A. Lý thuyết
I. Khái niệm tâm lý :
Tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần nảy sinh do tác động của thế
giới khách quan vào não, được não phản ánh, nó gắn liền, điều hành, điểu
khiển mọi hoạt động, hành vi của con người.
Từ điển tiếng Việt (1998) viết: “Tâm lý là ý nghĩ, tình cảm...làm thành
thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người”.
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư
tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm
lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm
lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người.
Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học.
Tâm lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng,
thông qua những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa
học để thử và bác bỏ những giả thuyết. Tâm lý học có khuynh hướng chiết
trung, sử dụng và tiếp thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học
khác để hiểu và lý giải hành vi của con người
II. Cơ chế ảnh hưởng của tâm lý xã hội đến tâm lý báo
chí truyền thông
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, trong cuốn “ Truyền thông- lý thuyết
và kỹ năng cơ bản”. đã phân tích cơ chế tác động của báo chí nói riêng và
truyền thông đại chúng nói chung đến ba tầng của ý thức quần chúng bao gồm
: tầng thế giới quan, nhân sinh quan (tầng sâu nhất, vững chắc nhất), tầng ý
thức lịch sử - văn hóa, và tầng ngoài cùng, mỏng nhất, linh động nhất là dư
luận xã hội. Điều đó cho chúng ta thấy rõ rằng : một nhà báo , một nhà quản
lý báo chí truyền thông, muốn tác động hiệu quả và tạo hiệu lực cho tác phẩm,
sản phẩm báo chí của mình phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội
trong đó cốt lõi là tâm trạng xã hội, tâm thế xã hội, giá trị xã hội và dư luận xã
1
+ Cần có kiến thức và kỹ năng nhận biết các mặt cơ bản trong đời sống
tâm lý con người, với các quy luật cơ bản của nhận thức, tình cảm và hành
động lý trí.
+ Có kiến thức về các giai đoạn hình thành và phát triển tâm sinh lý giao
tiếp, các quy luật trong vòng đời của mỗi người…
+ Cần có kiến thức về tâm lý học sang tạo và tâm lý học nhân cách, từ
đó có khả năng nhận diện cách sang tạo của bản thân, đồng nghiệp, ứng dụng
trong việc phát triển năng lực sang tạo của bản thân, trong nhóm làm việc và
tập thể báo chí, cũng như ứng dụng trong công tác quản lý báo chí.
+ Hiểu biết về hệ thống các quy luật của quá trình tiếp nhận nói chung
và các vấn đề về tâm lý tiếp nhận các tác phẩm, sản phẩm báo chí của công
chúng nói riêng, các nguyên tắc làm báo tiếp cận tâm lý công chúng nhằm đạt
được lỹ năng và nghệ thuật viết báo phù hợp với tâm lý công chúng.
+ Có kiến thức và kỹ năng nghiên cứu công chúng báo chí nói chúng và
nghiên cứu công chúng, bao gồm việc xác định vấn đền tâm lý cần nghiện
cứu, sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích và sử dụng các kết quả
nghiên cứu để ứng dụng trong nghề nghiệp.
. Một số hướng nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học trong lĩnh vực báo
chí đã đem lại kết quả tích cực với nền báo chí phát triển hiện nay bao gồm:
-
Tâm lý học và vấn đề nhân cách người làm báo
Tâm lý học trong hoạt động sáng tạo của nhà báo
Tâm lý học ứng dụng trong hoạt động giao tiếp, ứng xử của nhà báo
Tâm lý học trong hoạt động tiếp nhận của công chúng đối với tác
phẩm, sản phẩm báo chí
- Tâm lý học trong quản lý báo chí
ý của công chúng với kênh truyền thông đại chúng, từng sản phẩm báo chí,
từng bài báo, đoạn tin, hình ảnh, âm thanh.
