MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia lớn
đều gặp phải. Ở nước ta việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước là một vấn đề
nhạy cảm , bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác
động đến sự phât triển bề vững của mỗi quốc gia. Ở nước ta mức độ thâm hụt ngân
sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng
như tới toàn bộ nền kinh tế.
Vậy thâm hụt ngân sách là gì. Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở
Việt Nam trong 5 năm gần đây như thế nào. Giải pháp nào để xử lý thâm hụt
NSNN ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về
phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm pháp hiện nay. Bài
thảo luận này sẽ giải quyết mọi vấn đề vừa đặt ra.
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH, NGUYÊN NHÂN
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH TỚI NỀ KINH TẾ.
I.KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 ,Ngân sách nhà nước
Ngân sách Nhà nước là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của
Chínhphủ, bao gồm các khoản thu ( chủ yếu từ thuế ) và các khoản chi ngân sách .
-Trạng thái của ngân sách chính phủ :
B=T-G
B = t.Y - G
B = 0 hay T = G -> Ngân sách cân bằng
B > 0 hay T > G -> Bội thu ngân sách ( thặng dư )
B < 0 hay T < G -> Bội chi ngân sách ( thâm hụt )
2 , Thâm hụt ngân sách Nhà nước
-Thu ngân sách Nhà nước: được hình thành từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ
hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên cuả quốc
gia; các khoản viện trợ trong và ngoài nước; các khoản thu khác theo quy định của
pháp luật.
Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới
về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. Ở giai đoạn
kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng
tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu
kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
1.2 Do hậu quả các tác nhân gây ra Xã hội luôn phải đối mặt với những rủi ro thiên
tai, dịch bệnh và đôi khi cả những rủi ro do chính con người gây ra như chiến tranh,
khủng bố tình trạng dân số gia tăng…mặc dù khi lập dự toán ngan sách các quôc
gia đã có những biên pháp dự phòng nhưng đôi khi rủi ro vượt ra ngoài dự đoán để
xử lý các tình trạng khản cấp nhắm ổn định các hoạt dộng kinh tế xã hội, nhà nước
phải tăng chi và thâm hụt ngân sách sảy ra ngoài mong muốn của nhà nước.
2 Nhóm nguyên nhân chủ quan :
2.1 Do cơ cấu thu chi ngân sách thay đổi Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy
mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực
hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ
giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là
bội chi cơ cấu.
2.2 Do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lý:
2.2.1 Thất thu thuế nhà nước thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân
sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà
nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự
quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế,
gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, việc giãn
thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn
đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc
chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách
nhà nước.
2.2.2 Đầu tư công kém hiệu quả
phát.
III. TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
1.Thâm hụt ngân sách và vấn đế thoái lui đầu tư: Theo “Thuyết tương đương” của
Ricardo khi có tình trạng thâm hụt ngân sách thì tiết kiệm của dân chúng tăng lên
bằng mức thâm hụt. Vì thế sẽ không ảnh hưởng đến lãi suất, không gây cản trở đầu
tư. Tuy nhiên, qua thực tế ở nhiều nước khi ngân sách nhà nước thâm hụt, chi tăng,
thu giảm, GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân, nhu cầu về tiền tăng theo. Với mức
cung tiền cho trước, lãi suất sẽ tăng lên, bóp nghẹt một số đầu tư. Kết quả là một
phần GNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt cao, kéo theo thoái lui đầu tư với
quy mô nhỏ nếu trong ngắn hạn và quy mô lớn nếu trong dài hạn. Từ đó làm giảm
sự tăng trưởng kinh tế.
