Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ PHƯỢNG NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
QUA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÁC CA TỪ TRONG
BÀI HÁT KHÁNG CHIẾN TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Tôi xin cảm ơn những chỉ dẫn quý báu của GS.TS. Đinh Văn Đức,
Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG
Hà Nội trong quá trình tôi thực hiện luận văn này.
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn cho tôi
sự động viên, khích lệ trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn.
Do những hạn chế chủ quan và khách quan khó tránh khỏi trong quá
trình nghiên cứu, luận văn này có thể vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp của các thầy cô và bạn bè để có thể hoàn thiện hơn trong
những công trình nghiên cứu tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2012
Tác giả luận văn
Lê Thị Phượng MỤC LỤC


2.1. Cấu trúc tên đề 42
2.2. Bố cục của ca khúc 45
2.3. Đặc điểm của câu mở và câu kết 50
2.4. Câu sử dụng thủ pháp so sánh/ví von 53
2.5. Phương tiện liên kết 57
2.6. Kết cấu đảo 60
2.7. Cấu trúc lồng 62
2.8. Các kiểu quan hệ diễn ngôn 63
2.8.1. Chứng minh 65
2.8.2. Nhân nhượng 65
2.8.3. Nhân quả 66
2.8.4. Liệt kê 66
2.8.5. Mục đích 67
2.8.6. Thời gian 68
2.9. Nguyên lí song song 69
2.10. Vị ngữ phụ 73
2.11. Trạng ngữ 75
2.12. Tiểu kết 76
Chương 3: Chức năng tác động truyền thông xã hội của các ca khúc cách
mạng 78
3.1. Chức năng tác động qua các hành động ngôn từ 79
3.1.1. Hành động khẳng định 80
3.1.2. Hành động cầu khiến (mệnh lệnh) 81
3.1.3. Hành động hứa hẹn 83
3.1.4. Hành động bày tỏ 84
3.1.5. Hành động tuyên bố 90
3.2. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng 91
3.2.1. Tính phiếm định 91
3.2.2. Kêu gọi/(Tập hợp) 97
3.2.3. Cổ vũ/(Khuyến khích) 98

chưa sâu. Trước thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt
chủ yếu bàn đến ngôn ngữ truyền thông xã hội một cách toàn diện, tổng thể.
Chính điều này đã thôi thúc chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc
hơn: Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn ca từ trong bài
hát kháng chiến. Việc nghiên cứu vấn đề này góp phần chỉ ra sự thể hiện đa
dạng, phong phú của ngôn ngữ truyền thông xã hội, đáp ứng nhu cầu và phù
hợp với xu thế phát triển của ngành ngôn ngữ học hiện nay. Đây là một hướng
đi mới, có thể phát hiện ra nhiều điều mới mẻ, lí thú, góp phần tìm hiểu những
vấn đề về ngôn ngữ truyền thông xã hội.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu “ngôn ngữ truyền thông xã hội qua
phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến”.
Với mục đích như trên, chúng tôi đặt cho mình những nhiệm vụ như sau:
a. Khảo cứu cấu trúc, chức năng và các tiểu chức năng của diễn ngôn
ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975.
b. Phân tích, miêu tả các chức năng: tư tưởng, liên nhân, văn bản của
diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975.
c. Khảo cứu chức năng tác động truyền thông xã hội của diễn ngôn ca
từ trong bài hát Kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng
và ngữ dụng học. Nghiên cứu phát ngôn trong hoạt động hành chức của nó
hay trong một ngữ cảnh và ngôn cảnh cụ thể. Trong quá trình nghiên cứu luận
văn, chúng tôi có sử dụng phương pháp miêu tả và các thủ pháp: phân tích
nghĩa, phân tích ngữ cảnh, mô hình hóa, thống kê,…
Chúng tôi nghiên cứu theo phương pháp đi từ cụ thể đến khái quát, từ
phân tích đến tổng hợp, từ hình thức đến nội dung, từ cấu trúc đến ý nghĩa, từ
phương tiện đến mục đích, để tìm ra những đặc điểm về ngữ dụng cũng như
các chức năng tác động xã hội thông qua tư liệu đã được khảo sát.