V. Một số đặc điểm của quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí :
Đặc điểm thứ nhất : Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí là tích hợp
tâm lý cá nhân và tâm lý các nhóm công chúng báo chí cụ thể. Đặc điểm này
có một hệ quả là xu thế công chúng vừa không muốn bị áp đặt trong tiếp nhận
thông tin, vừa muốn thăm dò xem những nhận định của mình có phù hợp với
dư luận chung hay không.
Đặc điểm thứ hai : Tâm lý tiếp nhận của công chúng báo chí gắn bó
chặt chẽ với các kênh thông tin và các hình thức trao đổi thông tin trong
nhóm, cộng đồng xã hội.
Đặc điểm thứ ba : Tính thống nhất trong tiếp nhận các sản phẩm báo
chí và tác phẩm báo chí.
4
Đặc điểm thứ tư : Tâm lý tiếp nhận có tính đặc thù với các loại hình
báo chí khác nhau.
VI. Khái niệm hình ảnh:
Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó
được chuyển về não, giúp ta cảm nhận được hình ảnh đó một cách chân thực
nhất từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta thu nhận
*Đặc điểm của hình ảnh :
- Hình ảnh là thông tin, là sự kết hợp giữa yếu tố thông tin và yếu tố
nghị luận.
- Hình ảnh là sự tác động tương hỗ giữa ngôn ngữ hình ảnh và phát
thanh.
- Hình ảnh phản ánh con người, sự việc, hiện tượng trong trạng thái
động.
- Hình ảnh mang tính chất tài liệu xác thực.
các loại báo còn lại đều chú trọng và sử dụng rất nhiều đến ảnh báo chí.
* Ảnh tĩnh : Ảnh tĩnh chủ yếu dùng để miêu tả sự vật, quang cảnh nào
đó, hoặc chụp chân dung, thường dùng để miêu tả các sự kiện, khai mạc, triển
lãm.
Trong báo in, chủ thể trong ảnh tĩnh không có bất kỳ sự chuyển động nào
trong khi được chụp.
*Ảnh động : Là ảnh dùng để phản ánh tâm tư, tình cảm, chuyển động
của một sự vật, hiện tượng nào đó, được thể hiện thông qua một vấn đề, một
sự kiện.
+ Ảnh động trong bảo in là để chỉ chủ thể trong ảnh khi được chụp đang
thực hiện một cử chỉ, một chuyển động nhất định, làm cho bức ảnh trở nên
sống động.
+ Ảnh động được sử dụng trong video clip hay báo đa phương tiện, còn
có thể hiểu là một bức ảnh có những chuyển động thật, gần giống một clip
ngắn, tuy nhiên không có âm và dung lượng rất nhẹ, nhờ sự trợ giúp của công
nghệ.
Ảnh dữ liệu sử dụng trong báo chí là những ảnh được đưa vào mang tính
chất minh họa để giúp khán giả hình dung rõ hơn về vấn đề đang được nói tới.
6
B. Thực tiễn
I. Báo in
1. Khái niệm báo in:
Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền
thông không thể thiếu của đời sống xã hội. Đến nay, có rất nhiều quan niệm
khác nhau về báo in.
Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng (Phó chủ nhiệm Khoa Báo chí- Học viện
Báo chí & Tuyên truyền): “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định
điện tử được sử dụng để lưu và trải nghiệm nội dung đa phương tiện. Đa
phương tiện được phân biệt từ đa phương tiện hỗn hợp trong mỹ thuật; chẳng
hạn với âm thanh nó có phạm vi rộng lớn hơn.
Sau này, trong sử dụng thường ngày, thuật ngữ đa phương tiện dùng để
chỉ sự kết hợp điện tử phương tiện truyền thông gồm video, ảnh tĩnh, âm
thanh và văn bản theo cách có thể được truy cập tương tác.
2.2.Tính đa phương tiện của báo in.
