chí mới ra đời so với
báo chí truyền thống nhưng được sự hỗ trợ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
và công nghệ hiện đại đã khẳng định được vai trò cũng như sức mạnh vượt
trội của mình. Ngoài ra còn nhiều phương tiện truyền thông phổ biến khác(
sách, điện ảnh, quảng cáo, băng đĩa hình và âm thanh…).
Thông tin truyền thông là loại thông tin có nét đặc thù, xuất hiện
muộn hơn khi con người biết sử dụng thông tin như một công cụ tương tác
xã hội. Thông tin này có chức năng tác động, cung cấp tri thức, nâng cao
Thông cáo báo chí (
Release/ Pres Release/ Press Statement) chính là sản phẩm của truyền thông
được hình thành ở Việt Nam trong một vài năm trở lại đây. Do sự mới mẻ
của nó, “thông cáo báo chí” chưa có tên trong các cuốn sách tiếng Việt
nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành báo chí, truyền thông.
Thông cáo báo chí là dạng văn bản của một tổ chức được gửi đến đại
diện của các cơ quan truyền thông đại chúng (
hình) với mục đích công bố một sự kiện nào đó có giá trị
thông tin. Với cách định nghĩa này, tính thời sự, tính nhất quán và chính
thống, tính chính xác cao, tính quan trọng và hấp dẫn cho là các đặc điểm
cốt lõi nhất của thể loại văn bản này.
Thông cáo báo chí là công cụ tối quan trọng được các chuyên viên PR
sử dụng để truyền tải thông tin tới công chúng với sự tham gia của bên thứ
16
ba, các phương tiện truyền thông đại chúng. Có thể hiểu thông cáo báo chí là
sự thể hiện mối quan hệ qua lại giữa PR và các phương tiện truyền thông.
Các chuyên viên PR cần các phương tiện truyền thông như là kênh giao tiếp
với công chúng mục tiêu, và họ phát đi thông cáo báo chí với tư cách là tài
liệu đề nghị được công bố bởi báo giới. Còn các phương tiện truyền thông
lại cần các thông cáo báo chí để có thông tin viết bài, lúc này thông cáo báo
chí có tư cách là nguồn tin.
Thông cáo báo chí nói chung (News Release) là một phần của bộ tài
liệu truyền thông (Media Kit) của các chuyên viên PR, đây là dạng tài liệu
“không có bản quyền”. Bởi nó được báo giới coi là nguồn tin chứ không
bố sự kiện, đều đóng vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định việc thông tin
trên TCBC có được sử dụng hay không. Nếu các thông tin đó đã lỗi thời, tòa
soạn sẽ không sử dụng hay đăng bài trên báo chí. Chính vì lí do này, hiện
nay báo viết tiếp tục chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các hình thức báo khác
như báo mạng, báo nghe, báo hình, là các phương tiện thông tin có để cung
cấp thông tin cùng với thời gian thực (real time).
2.2.2. Tính nh
TCBC được phát hành nhằm đảm bảo tính nhất quán và chính thống
của thông tin. Tính nhất quán và chính thống của thông tin là yếu tố rất quan
trọng, phản ánh quan điểm “trước sau như một” của tổ chức trước một vấn
đề, sự kiện. Đối với các tổ chức chính phủ, việc phát hành thông cáo báo chí
là một hình thức của công tác vận động và tuyên truyền, đảm bảo tính nhất
quán của thông tin từ các cơ quan chính phủ đến người dân. Đối với các tổ
chức nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động này sẽ giúp truyền thông một cách
hiệu quả về hoạt động của tổ chức, công bố các kết quả nghiên cứu cũng như
18
các thông tin về tổ chức đến một số đối tượng TCBC được chịu trách nhiệm
bởi người/nhóm người có tiếng nói đại diện cho quan điểm của tổ chức đó.
Đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước, TCBC thường được soạn thảo
và phê duyệt bởi các đơn vị có tên gọi khác nhau như Vụ Báo chí, phòng
Thông tin, phòng Tuyên truyền, phòng Truyền thông, phòng Quan hệ công
chúng. Ở Bộ Ngoại giao Việt Nam và một số bộ khác, trách nhiệm xét duyệt
TCBC thuộc về Người phát ngôn hoặc các lãnh đạo có chức vụ cao hơn.
2.2.3. Tính chính xác cao
Một thông cáo báo chí hiệu quả trước hết là thông cáo báo chí cung
cấp những thông tin xác thực cho báo chí. Xét cho cùng giá trị của thông tin
nằm ở tính chính xác và trung thực của nó. Toà soạn báo sẽ không sử dụng
những thông tin sai sự thật vì điều đó sẽ gây ra những hệ luỵ về mặt pháp lý
cũng như đạo đức nghề nghiệp.
hiểu về chính sách, sự kiện mà thông cáo đưa ra.
Thông tin mở rông: đây là những thông tin có thể bổ sung them cho
những thông tin chính được đưa ra trong đoạn dẫn. Thông tin mở rộng cũng
là những thông tin khá quan trọng có thể là những thông tin về các cá nhân
có tham gia chương trình, sự kiện hay cũng có thể là những lời trích dẫn.