4. Phạm vi nghiên cứu

kháng chiến và những vấn đề xung quanh nó.
6. Bố cục
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
1.1. Các lí thuyết về truyền thông
1.2. Phân tích diễn ngôn
1.3. Diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng
1.4. Tiểu kết
Chương 2: Kết cấu diễn ngôn của ca khúc cách mạng
2.1. Cấu trúc tên đề
2.2. Bố cục một ca khúc
2.3. Đặc điểm của câu mở và câu kết
2.4. Thủ pháp so sánh/ví von
2.5. Phương tiện liên kết
2.6. Kết cấu đảo
2.7. Cấu trúc lồng
2.8. Các kiểu quan hệ diễn ngôn
2.9. Nguyên lí song song
2.10. Vị ngữ phụ
2.11. Trạng ngữ
2.12. Tiểu kết
Chương 3: Chức năng tác động truyền thông xã hội của ca khúc cách
mạng
3.1. Chức năng tác động qua các hành động ngôn từ
3.2. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng
3.3. Chức năng tác động qua sự phối hợp giữa âm thanh và ngôn từ
3.4. Tiểu kết
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được
cú pháp của ngôn ngữ.
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và
mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh
nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành
động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài viết, bài phát
biểu, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức
khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Theo một tư liệu trên
http://d3.violet.vn/uploads/previews/301/1933063/preview.swf có nhiều cách
định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó có truyền thông không bằng lời,
truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời
thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa
biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông
giọng. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung
quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không
bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý). 7% còn lại là
từ những lời nói mà chúng ta nghe được. Truyền thông bằng lời được thực
hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền
thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện
một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia. Quá trình truyền
thông luôn diễn ra một cách liên tục.
Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm
với quy mô khác nhau. Quy mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản
chất của cuộc hội thoại. Truyền thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba
đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn
như công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này được hình thành từ
một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý
học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một
kênh thông tin. Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông
điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân trong cộng đồng thông qua các phương

Quan niệm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực
ngôn ngữ học. Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao
tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Đại
cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của
Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và
phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp
học của Nguyễn Thái Hoà (2005),…
Bên cạnh những công trình biên khảo nói trên, cũng có một số công
trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt,
chẳng hạn: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule
(Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn
ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích
diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn
luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)…
các công trình này tập trung vào mấy điểm sau: diễn ngôn là gì, đặc điểm và
chức năng của diễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu
trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường
hướng phân tích diễn ngôn…
Cũng có thể kể đến các bài viết: “Phân tích diễn ngôn phê phán là gì?”
