Phân tích diễn ngôn xã luận (trên ngữ liệu báo nhân dân giai đoạn 1964 1975) - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN XÃ LUẬN
(TRÊN NGỮ LIỆU BÁO NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 1964-1975)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội – 2018

N G U Y ỄN TH Ị H Ồ N G N G A


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------NGUYỄN THỊ HỒNG NGA

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN XÃ LUẬN
(TRÊN NGỮ LIỆU BÁO NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 1964-1975)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT THANH


1.5.1. Ngữ cảnh chung .................................................................................... 36
1.5.2. Ngữ cảnh riêng, cụ thể .......................................................................... 36
1.6. Tiểu kết ........................................................................................................ 38
Chƣơng 2. CÁC PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG TƢ TƢỞNG
TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN .................... 40
2.1. Chủ đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 ... 40

1


2.2. Từ ngữ, phƣơng thức thể hiện giá trị kinh nghiệm, tƣ tƣởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................................... 43
2.2.1. Hệ thống trường từ vựng thể hiện chủ đề, biểu thị giá trị thời đại ........ 43
2.2.2. Hiện tượng chuyển nghĩa từ mang tính thời đại, những kết hợp
từ ngữ mới ............................................................................................ 45
2.2.3. Hệ thống từ ngữ biểu cảm, mang sắc thái đánh giá, nhận định ............ 47
2.3. Một số thủ pháp ngôn ngữ thể hiện chức năng tƣ tƣởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................................... 52
2.3.1. Thủ pháp ẩn dụ ...................................................................................... 52
2.3.2. Thủ pháp so sánh ................................................................................... 53
2.3.3. Thủ pháp hoán dụ .................................................................................. 54
2.4. Các quá trình chuyển tác biểu thị chức năng tƣ tƣởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................................... 55
2.4.1. Biểu hiện qua hệ thống các quá trình vật chất ...................................... 57
2.4.2. Biểu hiện qua hệ thống các quá trình tinh thần ..................................... 58
2.4.3. Biểu hiện qua hệ thống các quá trình quan hệ ...................................... 59
2.4.4. Biểu hiện qua hệ thống các quá trình phát ngôn ................................... 59
2.5. Hiện tƣợng danh hoá trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân .............. 62
2.6. Các phƣơng thức lập luận thể hiện giá trị tƣ tƣởng
trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................................... 64

Chƣơng 4. CÁC PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN
TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN .................. 113
4.1. Cấu trúc tổ chức diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân .............................. 113
4.1.1. Tiêu đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................. 113
4.1.2. Phần Mở đầu trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ........................ 118
4.1.3. Phần Triển khai vấn đề trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ........ 120
4.1.4. Phần Kết luận trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ....................... 129
4.2. Mạch lạc trong triển khai thông điệp của diễn ngôn xã luận
báo Nhân Dân............................................................................................ 133
4.2.1. Mạch lạc trong diễn ngôn .................................................................... 133
4.2.2. Mạch lạc biểu hiện trong cách duy trì và triển khai chủ đề
của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân ................................................. 134
4.3. Mạng quan hệ lập luận trong tổ chức thông điệp của diễn ngôn
xã luận báo Nhân Dân ............................................................................. 140
4.3.1. Mạng quan hệ lập luận chuyển tiếp..................................................... 140
4.3.2. Mạng quan hệ lập luận diễn dịch/quy nạp .......................................... 142
4.3.3. Mạng quan hệ lập luận tổng - phân - hợp ........................................... 144
4.3.4. Mạng quan hệ lập luận kết hợp ........................................................... 145
4.4. Tiểu kết ...................................................................................................... 150
KẾT LUẬN..… ......................................................................................................... 152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................. 156