Thông tin nền: thường được giới thiệu về tổ chức phát hành thông cáo
báo chí và các đơn vị liên quan.
Thông tin liên hệ: chính là yêu tố quan trọng nhất trong văn bản thông
cáo báo chí. Bởi khi làm rõ hoặc xác minh các thông tin trong thông cáo báo
chí sau khi chúng được phát hành.
20
2.4. Mối quan hệ giữa thông cáo báo chí – PR ( Quan hệ công chúng)
2.4.
Thuật ngữ PR là chữ viết tắt của từ tiếng Anh: Public Relations, viết
tắt là PR) là việc một cơ quan tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý
các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích
cực của mình. Các hoạt động quan hệ công chúng bao gồm các việc quảng
bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thất bại, công bố các thay đổi,
và nhiều hoạt động khác. Đi cùng với thuật ngữ PR là hoạt động PR nhằm:
- Tiếp xúc (Họp báo, hội nghị khách hàng)
- Lắng nghe (khách hàng nói về sản phẩm)
- Trao đổi, truyền đạt (về ảnh hưởng của sản phẩm đối với người tiêu
dùng, )
- Tạo lập hình ảnh và ấn tượng (tài trợ học bổng cho sinh viên, tổ chức cuộc
thi cúp truyền hình, )
- Các hoạt động hướng về công chúng được doanh nghiệp qui họach theo
từng thời điểm: có thể rộng hay hẹp với các đối tượng.
huyện, …)…
Chủ thể
Công
chúng
22
2.4.4. Mục đích của PR ( Quan hệ công chúng)
Mục đích chính của PR là tạo dựng danh tiếng cho tổ chức nhờ đó
giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm
công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp
sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách
hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu. Bằng
cách cung cấp thông tin và tạo nên hoạt động thông tin hai chiều, PR tạo mối
liên kết trong xã hội, và là diễn đàn thúc đẩy dân chủ hóa xã hội.
Trong sự phát triển của xã hội thông tin, PR đang dần thay thế quảng
cáo trong vai trò cung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng. Trong xã
hội hiện đại, PR phát huy tác dụng mạnh mẽ trong thương mại, trong chính
trị, là công cụ đắc lực để xây dựng thương hiệu, từ thương hiệu cá nhân cho
đến thương hiệu quốc gia. Và cũng chính PR người cung cấp thông tin, đóng
góp vào việc tạo dựng mối liên kết trong xã hội, là diễn đàn đối thoại trong
xã hội, để công chúng nói lên ý kiến của mình và tổ chức tiếp nhận phản hồi,
từ đó có sự điều chỉnh thích hợp. PR là bộ phận không thể thiếu trong hầu
hết các tổ chức hiện đại. PR sẽ làm công việc quảng bá sự hiểu biết về tổ
chức và các hoạt động của tổ chức đó, kể cả sản phẩm và dịch vụ cho nội bộ
cơ quan lẫn công chúng, tham gia vào các quá trình hoạch định chiến lược,
ra quyết định của ban lãnh đạo bằng cách thu thập, phân tích thông tin để đề
ra chiến lược, và truyền thông các mục tiêu chiến lược Không những thế, PR
nghiệp. Các tin tức mà người viết đưa ra thường không đầy đủ hoặc chỉ có
một chiều đôi khi thiếu tính xác thực ở mỗi bản tin. Hoặc các tin này viết
không được chỉnh lắm, thiếu các chi tiết cần thiết cho một bản tin hay một
bài viết về tin tức. Người viết nên xác thực lại những nguồn tin đưa ra ở mỗi
24
thông cáo báo chí để tránh những luồng tin trái chiều không đầy đủ và thiếu
tính chính xác.
Với những tin tức được thể hiện trong thông cáo báo chí, người đọc
hay người tiếp nhận thông cáo thường không có thói quen kiểm tra lại những
thông tin trong thông cáo báo chí có chính xác hay chưa, những thông cáo
báo chí được người viết đưa ra chủ yếu là những thông tin chủ quan của
người viết được hiện thực hóa dưới dạng thông cáo để truyền đạt nội dung ,
thông tin đến người đọc. Để ý thức được những thông tin có tính đa chiều và
chính xác cần tạo cho mỗi người khi tiếp nhận văn bản thông cáo báo chí
một cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn những tin tức mà trong mỗi thông cáo
báo chí thể hiện
Tin tức là nội dung phản ánh cụ thể nhất các thông tin, sự kiện mà mỗi
cơ quan, doanh nghiệp muốn gửi thông tin đến mỗi người khi tiếp nhận. Nội
dung thông tin cần phải khách quan theo cách tiếp nhận, tránh những luồng
thông tin trái chiều, không rõ ràng để từ đó hình thành nên một thông cáo
vừa hoàn chỉnh về mặt hình thức và cũng chính xác về tin tức trong một văn
bản thông cáo báo chí ngày nay.
3. Phân tích diễn ngôn
Trong những năm gần đây phân tích diễn ngôn với tư cách là
phương pháp nghiên cứu vừa là lĩnh vực nghiên cứu và được rất nhiều
những đề tài khoa học nghiên cứu và phân tích ở nhiều góc độ khác nhau.
quan hệ người với nhau [].