2. Thâm hụt NSNN – một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát: “Lạm phát là
sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.” Khi ngân sách thâm hụt lớn,
chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một
nguyên nhân gây ra lạm phát. Khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy
sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Mà tác
hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu
nhiên, gây biến dạng về cơ cấu sản xuất và làm việc trong nền kinh tế... Như vậy,
nghĩa là thâm hụt NSNN gián tiếp gây ra các tác động trên làm tổn hại đến nền
kinh tế. Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động ngược đến thâm hụt ngân sách nhà
nước. Với tác động phân phối lại của cải một cách ngẫu nhiên thì lạm phát cũng
làm dễ dàng hơn cho chính phủ trong một chừng mực nhất định: Thứ nhất, Chính
phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát. Thứ hai, Chính phủ có thể
được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng ít hơn bản thân của lạm
phát. Và như vậy bản thân mức thâm hụt NSNN có thể giảm.
3. Hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong khoản giao dịch còn gọi là cán cân
thương mại. Các hoạt động xuất và nhập hàng hóa không chỉ được đánh giá thông
4
B
Chi tiêu
Tổng thu cân
đối nsnn
Tổng thu nội
địa
Thu từ dầu
thô
Thu cân đối
từ hoạt động
XNK
Thu viện trợ
Thu khác
Quyết đoán
Năm
Năm
2010
2011
777.283 962.982
377.030
443.731
Năm
2012
1.038.45
1
85.200
93.000
155.765
107.104
129.385
154.000
175.000
12.103
241.178
10.267
303.568
11.124
255.716
4.500
4.500
10.000
Thực hiện thời hạn nộp thuế quý đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất, da công dệt may, da , dầy chính
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Dự
toán
Dự
toán
Dự
toán
Dự
toán
Quyết
toán
Quyết
toán
Quyết
toán
Quyết
toán
nợ và
viện
trợ
Chi
thưởng
xuyên
Chi cải
cách
tiền
lương
Chi bổ
sung
quỹ dự
chữ tài
chính
Dự
phòng
Chi
khác
582.2 850.8
00
74
725.6
00
1.034.2
44
105.838 105.0 205.5
00
70
120.00
0
150.000
335.5 376.6
60
20
442.1
00
467.017 542.0
00
603.372 658.9 704.1
00
65
704.40
0
767.000
35.49 20.29
0
18.40
0
181.7
50
903.1
00
1.170.9
27
21.70
0
222.763
78.00 1.277.
0
710
253
23.40
0
179.866
181.8
41
2011
2012
2013
2014
2015(ước tính)
777.283
962.982
1.038.451
1.084.064
782.700
911.100
850.874
1.034.244
1.170.924
1.277.710
1.006.700
1.147.100
109.191
112.034
173.815
236.769
224.000
226.000
Tỷ lệ bội
chi NSNN
so với GDP
– Lạm phát do cầu kéo hay là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng
hoá và dịch vụ. Khi tổng cầu hàng hoá và dịch vụ có khả năng thanh toán lớn hơn
tổng cung hàng hoá và dịch vụ, đã đẩy giá tăng lên để thiết lập một sự cân bằng
mới trên thị trường, trong đó tổng cung bằng tổng cầu. Lạm phát phụ thuộc vào độ
co dãn của giá cung hàng hoá và dịch vụ. Cung hàng hoá và dịch vụ có thể tăng
nhanh do tăng giá một chút nếu độ co dãn của giá là lớn. Một mặt, nếu các cơ sở
sản xuất đang hoạt động thấp hơn công suất hiện có và còn nhiều công suất sản
xuất chưa được sử dụng, cung hàng hoá sẽ tăng nhờ tác động tăng cầu hàng hóa và
có thể không gây ra lạm phát.
– Lạm phát (chi phí đẩy) xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài tác động
vào không gắn với tình hình tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Như chúng ta
đều biết, ở hầu hết các nước đang phát triển thường phải nhập một lượng lớn
nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, nếu giá của những loại nguyên
vật liệu này trên thị trường thế giới tăng lên làm cho chi phí sản xuất các sản phẩm
sẽ tăng lên và để tồn tại, buộc các nhà sản xuất phải đưa giá bán trên thị trường
trong nước tăng lên theo.