PHỤ LỤC…………………………………………………………………………………161

3


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài



trình đó bằng các phân tích ngôn ngữ theo lí thuyết chức năng hệ thống của M. A. K.
Halliday. Đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa văn bản và thực tiễn xã hội được chuyển
tải bởi kinh nghiệm diễn ngôn, nhờ đó con người sử dụng ngôn ngữ để tổ chức và giải
mã văn bản.
Với mục đích này, luận án nghiên cứu tổng thể đặc điểm tổ chức cấu trúc và nội
dung DNXL bằng việc phối hợp đồng thời hai cách tiếp cận của phân tích diễn ngôn là
cách tiếp cận vĩ mô (khảo sát diễn ngôn với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, khảo
sát mô hoá hình, sơ đồ hoá kết cấu diễn ngôn) và cách tiếp cận vi mô (khảo sát những
hành vi tạo ngôn, những tổ chức liên kết, phương thức lập luận nối kết các nội dung bên
trong, những đặc điểm làm nên đặc trưng phong cách riêng của diễn ngôn trong những
ngữ cảnh cụ thể), thể hiện mối quan hệ biện chứng, các chức năng kinh nghiệm, liên
nhân, văn bản của DNXL trong những điều kiện chính trị - xã hội rất đặc thù của thời
điểm lịch sử được lựa chọn khảo sát: giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1964-1975).
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với việc lựa chọn DNXL báo Nhân Dân làm đối tượng nghiên cứu, luận án đặt
ra một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ vai trò của diễn ngôn chính trị - cụ thể là cương vị của DNXL trong
không gian diễn ngôn chính luận.
- Khảo sát cách thức tổ chức thông điệp của DNXL, vai trò của nhân tố ngữ cảnh
tác động đến việc lựa chọn chủ đề, ý nghĩa của sự lựa chọn chủ đề diễn ngôn và các
ngôn ngữ biểu hiện nhằm thể hiện chức năng tư tưởng của DNXL báo Nhân Dân.
- Nhận diện mối quan hệ liên nhân, sức mạnh của ngôn ngữ trong DNXL, sự
tương tác giữa ngôn ngữ - tư tưởng được thể hiện trong ngôn ngữ xã luận báo Nhân
Dân thông qua khảo sát tình thái trong diễn ngôn, hành động ngôn từ, từ ngữ xưng
hô... sự tác động và hiệu ứng của mối quan hệ đó trong DNXL.
- Khảo sát các phương thức tổ chức cấu trúc và tổ chức thông điệp của DNXL,
bao gồm các phương thức truyền thống và những phương thức riêng, đặc trưng. Trên
cơ sở đó, luận án khảo sát cụ thể mạng quan hệ lập luận trong diễn ngôn như là một

đặc trưng ngôn ngữ từ các bình diện cấu trúc, tổ chức ngữ nghĩa, cấu trúc diễn ngôn
trong mối tương tác với ngữ cảnh, kênh giao tiếp, mục đích giao tiếp, người phát/người
nhận diễn ngôn. Trên cơ sở phân tích ngữ liệu, luận án phân tích, lí giải quan hệ giữa
ngôn ngữ của diễn ngôn với đặc trưng tâm lí, văn hoá, xã hội, nhận diện và mô tả diễn
ngôn xã luận trong một ngữ cảnh đa chiều. Cụ thể, luận án chọn đường hướng phân tích
diễn ngôn dựa trên cơ sở ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday.

6


- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: là phương pháp phân tích mối quan hệ
nghĩa của các đơn vị trong từ vựng, các nghĩa được sử dụng trong ngữ cảnh, ý nghĩa
lịch sử, văn hoá của từ vựng. Trên cơ sở đó, luận án lí giải, phân xuất các đặc điểm
thuộc ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn được khảo sát, nhằm
giải thuyết diễn ngôn ở tầm rộng và chiều sâu của văn hoá, đời sống xã hội, tâm lí
người nhận diễn ngôn.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận án thống kê tần số sử dụng các đơn vị
ngôn ngữ phục vụ cho mục đích nghiên cứu như: chủ đề diễn ngôn, hành động ngôn
từ, các từ, ngữ tình thái, chủ đề của diễn ngôn, các quá trình, phương tiện biểu thị giá
trị kinh nghiệm, liên nhân của diễn ngôn,.., để đưa ra những đánh giá, nhận xét khoa
học về đối tượng.
- Thủ pháp phân tích, miêu tả: được sử dụng liên tục và xuyên suốt trong luận
án. Từ kết quả thu được sau khi thống kê, phân loại và so sánh, luận án phân tích,
miêu tả, tổng hợp những đặc điểm, những nét điển hình của việc sử dụng ngôn ngữ
trong DNXL báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975.
5. Đóng góp của luận án
Về lí luận:
- Luận án là một ứng dụng về việc sử dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào
việc khảo sát, nghiên cứu một kiểu loại cụ thể của diễn ngôn nghị luận chính trị - xã