(tạp chí Ngôn ngữ, 2 -2005), “Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn”
(tạp chí Ngôn ngữ, 12 -2005), “Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng”
(tạp chí Ngôn ngữ, 2 – 2009), “Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết
trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ” (tạp chí Ngôn ngữ số 4 – 2009)…
Chúng tôi thấy có ít nhất năm nhóm quan niệm về diễn ngôn trong
ngôn ngữ học. Nhóm thứ nhất sử dụng khái niệm diễn ngôn (discourse) và
văn bản (text) đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng
cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ. Nhóm thứ
hai cho rằng diễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị
của ngữ pháp. Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự phán xét của dụng

tư duy hậu hiện đại” (tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5 -2008), “Vị thế của
văn học trong sân chơi văn hoá trên tiến trình lịch sử” (tạp chí Nghiên cứu
văn học, 7 – 2009) “Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí luận, phê bình
mới” (tạp chí Nghiên cứu văn học, 12 – 2009), “Chủ nghĩa hậu hiện đại như
một hệ hình thế giới quan” (tạp chí Văn hoá Nghệ An, 4 – 2009); Diễn ngôn
về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 của
Trần Văn Toàn (in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng và
thách thức, Nxb. Thế giới, 2009), Về diễn ngôn tiểu thuyết Việt Nam đương
đại (tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, 3 – 2010), Tính chất nước đôi của
chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống của Linda Lê (tạp chí Văn học nước
ngoài số 3 – 2010), Tính chất nước đôi và mầm mống phá huỷ nhãn quan thực
dân về Việt Nam tính trong bộ phim Đông Dương (http://www.tienve.org)… (***)
Chúng tôi sử dụng khái niệm diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ trong hoạt
động, ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh văn hoá – xã hội. Cũng cần
nói rõ thêm là chúng tôi dùng tên gọi diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ trong tính
sinh động của nó, chứ không phải đề cập đến ngôn ngữ đã tách khỏi ngữ cảnh
phát ngôn, hoặc những mẫu văn bản đã được trừu tượng hoá, cái văn bản tách
khỏi tư duy của chủ thể phát ngôn, của hệ tư tưởng và hoàn cảnh xã hội. Diễn
ngôn hành chức trong một ngữ cảnh văn hoá – xã hội cụ thể. Diễn ngôn được
tạo ra, sử dụng và được giải mã ra sao phụ thuộc vào ngữ cảnh văn hóa xã
hội, vào một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể. Qua diễn ngôn có thể khảo sát được
mối quan hệ liên nhân và các định chế, quy ước phát ngôn, chẳng hạn qua
tấu, một loại diễn ngôn do thần tử tạo lập, trình bày sự việc, ý kiến lên vua.
Qua ngôn ngữ chúng ta còn thấy được kinh nghiệm của chính chúng ta
về thế giới khách quan, ngôn ngữ phản ánh khoảng cách quyền lực và mức độ
phụ thuộc của người sử dụng ngôn ngữ đối với một tổ chức, định chế nào đó,
và đối với hệ thống văn hoá tri thức của cả một xã hội. Trở lại ví dụ chiếu,

cứu diễn ngôn ở chỗ phải mô tả được một tổng thể các yếu tố văn hóa – xã
hội chi phối đến việc thiết lập và sự hiểu diễn ngôn. Sự miêu tả cần được tiến
hành song song với việc giải thích diễn ngôn đã được kiến tạo thế nào, vì sao
nó lại tồn tại và hoạt động như thế. Do các phát ngôn trong một diễn ngôn
không chỉ bện kết với nhau theo tư tưởng, quan niệm của người phát mà còn
liên kết theo các chức năng của chúng cho nên nghiên cứu diễn ngôn không
thể chỉ dừng lại ở chức năng giao tiếp của diễn ngôn mà còn cần chú ý đến
khía cạnh tư tưởng và quan hệ quyền thế được thể hiện trong diễn ngôn, hoặc
chi phối đến sự kiến tạo diễn ngôn. Diễn ngôn không chỉ dựng lại diện mạo
thế giới mà còn tạo lập cách nhìn mới thế giới, tạo ra thế giới mới, ở nó chứa
đựng cả vô thức lịch sử lẫn tiềm thức, ý thức của chủ thể sáng tạo ra nó.
(Có tham khảo chuyên luận “Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn
học, diễn ngôn thơ” của Trần Thiện Khanh 3/2010)
1.2.2. Phân loại diễn ngôn
Có nhiều cách phân loại diễn ngôn. Tham khảo chuyên luận “Bước đầu
nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ” của Trần Thiện
Khanh 3/2010), chúng tôi thử điểm qua một vài cách phân loại, cùng đặc
điểm của một số loại diễn ngôn.
a/ Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại
lớn: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.
