Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân dân năm 1975 - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU HƢỜNG
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN XÃ LUẬN
TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội - 2013 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1.3.1. Khái niệm “diễn ngôn” 13
1.3.2. Khái niệm “phân tích diễn ngôn” 16
1.3.3. Diễn ngôn thuộc phong cách chính luận trong mối quan hệ với
các thể loại diễn ngôn khác 19
1.3.4. Khái niệm “diễn ngôn xã luận” 22
1.4. Vài nét về báo Nhân Dân và đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên
báo Nhân Dân năm 1975 25
1.4.1. Vài nét về báo Nhân Dân 25
1.4.2. Vài nét về đặc điểm của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân
năm 1975 26
1.4.3. Mô hình giao tiếp của diễn ngôn xã luận (báo Nhân Dân, 1975) 27
* Tiểu kết 30
CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG THỨC NGÔN NGỮ ĐẶC THÙ ĐẢM
NHIỆM CHỨC NĂNG THÔNG TIN CỦA DIỄN NGÔN XÃ LUẬN
TRÊN BÁO NHÂN DÂN NĂM 1975 32
2.1. Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân
năm 1975 32
2.1.1. Một vài đặc điểm chung của cấu trúc văn bản báo chí 32
2.1.2. Mô tả cấu trúc tổng thể của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân
Dân 1975 34
2.2. Miêu tả đặc điểm cấu trúc từng phần 35
2.2.1. Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề 35 4
2.2.1.1. Phân loại tiêu đề theo chủ đề 35
2.2.1.2. Về cấu trúc cú pháp của tiêu đề 38
2.2.1.3. Các yếu tố từ vựng biểu thị sự đánh giá hoặc thái độ biểu
cảm của tiêu đề 41
2.2.2. Đặc điểm cấu trúc phần nội dung chính 43


Bảng 2.1: Bảng số lượng và tỉ lệ các loại chủ đề của tiêu đề 37
Bảng 2.2: Bảng số lượng và tỉ lệ các kiểu cấu trúc cú pháp của tiêu đề 39
Bảng 2.3: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách nêu vấn đề 51
Bảng 2.4: Bảng tỉ lệ các dạng kết cấu thông tin 64
Bảng 2.5: Bảng số lượng và tỉ lệ các cách kết luận 70
Bảng 3.1: Bảng tỉ lệ xuất hiện của các phó từ biểu thị ý nghĩa cầu khiến
trực tiếp 95
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) là đường hướng tiếp cận
tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa
diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống,
với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết
sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong
cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn
hóa, dân tộc). [2, tr.158]
Trong thời gian gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cố gắng nghiên cứu sự
khác biệt giữa văn bản và diễn ngôn, giữa phân tích văn bản và phân tích diễn
ngôn. Theo Diệp Quang Ban, điểm khác biệt lớn nhất của phân tích diễn ngôn
với phân tích văn bản truyền thống là ở chỗ: Nếu như phân tích văn bản chỉ
tập trung làm rõ những đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa nội tại của văn bản và
chỉ trong văn bản ấy mà thôi, thì phân tích diễn ngôn lại hướng tới tìm hiểu