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu như: lịch sử, các đường hướng nghiên
cứu về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn trên thế giới và Việt Nam hiện nay; giới thiệu
một số khái niệm quan trọng liên quan đến phân tích diễn ngôn xã luận; các đặc
trưng điển hình của thể loại diễn ngôn này; cơ sở lí luận của phương pháp phân tích
diễn ngôn trong đó có mối quan hệ giữa đường hướng phân tích diễn ngôn chức năng
hệ thống với thể loại xã luận.
Chương 2: Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong diễn ngôn xã
luận báo Nhân Dân
Tập trung nghiên cứu các chiến lược lựa chọn chủ đề, đặc điểm sử dụng từ ngữ,
các quan hệ ngữ pháp thể hiện giá trị kinh nghiệm, chức năng tư tưởng trong DNXL báo
Nhân Dân. Trên cơ sở đó làm rõ mối quan hệ hai chiều giữa tư tưởng và ngôn ngữ.

8


Chương 3: Các phương thức thể hiện chức năng liên nhân trong diễn ngôn xã
luận báo Nhân Dân
Tập trung khảo sát các phương thức thể hiện chức năng liên nhân, tác động
trong DNXL nhằm diễn đạt các quan hệ xã hội và thái độ của cá nhân, đồng thời tác
động nhằm thay đổi nhận thức, thúc đẩy phát triển xã hội theo định hướng chung của
Đảng trong giai đoạn lịch sử 1964-1975, cụ thể: quan hệ tình thái, xưng hô, hành
động ngôn từ, các chiến lược lịch sự,...
Chương 4: Các phương thức thể hiện chức năng văn bản trong diễn ngôn xã
luận báo Nhân Dân
Khảo sát những phương thức thể hiện chức năng văn bản của DNXL ở bình
diện cấu trúc (khuôn hình thể loại của DNXL, được quy định bởi phong cách diễn
ngôn) và bình diện nội dung (hệ thống lập luận, liên kết, mạch lạc, những phương
thức ngôn ngữ học nhằm triển khai nội dung cho phù hợp với khuôn hình thể loại
văn bản, với ngữ cảnh cụ thể và mục đích của diễn ngôn). Trên cơ sở đó, nghiên cứu

phát ngôn và hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ để tạo ra những cách diễn đạt đúng và đạt
hiệu quả giao tiếp cao, hoặc làm bộc lộ các ý sâu chứa đựng trong văn bản khép kín.
Điều này có nghĩa là ngôn ngữ học văn bản giai đoạn này nghiên cứu cả văn bản viết
và văn bản nói. Giai đoạn này cũng bắt đầu xuất hiện đường hướng phân tích diễn
ngôn phê phán, trọng tâm là vấn đề quyền lực và tư tưởng trong diễn ngôn.

10


Trong giai đoạn này một số công trình về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn của
các tác giả nước ngoài cũng đã được dịch ra tiếng Việt như: Dụng học, một số dẫn
luận nghiên cứu ngôn ngữ (George Yule, 1997), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn
(David Nunan, 1998), Phân tích diễn ngôn (Gillian Brown - George Yule, 2002),
Dẫn luận ngữ pháp chức năng (M.A.K. Halliday, 2004), Cấu trúc thông tin và hình
thức câu: Chủ đề, Tiêu điểm và các biểu hiện tinh thần của sở chỉ diễn ngôn (Knud
Lambrecht, 2015),... Trong đó, Gillian Brown - George Yule, M.A.K. Halliday xem
“văn bản” cũng chính là một trong những đơn vị biểu hiện của diễn ngôn, đồng thời
đề cập đến vấn đề cơ sở lí luận phân tích diễn ngôn chuyển từ nghiên cứu bậc câu
sang nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, chỉ ra việc khai thác diễn ngôn từ các
phương diện khác nhau; phương pháp nghiên cứu diễn ngôn, phân tích đối tượng
diễn ngôn dựa vào ngữ cảnh tình huống, đóng góp sự hiểu biết về văn bản: phân tích
ngôn ngữ có thể chỉ ra và làm thế nào mà ngôn bản lại có nghĩa như chính nó có, từ
đó có thể làm bộc lộ các hiện tượng đa nghĩa, chuyển nghĩa, ẩn dụ.
Tuy nhiên M.A.K. Halliday đưa ra một cấp độ cao hơn trong phân tích diễn
ngôn đó là phân tích, đánh giá văn bản, trên cơ sở đó chỉ ra được hiệu quả giao tiếp
(thành công/ít thành công/thất bại) của ngôn bản. Ở cấp độ này đòi hỏi việc phân tích
diễn ngôn không chỉ lí giải chính nó mà còn phải lí giải cả ngữ cảnh mà nó xuất hiện
(ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống), hơn nữa, còn phải chỉ ra mối quan hệ hệ
thống giữa diễn ngôn và ngữ cảnh. Còn Knud Lambrecht “phác hoạ một mô hình
đơn giản về vũ trụ diễn ngôn”. “Vũ trụ diễn ngôn được chia thành hai phần: a) thế