b/ Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể chia diễn ngôn ra thành các loại: diễn
ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức,
diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành
chính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi
nghệ thuật, diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự… Diễn ngôn chính trị bao
giờ cũng chịu sự chi phối rất mạnh của quan hệ quyền thế, của tôn ti trật tự; ở
nó, chủ thể - cá nhân không tồn tại, bản sắc cá nhân cũng bị thủ tiêu, chỉ có
các vai xã hội, và các hình thức phát ngôn nhân danh chiếm giữ vai trò chủ
đạo. Diễn ngôn chính trị có mục đích tạo ra hiệu lực xã hội, hiệu lực chỉ đạo
và điều hành, nó chịu sự chi phối của sức mạnh tập thể, cộng đồng, các phát

đó đối với chứng điên. Diễn ngôn về tính dục kiến tạo một cách lí giải con
người nhằm giành quyền không chế chính con người so với các khoa học
khác; diễn ngôn tính dục có thể truyền dẫn các quan hệ quyền lực nào đó đang
ngự trị trong xã hội, song không phải vì thế mà nó đã thoát khỏi sức mạnh chi
phối của bản năng, diễn ngôn tính dục bao giờ cũng tiềm tại một sức mạnh
chống cự lại cái chết, nó được đồng nhất với sự sống. Diễn ngôn hiện thực và
diễn ngôn tượng trưng khác nhau ở chỗ: một bên dựa vào ưu thế của hoán dụ,
còn một bên dành quyền ưu tiên cho ẩn dụ; diễn ngôn hiện thực tạo ra ảo ảnh
dối lừa rằng nó đang nói về thế giới ở bên ngoài văn bản, nhưng thực ra nó có
các quy tắc, quy ước riêng của mình; diễn ngôn tượng trưng luôn chứng tỏ
rằng nó chỉ nói về bản thân mình, nó có khả năng tạo ra một hình ảnh mới,
một cách nói về hiện thực.
d/ Dựa vào thể loại, có thể chia diễn ngôn báo chí thành diễn ngôn tin tức,
diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, diễn ngôn tường thuật; có
thể phân loại diễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn thơ, diễn
ngôn phê bình hoặc diễn ngôn hội thoại đời thành diễn ngôn phỏng vấn, xin
lỗi, giới thiệu, chào hỏi… Diễn ngôn xin lỗi chịu sự chi phối của quyền lực
thể diện, tập quán, và quan hệ quyền lực giữa người nói và người nghe, ở đây
cả mức độ tương thân giữa họ cũng có ảnh hưởng quan trọng đến chiến lược
và cấu trúc của lời xin lỗi. Diễn ngôn quảng cáo có tham vọng giành lấy một
lượng người tiêu dùng nào đó, nó định hướng sự tiêu dùng bằng cách ngụy
tạo thông tin và phân phối thông tin; sự kiến tạo và hoạt động thực tiễn của
diễn ngôn quảng cáo chịu sự chi phối của quyền lực của cải, của các phương
tiện truyền thông; diễn ngôn quảng cáo giao dịch cả chính nó và sản phẩm mà
nó tạo ra.
e/ Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn và
siêu diễn ngôn. Khổng Tử sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo, Thích ca Mâu
ni (Siddharta Gautama) sáng lập ra siêu diễn ngôn Phật giáo, Freud sáng lập
siêu diễn ngôn phân tâm học, Ann Radcliffe sáng tạo ra diễn ngôn tiểu thuyết
kinh dị

ngôn văn học lại tạo ra một mạch liên kết rõ rệt. Văn bản Chí Phèo có diễn
ngôn của người kể ở ngôi thứ ba, diễn ngôn của nhân vật Chí Phèo, diễn ngôn
của Bá Kiến, diễn ngôn của bà cô Thị Nở… Diễn ngôn của các vai có giá trị
và hiệu lực khác hẳn so với diễn ngôn của người kể.
h/ Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (D. Nunan) có thể chia diễn ngôn thành
hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân. Diễn ngôn giao dịch
được tạo lập khi người phát và người nhận quan tâm đến đến sự trao đổi
thông tin và dịch vụ, ví dụ diễn ngôn chỉ đường của cảnh sát, diễn ngôn
hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sĩ Diễn ngôn liên nhân được hình thành
khi những người nói quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ để thiết lập hoặc
duy trì các quan hệ xã hội, ví dụ thư cảm ơn, thư tình.
