ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRIỆU ĐỨC PHÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRIỆU ĐỨC PHÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Quang
Tác giả luận văn
Triệu Đức Phú
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................... iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ ......................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu................................................................. 3
4. Giả thuyết khoa học ......................................................................................... 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 3
6. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4
8. Cấu trúc của luận văn ...................................................................................... 4
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN
THÔNG XÃ HỘI ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ............................................................... 5
1.1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề ................................................................. 5
động của TTXH ..................................................................................... 37
1.4.4. Quản lý công tác đánh giá đạo đức học sinh ......................................... 38
Kết luận Chương 1 ............................................................................................. 39
Chương 2. THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG
XÃ HỘI ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRONG CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC KẠN ......................... 40
2.1.
Vài nét về địa bàn nghiên cứu và khảo sát thực trạng........................... 40
2.1.1. Khái quát về điều kiện kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Kạn. ............................. 40
2.1.2. Vài nét về tình hình giáo dục tỉnh Bắc Kạn ........................................... 40
2.1.3. Khái quát về mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát ... 41
2.2.
Đặc điểm tình hình giáo dục của các trường nghiên cứu ...................... 42
2.2.1. Về cơ sở vật chất và phương tiện .......................................................... 42
2.2.2. Về học sinh ............................................................................................ 43
2.2.3. Về chất lượng giáo dục.......................................................................... 43
2.3.
Kết quả khảo sát thực trạng ................................................................... 44
2.3.1. Thực trạng nhận thức về vai trò của các lực lượng trong GDĐĐ cho
học sinh THPT của CBQL, giáo viên, phụ huynh, học sinh. ................ 44
2.3.2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh dưới góc nhìn của
học sinh, giáo viên và phụ huynh .......................................................... 49
2.3.3. Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh, giáo viên, phụ huynh .. 53
1. Kết luận .......................................................................................................... 84
2. Khuyến nghị................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 87
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CBQL
Cán bộ quản lý
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
GVBM
Giáo viên bộ môn
GVCN
Bảng 2.7:
Bảng 2.8:
Bảng 2.9:
Bảng 2.10:
Bảng 2.11:
Bảng 2.12:
Bảng 2.13:
Bảng 2.14:
Bảng 2.15:
Bảng 2.16:
Bảng 2.17:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Nhận thức của học sinh về vai trò của các lực lượng giáo dục
trong GDĐĐ học sinh THPT ........................................................ 44
Nhận thức của Giáo viên về vai trò của các lực lượng giáo dục ....... 45
Nhận thức của phụ huynh về vai trò của các lực lượng giáo dục ...... 47
So sánh nhận thức của học sinh, giáo viên và phụ huynh về
vai trò của các lực lượng giáo dục ................................................ 48
Thực trạng hiểu biết của giáo viên và phụ huynh về các mạng
xã hội học sinh đang sử dụng ........................................................ 52
Mức độ học sinh sử dụng trang mạng xã hội ................................ 54
Thực trạng sử dụng mạng xã hội của giáo viên ............................ 55
Đánh giá của giáo viên về học sinh sử dụng mạng xã hội ............ 56
Thực trạng sử dụng mạng xã hội của phụ huynh .......................... 58
Đánh giá của phụ huynh về sử dụng mạng xã hội của các con .... 59
Đánh giá của học sinh về sử dụng mạng xã hội ............................ 61
Đánh giá của giáo viên về sử dụng mạng xã hội .......................... 63