liệu để tìm kiếm các mô hình cấu trúc “khung” cho các văn bản. Dưới cái nhìn của
các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã
hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các
yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi yếu tố trong hệ thống chỉ có ý nghĩa khi nó
được đặt trong một cấu trúc tổng thể. Diễn ngôn trong giai đoạn này cũng được xem là
một cấu trúc khép kín, nội tại, vì thế, khi phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đặc
biệt chú trọng đến phương diện cấu trúc và nỗ lực tìm kiếm những mô hình của tổ
chức ngôn từ trong văn bản cũng như diễn ngôn, với các khái niệm điển hình: liên kết,
mạch lạc, cấu trúc,... Trên cơ sở đó, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích những
biểu hiện cụ thể trong cấu tạo của văn bản. Tiêu biểu là: Hệ thống liên kết văn bản
tiếng Việt (Trần Ngọc Thêm), Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt (Diệp
Quang Ban), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt (Nguyễn Thị Việt Thanh), Phép tỉnh
lược và ngữ trực thuộc trong tiếng Việt (Phạm Văn Tình),...

12


- Giai đoạn tiếp cận “động”: Diễn ngôn giai đoạn này không chỉ được coi như
một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập mà là
những quy tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể quan tâm đến sự diễn giải diễn ngôn. Đó là một hệ thống của những tư tưởng, quan
điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một
bối cảnh xã hội cụ thể, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của
mỗi nhóm người cũng như mỗi cá nhân. Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung
đi sâu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học, với các vấn đề: ngữ cảnh diễn
ngôn, diễn ngôn và văn hoá, tác động liên nhân của diễn ngôn. Các nhà nghiên cứu
không nghiên cứu diễn ngôn như một thực thể biệt lập, mà có xu hướng đặt nó trong
mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác; không chỉ nghiên cứu văn bản và
những hình thức tổ chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và
chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản. Vì thế, có
thể nói các phân tích diễn ngôn theo cách tiếp cận này tập trung phân tích chức năng

Nguyễn Hoà đi vào phân tích cụ thể một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và
tiếng Việt như: diễn ngôn bình luận chính trị, diễn ngôn tin để chứng tỏ rằng phân
tích diễn ngôn có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ có loại hình khác nhau. Trong
công trình Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp, ông cho rằng,
CDA quan tâm chủ yếu đến quan hệ quyền lực, quan hệ xã hội và sự tác động của
thực tại xã hội đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện tư
tưởng, điều khiển và làm thay đổi xã hội. Giai đoạn này hình thành một xu hướng
mới là vận dụng lí thuyết và phương pháp phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu một
số kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn bản tin, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn
phóng sự, diễn ngôn lời kêu gọi, diễn ngôn kí, diễn ngôn thông cáo báo chí, diễn
ngôn hợp đồng, diễn ngôn khẩu hiệu,…
Nhìn chung, phân tích diễn ngôn đến giai đoạn này đã bắt đầu khẳng định được
vị trí riêng của mình trong nghiên cứu ngôn ngữ học, hơn nữa còn trở thành phương
pháp nghiên cứu cho các ngành khoa học xã hội nhân văn khác: văn học, dân tộc
học, văn hoá học, nhân học, triết học,… và khẳng định không ít thành quả. Dẫu vậy,
dù đã qua giai đoạn phân biệt văn bản hay diễn ngôn, phân tích diễn ngôn hay phân
tích văn bản mà đi vào phân tích các đường hướng tiếp cận, mảnh đất phân tích diễn
ngôn - đặc biệt là phân tích diễn ngôn nghị luận chính trị, xã hội trong tiếng Việt vẫn
còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm nghiên cứu.
14