Là loại hình báo chí ra đời đầu tiên nên tính đa phương tiện của báo in
gần như là không có. Tính đa phương tiện bao gồm sự kết hợp ít nhất của hai
trong những thành phần sau trở lên: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa
(still image & graphic), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất
đó chính là các chương trình tương tác (interative program). Nếu đúng theo
như vậy để có thể tạo thành một sản phẩm báo chí đa phương tiện thì báo in
không có những thành phần như: hình ảnh động (video & animation) và gần
đây nhất đó chính là các chương trình tương tác (interative program). Cái tốt
nhất và duy nhất báo in có thể đáp ứng và thể hiện được tính đa phương tiện
đó chính là sự kết hợp của 2 thành phần chủ yếu đó là văn bản (text), hình ảnh
tĩnh và đồ họa (still image & graphic). Vì phương thức thể hiện của báo in đó
là trên các trang giấy nên tất cả những thành phần ảnh động, video clip hay
các chương trình tương tác là không thể.
Chính vì vậy mà báo in là loại hình báo chí có tính đa phương tiện kém nhất.
Khác so với phát thanh và loại hình báo chí gây ấn tượng nhất hiện nay
là báo mạng điện tử, thì báo in không thể nào có khả năng tích hợp được âm
8
thanh (audio). Chính vì vậy mà báo in ngày càng kém hấp dẫn, thu hút hơn so
với hai loại hình báo chí trên bởi độc giả không chỉ đọc, tiếp nhận thông tin
một cách đơn thuần bằng mắt mà họ có thể được nghe thêm những thông tin
bên lề xung quanh những thông tin chính. Ngoài việc cung cấp thông tin
các loại hình báo chí hiện tại. Điều đó làm giảm đi đáng kể một lượng lớn
công chúng đón đọc và tiếp nhận báo in vì nó rất đơn điệu và không gây ấn
tượng lớn.
3. Hình ảnh tĩnh và động trên báo in
3.1.Khái niệm
Ảnh tĩnh : Ảnh tĩnh chủ yếu dùng để miêu tả sự vật, quang cảnh nào đó,
hoặc chụp chân dung, thường dùng để miêu tả các sự kiện, khai mạc, triển
lãm.
Trong báo in, chủ thể trong ảnh tĩnh không có bất kỳ sự chuyển động nào
trong khi được chụp.
Ảnh động : Là ảnh dùng để phản ánh tâm tư, tình cảm, chuyển động của
một sự vật, hiện tượng nào đó, được thể hiện thông qua một vấn đề, một sự
kiện.Ảnh động trong bảo in là để chỉ chủ thể trong ảnh khi được chụp đang
thực hiện một cử chỉ, một chuyển động nhất định, làm cho bức ảnh trở nên
sống động.
3.2.Vai trò của hình ảnh trong một bài báo.
Nội dung của bài viết sẽ tăng được sự chú ý của bạn đọc nếu có bức ảnh
có chất lượng cộng với tít hấp dẫn phù hợp, đúng nội dung. Bao giờ ảnh, tít
dẫn và nội dung bài viết cũng có mối quan hệ mật thiết tạo nên sức mạnh bổ
trợ cho nhau tạo thành một tác phẩm báo chí hoàn hảo, có chất lượng tốt.
Nếu báo mà không có một tấm ảnh nào mà chỉ toàn chữ với chữ thì số
báo đó sẽ trở thành một quyển sách khổ lớn chứ không phải là một số báo.
Những bức ảnh sẽ có ít giá trị nếu không có sự đóng góp của nội dung bài báo
được đặt ở vị trí thích hợp. Bức ảnh không chỉ bổ sung thông tin cho bài viết
mà còn góp phần làm tăng giá trị thẩm mĩ của trang báo.
Nhìn chung, ảnh báo chí luôn góp phần quan trọng không những làm hấp
dẫn người đọc mà còn góp phần vào việc cung cấp thông tin bổ sung cho từng
10
13
II. Báo đa phương tiện
1. Khái niệm báo đa phương tiện
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự bùng nổ của internet đã tác động
mạnh mẽ đến đời sống xã hội của con nguời và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát
triển của báo chí thế giới.