Nhận thức của học sinh về thực trạng tác động của TTXH đối
còn thấm sâu, làm thay đổi bản chất xã hội, tâm lý, thói quen của con người đặc
biệt là giới trẻ.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet ở Việt Nam, ngày càng có
nhiều người sử dụng mạng xã hội để chia sẻ tin tức hằng ngày đồng thời có thể
tìm hiểu về những thông tin cụ thể từ rất nhiều những chủ đề, lĩnh vực khác
nhau. Giới trẻ Việt Nam có số lượng lớn, cơ cấu đa dạng, vừa có những đặc
điểm thuận lợi cho việc tiếp thu các yếu tố tích cực, vừa có những đặc điểm dễ
bị tổn thương trước những tác động tiêu cực của phương tiện TTXH hoặc thúc
đẩy những yếu tố tiêu cực từ môi trường phương tiện TTXH phát triển. Thực tế
hiện nay cho thấy, đa số giới trẻ Việt Nam có thái độ, hành vi ứng xử tích cực
và phù hợp trên môi trường mạng, tận dụng phương tiện TTXH như một kênh
hữu hiệu phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống, làm chủ được bản thân trước
những tác động của phương tiện TTXH. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận giới
trẻ thiếu sự chuẩn bị về kỹ năng và tâm thế nên không tận dụng được lợi ích
của phương tiện TTXH, thậm chí bị sa đà, chìm đắm trong thế giới ảo, chịu tổn
hại về tinh thần, vật chất. Hơn nữa, một số thanh niên còn chọn cách nhập cuộc
và cổ xúy cho những thái độ, hành vi, lối sống lệch lạc, đi ngược lại các giá trị
1
đạo đức xã hội. Những tác động tiêu cực và tích cực trên nảy sinh một loạt
những mâu thuẫn, xung đột, đòi hỏi cần kíp phải tháo gỡ [13].
Theo điều 27 Luật giáo dục 2005: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [27]. Để đạt được mục
tiêu này, nhà trường cùng các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường cần
chung tay thực hiện các biện pháp giáo dục về mọi mặt để hướng tới xây dựng
thức này đang có những tác động không nhỏ tới giới trẻ trong đó có học sinh
THPT. Hiện nay, học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chịu tác động của
TTXH một cách khách quan theo hướng tự phát; Công tác quản lý giáo dục đạo
đức dưới những tác động của TTXH trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn đã
được quan tâm, tuy nhiên vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định. Nếu
nghiên cứu được hệ thống lý luận, ảnh hưởng của TTXH xây dựng sẽ phát huy
được những ảnh hưởng tích cực đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực
của TTXH đến GDĐĐ học sinh THPT. Từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác giáo dục đào tạo trên trên địa bàn tỉnh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về ảnh hưởng của TTXH đối với GDĐĐ học
sinh THPT.
5.2. Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh
các trường THPT tỉnh Bắc Kạn.
5.3. Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả
những ảnh hưởng tích cực đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của
TTXH trong GDĐĐ học sinh THPT tỉnh Bắc Kạn.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn khách thể điều tra
Giới hạn khách thể điểu tra ở bậc THPT, trong đó: Cán bộ Quản lý giáo
dục 10; giáo viên 162; học sinh 300; phụ huynh 150
3
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 03 trường THPT, đó là: Trường THPT huyện Chợ
Đồn, THPT Thành phố Bắc Kạn và Trường THPT chuyên tỉnh Bắc Kạn.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
1.1.1. Những nghiên cứu về TTXH
Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013: “Social networks and
Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen sử dụng
Internet của thế hệ trẻ). Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ
khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những
hành vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về mạng xã
hội, Internet. Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của
mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại.
Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với tên gọi “Young and old use
social media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già sử
dụng TTXH với những lý do đáng ngạc nhiên) đã cho thấy những lý do mà mọi
người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối
sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương
lai như thế nào.
Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề
những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu
biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: Is social
networking bad for today's generation ? (Có phải mạng xã hội là xấu đối với
thế hệ ngày nay ?). Đã có rất nhiều ý kiến vào tranh luận, trong đó có 58%
đồng ý rằng mạng xã hội đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, 42%
không đồng ý và kể ra những ưu điểm mà mạng xã hội mang lại [dẫn theo 11].