Như vậy, với nguyên nhân gây ra lạm phát nêu trên, bội chi NSNN nằm trong yếu
tố cơ cấu và tiền tệ, đôi lúc cả trong yếu tố cầu kéo. Thực tế, một công cụ chính
sách trọng tâm trong việc thay đổi mức tổng cầu và cán cân ngoại thương là việc
giảm thâm hụt ngân sách. Chính sách ngân sách hạn chế giống như là giảm mức giá
với bất kỳ giá nào trong một cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng. Có hai dạng tác
động của chính sách tài chính lên tổng cầu là tác động trực tiếp do thay đổi chi tiêu
chính phủ và tác động gián tiếp do thay đổi cán cân tài chính trong chi tiêu khu vực
tư nhân và/hoặc hàng nhập khẩu sẽ bị thay đổi do tác động trực tiếp do giảm chi
tiêu khu vực công cộng thông qua việc thay đổi loại hàng hoá thương mại và phi
thương mại.
Hơn nữa, ở các nước đang phát triển, chi tiêu khu vực tư nhân liên quan mật thiết
đến chi tiêu khu vực công cộng và thường xuyên có sự bổ sung hỗ trợ mạnh mẽ
trong sự hình thành vốn tư nhân và vốn nhà nước. Do vậy, chúng ta có thể tập trung
chú ý vào chi tiêu công cộng. Tổng cầu sẽ giảm, nếu giảm chi tiêu công cộng. Kết
1.277.710
236.769
6,6%
2014
782.7
1.006.700
224
5,3%
2015(ước tính)
911.1
1.147.100
226
5,0%
(Nguồn: Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính)
(Nguồn: Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính)
Năm 2011 được xem là năm nhà nước thay đổi công tác điều hành, ngay từ
đầu năm Chính phủ đã ban hành và triển khai quyết liệt Nghị quyết 11 nên kết quả
thu ngân sách năm 2011 vượt kế hoạch 21,3%. Về chi, theo báo cáo của Chính phủ,
tổng số chi 1.034.244 tỷ đồng. Nhờ tăng thu NSNN nên đã giảm bội chi từ 5,3%
GDP theo Nghị quyết của Quốc hội xuống còn 4,4%, đây là một động thái tích cực.
Tuy nhiên, mặc dù giảm bội chi song các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu
hụt nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả giảm bội chi không có nhiều ý nghĩa về tài
khoá.
Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 theo báo cáo quyết toán là
173.815 tỷ đồng (5,36% GDP). Theo đó, tổng thu NSNN năm 2012 là 1.038.451 tỷ
đồng, tăng 1,9% so với dự toán, Tổng chi NSNN năm 2012 là 1.170.924 tỷ đồng,
tăng 8,3% so với dự toán. Chi thường xuyên vẫn còn lãng phí, chi sai chế độ quy
kinh tế còn yếu đã gây ra tình trạng bội chi NSNN. Thêm vào đó là tình trạng tồn
kho, đặc biệt là tồn kho bất động sản và vật liệu xây dựng lớn.Sức cạnh trang hàng
hóa ngày càng khắc nghiệt và chịu sự tác động của các yêu tố mang tính toàn cầu
như suy giảm luồn vốn FDI, suy thoái kinh tế toàn cầu và khủng hoảng tài chính.
Mặt khác do dự toán xây dựng cao so với khả năng thực thiện đã gây ra tình
trạng bội chi vỡ kế hoạch vào năm 2013; Ngoài ra, năm 2013 chính phủ thực hiện
các chính sách miễn giảm thuế để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nên
cũng góp phần làm giảm số thu NSNN. Thêm vào đó, mức tăng trưởng kinh tế tuy
cao hơn hẳn năm 2012 nhưng vẫn chưa đạt kế hoạch; việc hoàn thiện thể chế
chính sách về thâm hụt NSNN còn có chỗ chưa chặt chẽ.Việc quản lý điều hành
cũng có lúc chưa hiệu quả nên một số đối tượng lợi dụng, gian lận và trốn lậu
thuế.
Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra là 224.000 tỷ
đồng, bằng 5,3% GDP. Tổng thu cân đối ngân sách năm 2014 là 782.700 tỷ đồng.
Trong đó, thu nội địa chiếm 539.000 tỷ, từ dầu thô 85.200 tỷ, thu cân đối từ hoạt
động xuất nhập khẩu 154.000 tỷ và thu viện trợ là 4.500 tỷ. Bên cạnh đó, mức chi
dự toán được đưa ra là 1,0067 triệu tỷ đồng, bao gồm: chi đầu tư phát triển là
163.000 tỷ, chi trả nợ và viên trợ là 120.000 tỷ, chi phát triển sự nghiệp là 704.400
tỷ. Dự toán bội chi ước đạt 5.3%GDP.
Nguyên nhân một phần do kinh tế toàn cầu đã bước vào giai đoạn ổn định
hơn dù tốc độ tăng trưởng vẫn còn thấp. Thị trường tài chính bớt rủi ro hơn mặc
dù vẫn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế đang phát triển do
việc các nền kinh tế phát triển sẽ rút bỏ dần các biện pháp nới lỏng định lượng;
Tình hình lạm phát nhìn chung vẫn được kiểm soát do giá cả hàng hóa quốc tế
đang có xu hướng giảm. Đối với trong nước: Bên cạnh sự phục hồi của nền kinh
tế; các chính sẽ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh thúc đẩy tổng cầu
trong năm 2013 đã phát huy tác dụng và tiếp tục có ảnh hưởng tích cực trong năm
2014; dòng vốn được khơi thông sẽ đẩy nhanh hơn tốc độ phục hồi sản xuất; Quá
địa phương trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước.
Về chi tiêu thường xuyên, cũng nên rà soát lại tất cả các khâu hoạt động để tổ
chức lại bộ máy cho hợp lý hơn, đồng thời cắt giảm các khoản chi chưa thật cần
thiết để tập trung nguồn lực cho các công tác khác quan trọng và cấp thiết hơn.
Kiểm soát bội chi NSNN và triệt để thực hiện chính sách có thu mới chi, không để
bội chi NSNN tăng cao, nếu cần thiết nên giảm tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP
dưới mức 5%, tức là nên ở khoảng 3-4%. Đồng thời, tiến tới tính toán cân đối các
nguồn phát hành trái phiếu, công trái giáo dục một cách hiệu quả hơn, nếu chưa
thật cần thiết hoặc chưa đủ thủ tục thì nên cắt giảm.
4. Kết luận
Nhìn lại toàn bộ quá trình nhiều năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa bội chi NSNN
với lạm phát có thể rút ra một số kết luận sau:
– NSNN có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu thâm hụt NSNN quá mức có
thể dẫn đến lạm phát cao. Đặc biệt, nếu bù đắp thâm hụt NSNN bằng việc phát
hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát.
– Tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ kích thích đầu
tư phát triển và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa đến tăng trưởng cao. Tuy nhiên, nếu
tăng chi quá mức cho phép, tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt NSNN quá
cao và để bù đắp thâm hụt này phải đi vay nợ quá lớn thì sẽ đưa đến gánh nặng nợ.
Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng (kích cầu quá mức) thì ở chu kỳ sau sẽ kéo
theo lạm phát, mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư phát triển và giảm đầu tư phát
triển kéo theo giảm tăng trưởng. Như vậy, thực tế ở đây là cần có liều lượng của chi
tiêu NSNNở mức cho phép nhằm đẩy đầu tư phát triển tăng lên và tiếp theo là đưa
tăng trưởng kinh tế lên cao mà không kéo theo lạm phát cao.