Trong thực tế, khi một phương tiện truyền thông mới ra đời, người ta
thường quan tâm và nhắc nhiều đến sự “tồn tại” của các phương tiện truyền
thông truyền thống. Tuy nhiên, với xu thế hội tụ truyền thông mạnh mẽ như
hiện nay, các phương tiện truyền thông truyền thống và truyền thông mới lại
có xu hướng cùng tích hợp, tương tác và hỗ trợ nhau, bằng những phương
thức đa dạng và phức tạp hơn trước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hội tụ truyền
thông không có nghĩa là sự cộng dồn một cách máy móc các loại hình báo chí
trong cùng một cơ quan, mà thực chất trước xu thế hội tụ, một tòa soạn sẽ
phải cấu trúc, sắp xếp lại để trở thành một “guồng máy” sản xuất tin tức đáp
ứng các thị hiếu của công chúng hiện đại.
Trước đó, các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát thanh, truyền
hình) phát triển tương đối độc lập, mỗi loại hình có những ưu thế riêng không
bị lấn át. Nhưng internet ra đời kéo theo sự ra đời của báo mạng, thông tin
được cung cấp cho công chúng theo hình thức đa phương tiện sinh động, hấp
dẫn hơn và đang là sự lựa chọn số 1 của lớp công chúng trẻ và tiếp tục ảnh
hưởng tới lớp công chúng kế cận Tương lai báo chí thuộc về truyền thông
đa phương tiện (đi cùng sự phát triển của internet)
Có thể hiểu, “multimedia” hay “truyền thông đa phương tiện” là sự kết
hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương
thức tương tác khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện, một vấn
đề một cách đa diện, mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện
thuyết phục nhất và đầy đủ thông tin nhất. Đối với ngành báo chí nói riêng,
khác, chúng ta cũng không thể quên được rằng, mỗi bức ảnh tư liệu, tự nó đã
chứa đựng những giá trị tư liệu nhất định về lịch sử, văn hóa, đất nước và con
người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với tất cả những gì đã thuộc về quá
khứ, những sự việc, sự kiện đã trở thành lịch sử. Chẳng hạn như hình ảnh Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập; những người lính phất cao cờ đỏ
sao vàng trên nóc hầm Đờ Cátxtri; B52 Mỹ cháy trên bầu trời Hà Nội, v.v. Đó
là những hình ảnh mà lưu lại những khoảnh khắc lịch sử, ko ai có thể phủ
nhận.
17
Một số đoạn video ví dụ:
/> />
Sử dụng ảnh minh họa ngay trong chương trình
18
Ảnh minh họa quy trình cấp sổ hộ khẩu, giúp người xem hình
dung rõ hơn
Số liệu: Gần đây theo một số khảo sát thì có tới hơn 70% số người trả lời
sẽ chọn các loại hình báo chí đa phương tiện để tiếp cận thông tin báo chí và
chỉ khoảng 30% số người còn lại lựa chọn báo in.
Có thể dễ dàng hiểu được vì sao số lượng lại chênh lệch như vậy. Ngày
nay, trong xu thế thời đại, đa phần mọi người thường bận rộn với công việc
của mình, ít ai có thể dành thời gian để ngồi đọc một tờ báo in. Trong khi đó
báo mạng lại đáp ứng được nhu cầu của người đọc, chỉ với một chiếc điện
thoại hay máy tính xách tay có thể kết nối 3G hoặc internet là độc giả có thể
đọc bất cứ bài báo nào mình quan tâm.
giúp công chúng chuyển từ dạng tiếp nhận cảm tính các hình ảnh hấp dẫn trên
20
báo sang kiểu tiếp nhận mang hình thức lý tính với các sự kiện, các vấn đề
chính trị- kinh tế- xã hội được trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết. Qua nghiên
cứu gần đây của một số tác giả về việc tổ chức nội dung và trình bày trên báo
in thì các tờ báo, tạp chí như : Lao động, Thanh niên, Tuổi trẻ,.. có khả năng
thu hút và tác động đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc theo chiều sâu và
tạo ra hiệu ứng lan truyền ở phạm vi rộng, đều do đã đáp ứng được một cách
cơ bản những đòi hỏi trong quy luật : tạo hấp dẫn cho hành vi xem, chuyển
nhanh một cách có hiệu quả sang hành vi đọc bằng các thông tin phù hợp với
nhu cầu và thị hiếu của công chúng đã nêu trên đây.