Tác giả Pavica Sheldon, Đại học Alabama, Mỹ, trong cuốn sách (Social
Media: Principles and Appliatons) (Các phương tiện TTXH: Nguyên tắc và ứng
dụng) nghiên cứu về tác động đa dạng của phương tiện TTXH tới các lĩnh vực
5
chính trị, giáo dục... đã dành hai chương riêng nghiên cứu về chứng “nghiện
Social Media” và đánh giá các phương tiện TTXH và thảm họa truyền thông.
Theo đó tác giả liệt kê và phân tích những hiện tượng trong giao tiếp và truyền
dụng các phương tiện TTXH, tác giả đã đưa ra hệ giải pháp nhằm hạn chế các
yếu tố tiêu cực, nhân rộng các yếu tố tích cực từ sự tác động của chính phương
tiện TTXH [13].
1.1.2. Những nghiên cứu về GDĐĐ
Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN) nhà triết học
nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo đã rất coi trọng
vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục
cũng như về tâm lý học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục được ghi
trong Tứ thư và Ngũ Kinh nhưng cụ thể và tập trung nhất là các tác phẩm:
“Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu”. Khổng Tử xây dựng học thuyết “Nhân
- Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo
đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, ông chủ
trương “Lễ trị”, lấy “ Lễ” để xử ở đời, người phải lấy tu thân làm gốc. Phương
châm giáo dục này còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Socrate (469-399
TCN), nhà triết học cổ đại coi cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con
người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc.
Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, con người phải tự ý thức, phải bằng
nhận thức lý tính với phương pháp khoa học nhận thức. [dẫn theo 7].
Aristote (384 - 322 TCN) cho rằng: Trước tiên học đạo đức rồi sau đó
học tri thức, không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt. Là người phát triển tư
tưởng của Aristote, Xixêrô M.T (106 - 43 TCN) một lần nữa khẳng định: Triết
lý về đạo đức là sự chuẩn bị tư duy để tiếp nhận hạt giống trí tuệ.[dẫn theo 7].
Thế kỷ thứ XVII, Komensky (1592 - 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp
Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ với tác phẩm nổi tiếng - “Khoa
sư phạm vĩ đại”. Komensky chủ trương việc giáo dục con người phải tiến hành
theo qui luật chung của tự nhiên, bởi lẽ trước khi con người trở thành một thành
viên của xã hội, con người vốn dĩ là một sinh vật hoàn thiện nhất của tạo hóa. Ông
7
gian qua đã có rất nhiều cố gắng GDĐĐ cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy
nhiên, ta mới chú ý đến GDĐĐ hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo
9
dục hướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng.
Chiến lược giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cần có sự nhấn
mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ” [1].
1.1.3. Những nghiên cứu về tác động của truyền thông xã hội đến giáo dục
đạo đức cho học sinh
Tác giả Đinh Quang Hà, trong nghiên cứu “Tác động của truyền thông đại
chúng đến lối sống của sinh viên hiện nay” đã chỉ ra rằng: Truyền thông đại
chúng trong xu thế toàn cầu đang có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến lối sống
của thanh niên hiện nay. Các thông tin của phương tiện truyền thông đại chúng
tác động vào trí thức sinh viên, hình thành tri thức, thái độ mới hay nhận thức,
thái độ cũ. Sự thay đổi về ý thức tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hành vi. Một
trong những tác động tích cực nổi bật nhất của toàn cầu hóa truyền thông đại
chúng cùng với ý thức đề cao tính cá nhân là việc soi chiếu các giá trị đạo đức
dưới góc độ cá nhân, phẩm chất cá nhân. Nó tạo ra sự đồng nhất tương đối giữa
quan niệm đạo đức và quy tắc ứng xử của một cộng đồng (ở đây là sinh viên
Việt Nam nói riêng và giới trẻ nói chung) với những quan niệm đạo đức và ứng
xử mang tính quốc tế. Với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đại
và việc mở rộng, đa dạng hóa giao lưu quốc tế, sinh viên ngày nay đã hòa kịp
vào dòng chảy mới trong quá trình hội nhập. Điều đó tạo ra sự xích lại gần nhau
của các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống trong một tinh thần cảm thông cởi
mở. Có thể thấy những biểu hiện này trong các quan niệm đạo đức có liên quan
đến các lĩnh vực đặc trưng của tuổi trẻ như : tình bạn, tình yêu… Các quan niệm
đạo đức của sinh viên Việt Nam, bên cạnh những cái riêng của mình đã xuất hiện
những cái chung hòa nhập cùng thế giới, mở ra những cơ hội giao lưu học hỏi.