hình thuộc phong cách báo chí - chính luận, góp phần vào những kết quả của
lĩnh vực phân tích diễn ngôn hiện nay.
Về phương diện thực tiễn, những kết quả của luận văn sẽ góp phần vào
công tác giảng dạy, học tập môn ngữ văn ở nhà trường đối với thể loại báo chí
chính luận, đồng thời vào công tác biên tập tại các tòa báo.
3. Phạm vi tƣ liệu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên mẫu phân
tích là 120 diễn ngôn trên tổng số 362 diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân
năm 1975, một năm mà số lượng bài xã luận đạt đến con số kỉ lục do yêu cầu
thực tế của đời sống chính trị, xã hội đất nước.
4. Phƣơng pháp xử lí đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, bên cạnh phương pháp phân tích
diễn ngôn, phương pháp cơ bản nhất được sử dụng một cách triệt để, chúng
tôi còn sử dụng một số phương pháp và thủ pháp như sau: 8
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp so sánh
- Thủ pháp thống kê
- Thủ pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Các phương thức ngôn ngữ đặc thù đảm nhiệm chức năng
thông tin của diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân (năm 1975)
Chương 3: Các yếu tố ngôn ngữ tạo hiệu quả tác động (chức năng liên
nhân) của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân (năm 1975)
Trong suốt những năm chiến tranh, đặc biệt là năm 1975, xã luận đã phát huy
một cách tối đa tác dụng của mình trong việc truyển tải thông tin thời sự,
những chủ trương đường lối của Đảng, đồng thời cổ vũ động viên, lôi cuốn
nhân dân thực hiện những phương hướng ấy để hoàn thành cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng đất nước.
Dường như mỗi một bài xã luận đã trở thành kim chỉ nam, định hướng tư 10
tưởng, suy nghĩ, hành động, tình cảm của cả dân tộc lúc bấy giờ với một mục
đích cao nhất là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Để có thể tạo ra những hiệu ứng mạnh mẽ, to lớn như vậy đòi hỏi mỗi
bài xã luận phải là một tác phẩm chính luận mẫu mực, nội dung rõ ràng, lập
luận sắc bén, ngôn từ trong sáng, giản dị nhưng vẫn đầy tính nghệ thuật…
Nói cách khác, xã luận phải tác động được tới người tiếp nhận cả về mặt lí trí
lẫn tình cảm thì mới có thể thuyết phục được họ nghe và làm theo những gì
mà Đảng đã đặt ra. Chỉ khi ấy, một bài xã luận mới làm tròn sứ mệnh của
mình, đồng nghĩa tiếng nói của Đảng đã đến được với nhân dân và tạo nên sự
đồng thuận giữa nhân dân với Đảng.
Với mục đích nhìn rõ những đặc điểm cơ bản, trong đó tập trung chủ yếu
vào hai chức năng chính là liên giao và liên nhân của diễn ngôn xã luận, chúng
tôi sẽ áp dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của phân tích diễn ngôn. Có
thể xem đây là một phương thức để đánh giá một cách khách quan, toàn diện
nhất về nhiệm vụ, chức năng, vai trò, hiệu quả tác động của thể loại này.
1.2. Lƣợc sử vấn đề
Phân tích diễn ngôn trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay vẫn
còn là một ngành khoa học rất mới mẻ và đang trong quá trình phấn đấu để
được thừa nhận là một ngành khoa học độc lập. Ra đời từ khoảng những năm
60 của thế kỷ trước, theo Diệp Quang Ban, cho đến nay Phân tích diễn ngôn
đã phát triển qua 3 giai đoạn với những tên gọi khác nhau phản ánh những

XX. Sau khi việc áp dụng các phương pháp và phương tiện nghiên cứu câu
vào nghiên cứu văn bản không thành công, nghiên cứu diễn ngôn đã chính
thức thoát ra khỏi “ngữ pháp văn bản”. Một vấn đề đặt ra lúc này là cần có
một cái tên mới cho nghiên cứu diễn ngôn trong giai đoạn tiếp theo. Có hai
cái tên được đề xuất là “xuyên ngôn ngữ học - translinguistque” theo cách
dùng của Barthes (1970) và “ngôn ngữ học văn bản tính – textuallity
linguistic” theo cách dùng của De Beaugrande (1990). Tuy nhiên, tên gọi
“phân tích diễn ngôn” vẫn được nhiều người dùng làm nhan đề cho các công 12
trình nghiên cứu của họ, không kể tên các bài viết, chỉ kể tên sách với tên gọi
trực tiếp có thể kể ra một vài ví dụ như: “Towards an Analysis of Discourse: The
English Used by Teachers and Pupils” của Sinclair, J. McH. And Coulthard,
R.M. (1975); “An Introduction to Discourse Analysis” của Coulthard, M;
“Discourse Analysis: The Sociolinguistic Analysis of Natural Language” của
Stubb, M (1983) và “Discourse Analysis” của Brown. G and Yule. G (1983).
Trong số các công trình đã công bố giai đoạn này, có thể nói công trình
nghiên cứu của của Brown and Yule là đáng chú ý nhất với phạm vi bao quát,
phương pháp nghiên cứu cụ thể. Và cũng từ đây, tên gọi “phân tích diễn
ngôn” được thừa nhận một cách rộng rãi như tên gọi chính thức cho giai đoạn
tiếp theo của giai đoạn “ngữ pháp văn bản”.
Phân tích diễn ngôn thời kỳ này có rất nhiều đường hướng tiếp cận
khác nhau như: đường hướng dụng học với hai nhánh chính là dựa trên lí
thuyết hành động nói (Austin, Sir) và dựa trên tư tưởng triết học của Grice về
phân biệt các loại ý nghĩa khác nhau; đường hướng ngôn ngữ học xã hội
tương tác; đường hướng dân tộc học giao tiếp Tất cả các đường hướng trên
đều có mục tiêu là phân tích diễn ngôn để làm rõ những mối quan hệ của nội
dung câu nói và hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ để tạo ra những cách diễn đạt
đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao, hoặc làm bộc lộ các ý sâu chứa đựng trong