Nếu công chúng đã tiếp cận được một cách tương đối đầy đủ các nội
dung thông tin trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết thì sự tác động của các
thông tin báo chí đến hoạt động tiếp nhận của công chúng là đáng kể. Bởi lẽ,
tính tích cực trong tiếp nhận thông tin báo in chỉ có thể thể hiện ra ngoài bằng
hành vi đọc chứ không phải hành vi xem. Khi đọc báo, người đọc buộc phải
liên tưởng, dư duy lô-gic vì chính ngôn ngữ viết mang cấu trúc của tư duy lôgic, với các khái niệm và các phán đoán được sắp xếp theo quy luật của tư
duy lô-gic. Do đặc điểm này mà báo in có khả năng cạnh tranh cáo với các
loại hình báo chí khác trong xu thế phát triển mạnh của báo chí điện tử ngày
nay. Thế mạnh của thông tin phân tích và thông tin thẩm định mang khả năng
dự báo cao sẽ tạo ra sự cuốn hút đặc biệt cho các sản phẩm báo in.
Như vậy, cảm giác ngại và chán của người đọc khi tiếp cận với các báo,
tạp chí thường xuất hiện trong hai trường hợp : hoặc là lập tức phải đối diện
với hành vi đọc mà không có hành vi xem làm điểm khởi đầu là trung gian ;
hoặc là bội thực hành vi xem, không tạo ra sự cuốn hút và tính tích cực trong
tư duy người đọc. Và xét cho cùng, muốn tạo ra hiệu quả tiếp nhận cho công
chúng với các sản phẩm báo in, loại hình báo chí có khả năng đem đến cho
công chúng khả năng tiếp nhận các thông tin báo chí theo kiểu thị giác có sự
mức độ cao, thể hiện ưu thế của báo in so với một số loại hình công chúng
khác. Chính mức độ đọc này làm cho khả năng tác động đến công chúng báo
in là sâu sắc, chính xác, nhiều góc độ và có hệ thống, từ đó tác động đến quan
22
điểm, thế giới quan, nhân sinh quan, định hướng giá trị, lý tưởng, niềm tin của
công chúng.
Kết luận
Trên đây là một số ý kiến của nhóm về vấn đề “Phân tích tâm lý tiếp
nhận của công chúng khi xem ảnh tĩnh ở báo in, ảnh dữ liệu trong video clip,
báo đa phương tiện”, với vai trò là một sinh viên ngành ảnh báo chí, việc tìm
hiểu và nghiên cứu các hướng đi của ảnh bảo chí là một trong những vấn đề
cần làm và cần phải hiểu rõ. Đặc biệt để trở thành một phóng viên ảnh phải
biết người đọc cần gì và cái gì là cần đối với họ. Việc chụp một bức ảnh sao
cho người xem có cảm giác thích thú khi nhìn vào đó, tuy nhiên vẫn phải đảm
bảo được ý tưởng muốn truyền đạt qua ảnh đòi hỏi người chụp phải am hiểu
về tâm lý tiếp nhận của người đọc. Điều này nhóm đã phân tích và đưa ra một
vài ví dụ trực tiếp để chứng minh.
Trong quá trình làm bài, do kiến thức còn hạn chế và chưa có điều kiện
tiếp cận với nhiều tài liệu nên có thể còn gặp nhiều khiếm khuyết. Kính mong
nhận được những ý kiến đánh giá của các thầy, cô.
Xin chân thành cảm ơn.
23
Tài liệu tham khảo:
Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo-PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng, Nxb