Tác giả Lê Thị Mỹ Hà, trong nghiên cứu “Mạng xã hội và những tác động
nền tảng cung cấp cho người sử dụng internet dựa trên công nghệ web 2.0.
Andreas Kaplan và Michael Haenlein [dẫn theo 11] định nghĩa TTXH là
“những ứng dụng internet xây dựng trên nền tảng công nghệ và lý tưởng của web
2.0, mà tạo điều kiện cho việc kiến tạo và trao đổi thông tin của người dùng”.
11
Theo định nghĩa chính thức của Chính phủ nhà nước CHXHCN Việt Nam
[6], dưới đề xuất của bộ Thông Tin và Truyền thông, thì TTXH “là hệ thống
thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ,
cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm
dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện
(chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương
tự khác.” Murphy [dẫn theo 11] thì định nghĩa TTXH đơn giản là công cụ
truyền thông mà công chúng có thể tạo ra và trao đổi thông tin trên mạng
internet. Cần phải lưu ý sự khác biệt giữa TTXH (social media) và mạng xã
hội (social network). Về mặt bản chất công nghệ, hai khái niệm này đều cùng
chỉ một bản thể: đó là những website dựa trên nền tảng web 2.0 để giúp người
sử dụng có thể tạo lập và truyền tải thông tin. Tuy vậy, thuật ngữ TTXH mang
nghĩa rộng hơn, bao hàm cả phương tiện lẫn nội dung truyền thông, trong khi
mạng xã hội nhấn mạnh nhiều hơn đến nền tảng công nghệ tạo ra nó. Trong
nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng cả hai thuật ngữ này với cùng một
nội dung nghiên cứu.
TTXH là các công nghệ qua máy tính tạo thuận lợi cho việc tạo ra và chia
sẻ thông tin, ý tưởng, sở thích nghề nghiệp và các hình thức biểu hiện khác thông
qua cộng đồng và mạng ảo. Sự đa dạng của các dịch vụ TTXH độc lập và tích hợp
hiện đang có sẵn đưa ra những thách thức về định nghĩa. Tuy nhiên, có một số tính
năng phổ biến để nhận diện TTXH là: 1) Phương tiện TTXH là tương tác Web 2.
0 ứng dụng dựa trên Internet. 2) Nội dung do người dùng tạo ra, chẳng hạn như
TTXH Là một bộ phận cấu thành của truyền thông đại chúng, TTXH
cũng là một hiện tượng xã hội đa chức năng, với một số chức năng xã hội cơ
bản như: chức năng thông tin - liên kết xã hội; chức năng giáo dục tư tưởng,
đạo đức, cổ vũ hành động; chức năng khai sáng, giải trí; chức năng giám sát phản biện xã hội; chức năng quảng cáo - dịch vụ - thương mại...[8], [13], [14].
Tuy nhiên, những tác động của các phương tiện truyền thông nói chung
không chỉ có tác động thuận, mang lại hiệu quả truyền thông, hiệu quả xã hội
tích cực, mà còn có những tác động nghịch, khi mục đích truyền thông tích cực
13
của chủ thể hướng đến và kết quả, hiệu quả thực sự xảy ra khác nhau. Đối với
các phương tiện TTXH, với sự tham gia của đa dạng các chủ thể truyền thông
cùng với những mục đích truyền thông khác nhau (cả mục đích tốt và mục đích
xấu) và quá trình truyền thông khó kiểm soát thì những tác động nghịch của
quá trình truyền thông càng dễ xảy ra, dẫn tới hiện tượng “phản chức năng”
truyền thông - tạo nên những tác động tiêu cực về nhiều mặt tới xã hội và các
cá nhân tham gia [24], [32].