1.1.3. Phân tích diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn chính luận, xã
luận nói riêng
Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn báo chí chính luận, đáng kể nhất
là công trình của Nguyễn Hoà với phân tích diễn ngôn bình luận chính trị trong Phân
tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp. Ngoài ra, số lượng các luận
án, luận văn, các bài nghiên cứu chọn đối tượng này để khảo sát vẫn còn rất khiêm
tốn so với sự phong phú của bản thân đối tượng. Có thể liệt kê một vài công trình ở
bậc tiến sĩ như: Luận án Phân tích diễn ngôn phóng sự (Nguyễn Thị Thanh Hương,

chức năng liên nhân của thể loại diễn ngôn chính luận.
1.2. Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn xã luận
1.2.1. Cơ sở lí thuyết về phân tích diễn ngôn
1.2.1.1. Khái niệm “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn”
Trong các công trình nghiên cứu về diễn ngôn, với mỗi giai đoạn phát triển của
phân tích diễn ngôn - tuỳ thuộc vào việc xác định đối tượng, mục đích nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận,... mà mỗi nhà nghiên cứu lại xây dựng hay
lựa chọn cho mình một định nghĩa khác nhau về diễn ngôn. Sự phân hoá phức tạp về
nghĩa của thuật ngữ khi xuất hiện trong những khung lí thuyết khác nhau đã dẫn đến
sự chồng chéo của các tầng nghĩa, tạo nên một ma trận đầy thách thức đối với nhà
nghiên cứu.
Từ khái niệm “diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn
câu (Z. Harris, dẫn theo Nguyễn Hoà, 2006] và coi diễn ngôn như là một hệ phương
pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn, các nhà nghiên cứu cũng
tập trung phân biệt khái niệm diễn ngôn (discourse) và khái niệm văn bản (text). Tuy
nhiên, trong thực tế, cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học chưa đi đến sự thống nhất
trong việc định nghĩa hai khái niệm này.
Các tác giả như Barthes (1970), Ballert (1971), Halliday và Hassan đều có chung
quan niệm diễn ngôn trùng với văn bản. Nhưng Brown. G và Yule. G, Cook, David
Nunan,... lại cố gắng để phân biệt diễn ngôn với văn bản. Ví dụ Brown. G và Yule. G
xem “Văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi
giao tiếp” hay “văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn” [Brown. G, Yule. G, 2002: 22].
Fairclough đồng nhất diễn ngôn với tập quán xã hội, hành động xã hội, thực
tiễn xã hội; diễn ngôn thể hiện đời sống xã hội và tri thức, diễn ngôn được tạo lập và
sử dụng để hợp thức hoá các vấn đề xã hội.
Theo David Nunan “diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu,
những câu này được nhận biết là có liên quan với nhau theo một cách nào đó... không

16


chung cho cả diễn ngôn khi chưa cần có sự phân biệt: “Văn bản là một loại đơn vị
được hình thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu
17


trúc, có đề tài..., như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ
đường...” [Diệp Quang Ban, 2012: 438]. Theo cách hiểu này, văn bản và diễn ngôn
là những chỉnh thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh tồn tại dưới cả hai dạng
nói và viết.
Tựu trung lại, khái niệm diễn ngôn được các nhà nghiên cứu định nghĩa không
giống nhau, nhưng vẫn thống nhất với nhau ở quan điểm diễn ngôn là những chỉnh
thể có cấu trúc xác định, nội dung hoàn chỉnh, có chức năng giao tiếp xác định. Ở
đây, luận án sử dụng khái niệm diễn ngôn với nghĩa này, và đồng nhất diễn ngôn với
văn bản.
Trên cơ sở đó, luận án xác định phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ
trong sử dụng. Diễn ngôn là khái niệm còn phân tích diễn ngôn là phương pháp và
cách tiếp cận. Vì vậy ngữ cảnh chính là yếu tố quan trọng trong phân tích diễn ngôn.
Các nhà ngữ pháp chức năng - hệ thống cho rằng người ta không thể hiểu được ý
nghĩa của những điều được nói ra nếu không biết gì về ngữ cảnh xung quanh chúng.
Hay là, nếu hiểu được những gì viết hoặc nói ra thì cũng có thể hình dung ra được
ngữ cảnh của chúng. Như vậy, để giải thích và hiểu được một diễn ngôn người ta
không những chỉ cần phân tích bản thân diễn ngôn đó mà còn phải phân tích ngữ
cảnh diễn ngôn đó được sử dụng. Ví dụ, trong các diễn ngôn báo chí, người nhận
không cùng chung ngữ cảnh với người phát, do đó người phát chỉ có thể sử dụng
ngôn ngữ để truyền đạt, đồng thời phải dự đoán trước thái độ và phản ứng của người
nhận, nhằm lựa chọn những phương thức phù hợp và hạn chế tới mức tối đa những
sai lệch trong quá trình giao tiếp.
1.2.1.2. Các cách phân loại diễn ngôn
Từ khái niệm diễn ngôn cũng cho thấy, các kiểu loại diễn ngôn hết sức đa dạng.
Diễn ngôn được các nhà nghiên cứu phân tích nằm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau

trao đổi, thẩm mĩ; sự phân chia ba bình diện của các hiện tượng ngôn ngữ: hệ thống
ngôn ngữ, hoạt động lời nói và lời nói (hay sản phẩm của hoạt động lời nói). Trong
phong cách học, chức năng kết hợp với thuật ngữ phong cách để biểu đạt một phạm
vi sử dụng ngôn ngữ. Với sự phân giới ba bình diện của hiện tượng ngôn ngữ: hệ
thống ngôn ngữ, hoạt động lời nói và tư liệu ngôn ngữ, tác giả Môrôkhốpxki đã phân
định phong cách học thành các bậc: phong cách học ngôn ngữ; phong cách học hoạt
động lời nói; phong cách học lời nói; phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật. Ứng
dụng vào tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc đã phân chia các phong cách chức năng của
hoạt động lời nói thành: phong cách hành chính công vụ là khuôn mẫu thích hợp để
19


xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh
vực hành chính công vụ (mệnh lệnh, công hàm, hiệp ước, hợp đồng,…); phong cách
khoa học là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của
người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực khoa học (tạp chí, báo cáo khoa học, giáo
trình,…), phong cách báo chí - công luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp
văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí công luận (tin tức, quảng cáo, điều tra, phỏng vấn,…), phong cách chính luận là
khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham
gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị - xã hội (báo cáo chính trị, lời kêu gọi, xã luận,
bình luận báo chí,...), phong cách sinh hoạt hằng ngày là khuôn mẫu thích hợp để
xây dựng lớp phát ngôn trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh
hoạt hằng ngày (lời trò chuyện, tâm sự, nhật kí, lời tâm sự,…).
Tác giả Hữu Đạt, dựa vào chức năng giao tiếp, hình thức thể hiện, phạm vi giao
tiếp, cho rằng trong tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là: phong
cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính - công vụ, phong cách khoa học,
phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật [Hữu
Đạt, 1999]. Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau. Điều này cũng
quy định cách thức tổ chức diễn ngôn, nội dung diễn ngôn,…
Theo các cách phân loại này, xã luận thuộc loại diễn ngôn có phong cách chính luận.

thị kiểu loại ngôn bản được tạo lập. Ba thông số này cùng xác lập ngữ cảnh tình huống
của văn bản, chỉ cần một trong ba thông số có sự thay đổi là chúng ta đã có ngữ cảnh
khác nhau, từ đó tạo ra những văn bản khác nhau. Như vậy, ngữ vực được hiểu rộng
hơn phong cách học, nó bao chứa các thể loại, các phong cách văn bản khác nhau.
“Các ngữ vực có thể được nhìn nhận như là một tập hợp các thể loại con” [Nguyễn
Hoà, 2003: 38]. Chẳng hạn, ngữ vực văn chương được phân loại thành các ngữ vực
như: văn xuôi, thơ, văn học dân gian, văn học bác học, văn học cổ đại, văn học trung
đại, văn học hiện đại,…; các tiểu ngữ vực là các thể loại con như: truyện ngắn, tiểu
thuyết, truyện cổ tích, truyện truyền kì,… Ngữ vực báo chí gồm các thể loại như: tin,
bài phóng sự, bài bình luận, bài tường thuật, bài xã luận,…
Từ những cách phân loại đó, luận án xác định: DNXL thuộc loại diễn ngôn có
cấu tạo khuôn hình mềm dẻo, mang phong cách chính luận, thuộc diễn ngôn báo chí,
nhưng đồng thời cũng là diễn ngôn chính trị và thuộc ngữ vực báo chí. Sự phân loại
theo các tiêu chí trên giúp luận án có những phân xuất ban đầu về các đặc điểm thể
loại của văn bản trong hướng tiếp cận phân tích. Qua đó cũng có thể thấy rằng bức
21