ngôn” xuất bản năm 1952, ông đã đưa ra khái niệm diễn ngôn với cách hiểu
là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu [17, tr.15]. Mặc dù phân tích diễn
ngôn của Z. Harris thời đó rất khác với phân tích diễn ngôn giai đoạn hiện nay
về quan điểm và phương pháp nghiên cứu nhưng dẫu sao ông cũng là một
trong những người đầu tiên đặt những viên gạch tạo nền móng cho sự phát
triển của ngành ngôn ngữ học non trẻ này về sau.
Liên quan mật thiết với khái niệm diễn ngôn (discourse) là khái niệm
văn bản (text). Thực tế trong quá trình nghiên cứu các nhà ngôn ngữ học đã
tốn không ít thời gian, công sức để hiểu về hai khái niệm cơ bản này tuy
nhiên kết quả đưa ra vẫn có nhiều điểm không giống nhau. Có khi chúng
được hiểu là hai khái niệm có thể được dùng để thay thế cho nhau; có khi 14
chúng là hai thực thể có cấu trúc xác định thuộc hai quá trình khác nhau; hay
cũng có khi, đơn giản chỉ là phân biệt nhau ở phạm vi sử dụng diễn ngôn là
tên gọi mang tính khoa học còn văn bản là tên gọi mang tính chất đời
thường Chúng tôi có thể điểm qua một số ý kiến nổi bật về sự phân biệt
hai khái niệm trên và từ đó cũng giúp cho chúng ta có cái nhìn rõ hơn về
diễn ngôn.
Ở thời kỳ đầu, các tác giả như Barthes (1970), Ballert (1971), Halliday
và Hassan đều có chung quan niệm diễn ngôn trùng với văn bản. Chúng tôi
xin dẫn ra đây ý kiến của Halliday và Hassan làm minh chứng: “văn bản có
thể là bất kỳ một đơn vị nào, nói hay viết, dù dài hay ngắn tạo nên một chỉnh
thể thống nhất hoàn chỉnh”.
Bên cạnh những nhà nghiên cứu có quan niệm trên là những người cố
gắng để phân biệt diễn ngôn với văn bản. Ví dụ như: Brown.G và Yule.G
(1983) coi: “Văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp” hay
“văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn”. Khi xử lí, diễn ngôn như là “sản
phẩm” hay “tiến trình”, thì các tác giả khẳng định “diễn ngôn – như – một tiến

nhau của ngôn ngữ hành chức trong những điều kiện ngữ cảnh giao tiếp cụ
thể. Trên thực tế để phân biệt một cách rạch ròi hai khái niệm này là vô cùng
khó khăn. Bởi trong diễn ngôn tồn tại những đặc trưng, thuộc tính của văn
bản và ngược lại. Chính vì vậy, việc sử dụng khái niệm nào là phụ thuộc vào
góc độ, mục đích tiếp cận của nhà nghiên cứu.
Dung hòa hai quan niệm trên là tác giả Diệp Quang Ban. Trong các
công trình nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra các giai đoạn trong nhận thức
về mối quan hệ của hai khái niệm này: Một là, văn bản được dùng để chỉ
chung các sản phẩm của ngôn ngữ (product) viết và nói có mạch lạc và liên
kết; Hai là, có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ
sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn để chỉ sản phẩm của ngôn ngữ nói; Ba
là, diễn ngôn được dùng như văn bản ở ý nghĩa trong giai đoạn một. Bên cạnh
đó, tác giả đã nhận thấy sự khó khăn trong việc phân biệt rạch ròi hai khái 16
niệm này nên việc thể hiện ra cũng rất khiêm tốn. Ông đã dựa vào một định
nghĩa văn bản có sẵn và đưa ra cách hiểu về văn bản như sau: “Văn bản là
một loại đơn vị được hình thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc
lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài , như một truyện kể, một bài thơ, một
đơn thuốc, một biển chỉ đường ”, đồng thời cũng nói rõ định nghĩa này có
thể dùng chung cho cả diễn ngôn khi chưa cần có sự phân biệt. Như vậy là
theo cách hiểu này, văn bản và diễn ngôn là những chỉnh thể có cấu trúc xác
định, nội dung hoàn chỉnh tồn tại dưới cả hai dạng nói hoặc viết.
Trên đây, chúng tôi đã điểm lại những quan niệm nổi bật về diễn ngôn
nói riêng cũng như diễn ngôn trong mối quan hệ với văn bản nói chung. Một
điều dễ nhận thấy là trong mỗi quan điểm đều có những nhân tố hợp lí dù ở
góc độ này hay góc độ khác. Dù vậy, trong luận văn này, để tiện cho quá trình
nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn cho mình định nghĩa diễn ngôn của tác giả
Diệp Quang Ban. Lựa chọn này mang tính chất để làm việc chứ không nhằm

các đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn
ngữ, còn phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng tức là liên quan
đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức).
Ông chỉ rõ giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn
ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những cái
khuôn mẫu trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn
ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích
cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ
giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn
đạt qua diễn ngôn.
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là một trong những người đầu tiên và
nghiên cứu khá nhiều về dụng học. Tác giả này cũng đã thể hiện quan niệm
của mình như sau: Phân tích diễn ngôn là phân tích cả những yếu tố hình thức
của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc
kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn. Các yếu tố kèm lời, phi lời 18
cũng được xem là các yếu tố thuộc về hình thức của diễn ngôn. Về nội
dung, nhà nghiên cứu cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và
nội dung miêu tả. Hai thành tố nội dung này có thể hiện tường minh qua
các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc cũng có thể tồn tại
một cách khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương. Như vậy, theo
Đỗ Hữu Châu, phân tích diễn ngôn đầy đủ là phải phân tích cả hai mặt nội
dung và hình thức của diễn ngôn.
Bên cạnh đó, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ
học” cũng đã dành một số trang viết để nói về phân tích diễn ngôn. Theo ông,
phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là một cách tiếp cận việc nghiên cứu
diễn ngôn dựa trên những khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống.
Phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm

sản phẩm ngôn ngữ ấy. Nói một cách ngắn ngọn, phân tích diễn ngôn không
chỉ phân tích những đặc điểm liên giao tiếp mà còn để phân tích những đặc
điểm liên nhân của đối tượng nghiên cứu.
1.3.3. Diễn ngôn thuộc phong cách chính luận trong mối quan hệ với
các thể loại diễn ngôn khác
Các thể loại diễn ngôn hết sức đa dạng. Để hiểu hơn về đối tượng ngôn
ngữ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại chúng. Có nhiều cách
phân loại theo những tiêu chí khác nhau như theo phương thức biểu đạt, thể
thức cấu tạo, theo mức độ phức tạp về hình thức và nội dung. Chức năng làm
công cụ giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ. Khi thực hiện
chức năng này, thích ứng với mỗi lĩnh vực và mục đích giao tiếp cụ thể, ngôn
ngữ tồn tại theo một kiểu diễn đạt nhất định. Mỗi kiểu diễn đạt đó được gọi là
phong cách chức năng ngôn ngữ.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn. Nếu dựa vào
phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.
Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối
với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói. Một hướng phân 20
loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại.
Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt
hằng ngày và cả ngôn ngữ trong văn học. Tuy nhiên, theo tác giả Hausenblas
[32, tr.175] thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần
đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ.
Đó là ngữ pháp và phong cách học. Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại
diễn ngôn như sau:
a) Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc
* Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc nội tại:
Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc

tượng đến cụ thể:
- Phong cách học ngôn ngữ;
- Phong cách học hoạt động lời nói (tức là có quan hệ với các lĩnh vực
hoạt động của ngôn ngữ trong đời sống xã hội);
- Phong cách học lời nói (tức là có quan hệ với các loại hình văn bản và
các thể loại văn bản bên trong mỗi loại hình nếu có);
Từ đó, tác giả đưa ra các loại hình diễn ngôn tương ứng:
- Ở bậc phong cách học ngôn ngữ có 2 kiểu lớn:
+ Ngôn ngữ phi nghệ thuật;
+ Ngôn ngữ nghệ thuật;
Cả ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật đều có thể được
diễn đạt dưới dạng nói và dạng viết tức là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
- Ở bậc phong cách học hoạt động lời nói: hoạt động lời nói được xem
xét trong các khu vực ít nhiều có tính chất chuyên môn trong đời sống xã hội
và nhờ đó đưa ra 5 phong cách chức năng:
+ Chính thức - công vụ;
+ Khoa học;
+ Công luận;
+ Hội thoại văn học; 22
+ Hội thoại đời thường;
- Ở bậc phong cách học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản cụ
thể, có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:
+ Phong cách công vụ
+ Phong cách khoa học
+ Phong cách công luận
Ở Việt Nam, theo tác giả Hữu Đạt, tiếng Việt có 6 phong cách chức năng
khác nhau, đó là:

có lập luận chắc chắn, rõ ràng, chặt chẽ, logic. Tuy vậy do đối tượng của diễn
ngôn chính luận là quần chúng thuộc mọi đối tượng nên phải diễn đạt sao cho
có sức truyền cảm, dễ hiểu, giản dị, chân thật, phải diễn đạt những khái niệm
phức tạp bằng những hình thức đơn giản.
Diễn ngôn xã luận là một loại diễn ngôn chính luận đồng thời cũng là
một thể loại báo chí. Chính vì vậy, bên cạnh những đặc điểm của diễn ngôn
xã luận như đã trình bày ở trên, xã luận còn thể hiện tính chất cập nhật và gắn
bó chặt chẽ với ngữ cảnh.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do giáo sư Hoàng Phê
chủ biên, “xã luận” được hiểu như sau:
“Xã luận. Bài chính trình bày quan điểm của tờ báo về một vấn đề thời
sự quan trọng thường đăng ở trang nhất.”
Trường Chinh trong bài giảng tại lớp đào tạo người làm báo đã viết:
“Xã luận là một bài báo quan trọng nhất trong một số báo, nêu lập trường,
quan điểm của một tờ báo (tức là của chính đảng hay của đoàn thể mà tờ báo
đó là cơ quan ngôn luận) về một vấn đề quan trọng nào đó. Riêng đối với báo
hằng ngày, xã luận có khi là một bài tóm tắt những việc lớn trong 24 tiếng
đồng hồ hoặc trong một tuần và có bình luận.” [26, tr.155].
Một số giảng viên ngành báo chí thì quan niệm: xã luận là một bài bình
luận tập thể của Bộ biên tập báo, đài về một vấn đề quan trọng. Đồng thời họ
cũng cho rằng xã luận là bài báo quan trọng nhất của một tờ báo, thực hiện 24
nhiệm vụ quán triệt tư tưởng trung tâm và nêu lên nhiệm vụ cần kíp phải làm
ngay. Xã luận là ngọn cờ chỉ đạo, là pháp lệnh chính trị. [26, tr.155-156]
Có thể nói khái quát nhiệm vụ của xã luận là phản ánh đường lối chính
trị của cơ quan báo chí, trình bày chính kiến của cơ quan đó về những vấn đề
quan trọng nhất ở trong thời điểm hiện tại.
Chức năng của diễn ngôn xã luận là kịp thời phản ứng trước những vấn

chức năng và hiệu quả trong cuộc sống. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lượng,
trong khoảng 10 năm gần đây, xã luận với tư cách là một loại hình báo chí
chính luận ít xuất hiện hơn. Ngoài hai tờ báo lớn là Nhân dân và Quân đội
Nhân dân, còn hầu hết tại các tờ báo khác, sự xuất hiện của xã luận là không
đáng kể. Thậm chí theo thống kê của Vũ Thị Thúy Hồng (Khoa Báo chí,
trường ĐHKHXH&NV), năm 1998, báo Bưu điện Việt Nam chỉ có 3 bài, đến
năm 1999 chỉ có duy nhất 1 bài xã luận [15, tr.60].
1.4. Vài nét về báo Nhân Dân và đặc điểm của diễn ngôn xã luận
trên báo Nhân Dân năm 1975
1.4.1. Vài nét về báo Nhân Dân
Báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, ra số đầu
tiên ngày 11-3-1951 tại chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Báo Nhân Dân là ấn phẩm tiếp nối của báo Thanh Niên do
Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 21-6-1925, tiếp theo tiếp tục được phát
hành dưới các tên: Tranh Đấu, Dân Chúng, Cờ Giải Phóng, Sự Thật. Trong hệ
thống báo chí hiện nay, báo Nhân Dân là tờ báo có lượng phát hành lớn nhất,
đăng tải các chủ trương chính sách, các sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa lớn
trong nước và quốc tế theo quan điểm, lập trường chính thức của Đảng, Nhà
nước Việt Nam.
Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc vĩ đại, thống nhất đất
nước và trong cả công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam vì “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” từ Đại hội VI năm

Trích đoạn Đặc điểm cấu trúc phần giải quyết vấn đề (chính văn) Đặc điểm cấu trúc phần kết luận Phép nối Phép lặp từ vựng Phép phối hợp từ ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status