TTXH ngoài những đặc điểm của các phương tiện truyền thông đại
chúng, còn có những đặc điểm riêng đan xen giữa mặt tích cực và tiêu cực, cụ
thể như sau:
- Tính siêu liên kết xã hội là thuộc tính nổi bật nhất của TTXH. Không
chỉ dừng lại ở chức năng thông tin như các phương tiện truyền thông đại chúng
truyền thống, mục đích chính của phương tiện TTXH khi được thiết kế là dành
riêng cho kết nối xã hội. Chức năng kết nối xã hội của TTXH đều được thể hiện
rõ với các mức độ khác nhau, trong đó nhiều loại hình có tính kết nối, liên kết
xã hội mang tính trội (mạng xã hội, diễn đàn xã hội, dịch vụ thoại và nhắn tin
trên nền internet, blog...). TTXH ban đầu ra đời để phục vụ các mối liên hệ liên
cá nhân, tuy nhiên do đặc tính đa liên kết theo phương vô hướng tạo nên các
mối quan hệ xã hội đan xen hết sức đa dạng giữa các thực thể tham gia, vượt ra
ngoài nhiều giới hạn về địa lý, thời gian đã hình thành nên tính siêu kết nối xã
không chính thức cho phép các thực thể tham gia dễ dàng vào các nhóm xã hội
nào đó để trò chuyện và đưa ra quan điểm về bất cứ vấn đề nào mà họ thích
hoặc quan tâm, chia sẻ [13], [14].
Tuy nhiên mặt trái là, những thông tin không được kiểm chứng sự thực,
thông tin xấu, độc, tiêu cực có thể dễ dàng được đưa lên mạng và có tác động
tiêu cực khó lường với mỗi cá nhân người sử dụng, cũng như cộng đồng xã hội
nói chung. Nhiều thông tin và giá trị trên các phương tiện truyền thông đại
chúng là những thông tin và giá trị “ảo”, gây lệch chuẩn về giá trị đạo đức xã
hội đối với người tiếp nhận [13], [14].
15
- Tính nặc danh, khả năng bảo mật giới hạn và sự không đồng nhất của
người dùng: Tính nặc danh là một đặc trưng của các phương tiện truyền thông
đại chúng, bởi thông tin dù hướng tới đối tượng công chúng riêng song vẫn là
đại chúng, hầu hết không ai biết ai. Đặc trưng này càng thể hiện rõ ở TTXH với
khả năng siêu kết nối, những người trong phạm vi quen biết của một người
dùng là có giới hạn, nhưng những người sẽ biết ở phạm vi rất rộng. Đặc trưng
này khiến sức mạnh kết nối rất lớn, thông điệp có thể được khuếch tán không
có giới hạn, song cũng tạo nên những mối quan hệ, những tương tác “ảo”, có
thể phát sinh nhiều rủi ro [13], [14].
Mặt khác, trong môi trường mạng, tính bảo mật thông tin của người dùng
là có giới hạn, phụ thuộc nhiều vào chất lượng bảo mật của ứng dụng - phần
mềm; kỹ năng, kỹ thuật tự bảo vệ và việc sử dụng các phần mềm bảo mật an
toàn của người dùng. Chủ thể sử dụng TTXH rất đa dạng, là tập hợp của một
cộng đồng rộng lớn, ít có sự đồng nhất về thành phần xuất thân, trình độ học
vấn, sở thích, quan điểm... Đặc điểm này khiến việc tạo nên sự đồng thuận rộng
lớn hay tập hợp lực lượng để xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống không
phải là việc dễ dàng. Tâm lý đám đông lại là một đặc trưng của các chủ thể
tham gia TTXH, đôi khi tạo nên những hiệu ứng ngoài mong đợi của nguồn