tranh phân loại diễn ngôn rất đa dạng, tuy nhiên vẫn chủ yếu căn cứ trên bình diện
cấu trúc (đơn giản/phức tạp; cứng nhắc/mềm dẻo/tự do) hoặc căn cứ trên bình diện
chức năng và mục đích giao tiếp. Vì thế, dù có thuộc thể loại diễn ngôn nào thì việc
tiếp cận phân tích diễn ngôn vẫn phải xuất phát từ trọng tâm là nghiên cứu ngôn ngữ
hành chức trong mối quan hệ với xã hội - văn hoá.
1.2.2. Các khuynh hướng tiếp cận phân tích diễn ngôn
Những năm gần đây, sự thâm nhập mạnh mẽ của phân tích diễn ngôn vào khoa
học nhân văn và chính trị - xã hội học đã dẫn tới sự bùng nổ của các lí thuyết diễn
ngôn khác nhau, trong đó nền móng của những lí thuyết này là các quan niệm về thế
giới và phương pháp luận cụ thể trong việc giải thích bản thân khái niệm diễn ngôn, là
những truyền thống nghiên cứu khác nhau, là phương thức giải thích và mô tả các thực
tiễn diễn ngôn cùng cấu trúc và chức năng của chúng. Hàng năm, số lượng các ấn

luận. Chúng đều dựa vào cách giải thích ngôn ngữ trên quan điểm cấu trúc luận và
hậu cấu trúc luận, xem ngôn ngữ là những sức mạnh kiến tạo thế giới. Cơ sở phân
loại của M. Jorgensen và L. Phillips là nguyên tắc phân biệt các lí thuyết diễn ngôn
kiến tạo - xã hội, xuất phát từ chỗ, các lí thuyết ấy đã diễn giải như thế nào về mối
quan hệ tương hỗ giữa thực tiễn diễn ngôn và thực tiễn phi diễn ngôn. Các tác giả
phân tích so sánh các lí thuyết diễn ngôn từ việc khám phá các điều kiện cơ bản, có
tính tiên quyết, tạo thành nền tảng của hướng tiếp cận diễn ngôn theo quan điểm của
thuyết kiến tạo xã hội. Các điều kiện tiên quyết được nhấn mạnh như sau: 1. Tri thức
và ý niệm của con người về thế giới không phải là sự phản ánh trực tiếp thế giới bên
ngoài, mà là kết quả phân loại hiện thực bằng các phạm trù; tri thức của con người là
sản phẩm của diễn ngôn do nó được biểu đạt bằng ngôn ngữ phân tích diễn ngôn; 2.
Các phương thức nhận thức và biểu đạt thế giới chịu sự quy định của ngữ cảnh lịch
sử và văn hoá; “diễn ngôn là hình thức của hành vi xã hội dùng để mô tả thế giới xã
hội (bao gồm tri thức, con người và các quan hệ xã hội)”; 3. Tri thức xuất hiện trong
quá trình tương tác xã hội, ở đó con người kiến tạo chân lí, chứng minh cho nhau, cái
gì là đúng đắn, cái gì là sai lầm; 4. Ứng với một thế giới quan nào đó, những loại
hành vi nào đó sẽ được định hình như những hành vi tự nhiên, còn những hành vi
khác thì bị cự tuyệt, quan niệm xã hội khác nhau về thế giới sẽ dẫn tới hành vi xã hội
khác nhau, vì thế cấu trúc xã hội của tri thức và chân lí có những hệ quả xã hội”.
Ở Việt Nam, theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học, khi phân tích diễn ngôn, các
nhà ngôn ngữ học nghiên cứu các phương thức xây dựng diễn ngôn, trên cơ sở tham
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status