Diễn ngôn có tính đa chức năng. Ngoài chức năng giao dịch, liên nhân,
diễn ngôn còn có chức năng thẩm mĩ. Dựa vào chức năng của văn bản lại có
thể chia diễn ngôn thành nhiều loại, mỗi loại diễn ngôn ứng với một kiểu giao
tiếp, một kiểu chức năng, ví dụ diễn ngôn chính chị, diễn ngôn quảng cáo và
diễn ngôn của thẩm phán trong phòng xử án có chức năng khác so với diễn
ngôn hội thoại đời thường.
1.2.3. Phân tích diễn ngôn
Tuy về mặt lí thuyết phân tích diễn ngôn (PTDN) còn những vấn đề
chưa có được tiếng nói chung, nhưng về mặt thực hành thì PTDN được ứng
dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội, kể cả trong lĩnh vực ngôn ngữ văn
chương và ngôn ngữ mang tính nghệ thuật.
Trước hết, PTDN không phải là phân tích bất kì diễn ngôn nào, người
ta chỉ phân tích những diễn ngôn có những hiện tượng cần xem xét, với
những mục đích nhất định. Để phân tích một văn bản (viết) thông thường
người ta đọc toàn văn bản để nắm ý tổng thể của nó. Tiếp theo là công đoạn
đọc từ câu này đến câu khác, rồi đọc từ từ này đến từ khác. Chính công đoạn
này giúp nhận ra những điều cần quan tâm. Việc đọc từ câu này đến câu khác
giúp nhận biết những khối ý lớn nhỏ và cách sắp xếp chúng trong văn bản.
Việc đọc từ từ này sang từ khác giúp nhận ra kiểu nghĩa được dùng của chúng

phải là phổ biến, nó chỉ có thể là những phút giây “thăng hoa”, là cái “vô
thức” trên cái nền của một bề dày kinh nghiệm, một vốn hữu thức đáng kính
nể). Cái hữu thức (và cả cái trực giác hay “tình cờ”) thấm đượm tính nghệ
thuật cần được lý giải (hiểu thấu và giảng giải) để khỏi phí hoài.
Việc phân tích các hiện tượng có khả năng diễn đạt một ý nghĩa nào đó
thuộc về kinh nghiệm sống và kinh nghiệm phân tích sự việc, hiện tượng, theo
chủ quan của người phân tích, cho nên việc phân tích có chỗ gặp nhau, có chỗ
không gặp nhau ở những người khác nhau, cũng là lẽ thường. Chẳng hạn
Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhiều người cho là kiệt tác, nhưng qua mỗi
thời đại nó được đánh giá một khác và cũng không tránh khỏi một vài người
chê trách coi như là thuộc vào loại sách có hại. Nếu PTDN chủ yếu đặt mọi
hiện tượng ngôn từ trong vào ngữ cảnh tình huống để phân tích, thì phân tích
diễn ngôn phê bình không chỉ dừng lại ở ngữ cảnh tình huống mà còn quan
tâm đến cả thực tế hoạt động xã hội, các lớp người khác nhau trong xã hội, và
đòi hỏi ở người phân tích một ý thức xác định và một thiện chí. Thực ra, trong
phê bình văn học từ lâu đã có những hiện tượng tương tự, nhưng chúng chưa
được nêu lên như những yêu cầu chung đối với mọi người cảm nhận văn chương.
Căn cứ vào việc lý giải các hiện tượng ngôn ngữ đòi hỏi sự cố gắng chỉ
ra cái “như thế nào?” đằng sau các từ ngữ quen thuộc như “đặc sắc”, “độc
đáo”, “sáng tạo”, cụ thể là: đặc sắc như thế nào? Độc đáo như thế nào? Sáng
tạo như thế nào? V.v… Muốn hiểu cái “như thế nào?” thì phải suy luận từ các
từ ngữ, các dấu hiệu có mặt trong diễn ngôn (văn bản) cùng với ngữ cảnh, với
tất cả những gì trong hoạt động thực tế của đời sống xã hội hữu quan, cũng
như từ ý tưởng, thái độ của người sáng tác suy luận được qua sản phẩm ngôn
ngữ của họ. Cho nên các từ ngữ, các dấu hiệu về ngữ cảnh về các hoạt động
thực tế, về ý tưởng, thái độ đó gọi là những cái “suy diễn được”, phân biệt với
“trực giác”. Cái duy diễn được là những trường hợp cụ thể trong tác phẩm
nghệ thuật, hay trong diễn ngôn nói rộng, và cả những cái bên ngoài văn bản
có liên quan đến nó. Việc suy diễn là thuộc về chủ quan, nó là việc để mở cho
những người khác nhau và những thời điểm khác nhau trong quá trình nhận

những sự việc, hiện tượng gây khó chịu, không chấp nhận được, như tím ngắt
(màu sắc), đắng ngắt (vị), chán ngắt (tâm lí) …; trong phạm vi màu sắc cũng
có những tiếng kèm có nghĩa tiêu cực giống ngắt như đỏ lòm, trắng hếu, vàng
ệch, xanh lè … Mặt khác, bản thân tiếng ngắt ở đây với vần -ắt tạo lên sự liên
tưởng với thắt như trong đau thắt lòng; với vần đóng (có –t ở cuối), nó gợi
lên ấn tượng về “sự bế tắc”. Cả hai hiện tượng vừa nêu là cơ sở để có thể nhận
ra cái xung động tình cảm: “bực mình, đau xót, tuyệt vọng” ở người chinh
phụ. Như vậy, tiếng ngắt ở đây cũng là một căn cứ của sự suy diễn, là một
hiện tượng suy diễn được, giúp nhận biết tâm trạng cụ thể của một con người.
Diễn ngôn thơ còn có nhiều cách tạo nghĩa. Nó tạo nghĩa qua các yếu tố
ngôn ngữ. Ví dụ qua nhịp: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm
nắng lá rơi đầy”(Đất nước). Câu thơ thứ hai có hai cách ngắt nhịp (2/2/3 hoặc
3/4) mỗi cách ngắt nhịp tạo ra một kiểu nghĩa, tạo ra một sự thể, các nét nghĩa
này có thể trượt ra ngoài ý định chủ quan của tác giả. Nhịp góp phần tạo ra
tiết tấu thẩm mĩ, tiết tấu của cuộc sống, nhịp trở thành cái biểu đạt quan
niệm, cách nhìn. Các yếu tố âm vị, âm thanh, nhịp điệu… ngoài chức tạo
nghĩa, còn tạo hình. Xuân Diệu có câu: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” (Đây mùa thu tới). Sự tạo nghĩa ở hai
câu này còn do vần, vần “iu” góp phần tạo ra âm hưởng lặng lẽ, buồn thương,
mỏng manh; các chữ buồn, buông, xuống nối nhau tạo hình những lá liễu
đang rủ, đồng thời cũng gợi hình một chủ thể đa mang tâm trạng thu.
1.2.4. Lí thuyết cấu trúc diễn ngôn
Lí thuyết cấu trúc diễn ngôn (Rhetorical Structure Theory) là một
phương pháp dùng để biểu diễn sự mạch lạc, chặt chẽ của văn bản. Trung
tâm của lí thuyết CTDN là các quan hệ diễn ngôn (QHDN) giữa các đoạn
văn bản không gối lên nhau. Đoạn văn bản quan trọng hơn trong một QHDN
được gọi là nhân (nuclei - N), còn thành phần ít quan trọng hơn được gọi là vệ
tinh (satellite – S). Nếu các đoạn văn bản đó có tầm quan trọng ngang nhau
(như quan hệ tương phản hay quan hệ liệt kê) thì các đoạn văn bản đó đều
đóng vai trò nhân trong mối QHDN giữa các thành phần đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status