Chương III: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN
SÁCH VIỆT NAM
I – CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, tùy theo bối cảnh, tình hình kinh tế
+Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản
lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập. Một
nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công
là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ
ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách
quan. Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một
cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu
tư nhất định nào đó
+ Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu, Chính
phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách
phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ
dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay
+Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản. Áp
dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân
sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình
đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh.
2.Vay nợ trong nước
+ Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành
công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà
nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các
dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và các ngân hàng.
+ Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát hành
trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu
công trình. Đây là biện pháp cho phép Chính phủ có thể duy trì việc thâm hụt
ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế. Vì
vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.
3.Sử dụng dự trữ ngoại tệ
+ Về bản chất, dự trữ ngoại tệ là tài sản Nhà nước, hình thành từ việc mua
nước được đáo ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh
thêm các gánh nặng nợ nần. Nhưng nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất
nhiều lần. Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền.
Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi.
II- NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RATRONG VIỆC XỬ LÝ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ
1.Những vấn đề đặt ra trong việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Nhà nước ta đã và đang có nhiều chính sách kiểm soát thâm hụt ngân sách nhà
nước tuy chỉ ở giới hạn cho phép và nguồn vay chủ yếu chi đầu tư phát triển nhưng
cũng phần nào giảm thiểu được mức thâm hụt ngân sách đáng kể trong những năm
qua. Ngoài ra, chúng ta cũng tích luỹ được 1 phần từ nguồn thu thuế , phí, lệ phí chi
đầu tư phát triển. Đây là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác
quản lý cân đối NSNN cũng như kiểm soát vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, trong quá trình xử lý thâm hụt NSNN, đặc biệt trong tình hình hiện nay
khi vấn đề lạm phát đang gây ra những khó khăn rất lớn cho nền kinh tế và đời
sống nhân dân, chúng ta cần lưu ý đến những vấn đề sau trong việc xử lý thâm hụt
ngân sách:
Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế
quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp. Điều này được thể hiện qua việc
chúng ta chỉ vay để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng
cấp trên bổ sung ngân sách, cả 2 trường hợp đều tạo áp lực thâm hụt NSNN.
Hiện nay các địa phương vay vốn để đầu tư tương đối lớn nhưng chưa được
quản lý 1 cách chặt chẽ. Với nhiều địa phương đây là điều kiện để tăng
cường cơ sở vật chất, tạo điều kiên phát triển kinh tế. Điều đáng lưu ý là
trong khi nguồn vốn ngân sách hiện có chưa tận dụng hết các địa phương vẫn
tiến hành vay vốn, tỷ lệ vay vốn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi đầu tư
phát triển. Mặt khác còn 1 số khoản vay không cân đối vào ngân sách tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương tạo nên khoản thu chi ngoài ngân sách và
khi đến hạn, ngân sách địa phương không có nguồn để thanh toán gốc và lãi.
Thực chất các khoản vay của ngân sách địa phương chính là thâm hụt NSNN. Một
trong những nguyên tắc quản lý NSNN ở Việt Nam là tuân theo nguyên tắc thống
nhất, tổng thể NSNN bao gồm ngân sách các cấp. điều đó đòi hỏi các khoản thâm
hụt của ngân sách địa phương phải được tổng hợp để tính thâm hụt NSNN. Tuy
nhiên khi vay, các địa phương phải cân đối ngân sách nên không thể hiện đầy đủ
khi thâm hụt quyết toán NSNN . Mưc thâm hụt NSNN hằng năm trình quốc hội
mới chỉ phản ánh được mức thâm hụt của ngân sách trung ương. Đay là một trong
những mắt xích cần phải được giải quyết trong việc xử lý thâm hụt NSNN.
1. Kiến
nghị
Để giải quyết tổng thể vấn đề thâm hụt NSNN ở Việt Nam chúng ta cần phải
có những đề xuất những giải pháp cần thiết:
Một là tập trung các khoản vay do Trung ương đảm nhiệm. Các
nhu cầu đầu tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ
sung từ ngân sách cấp trên. Thực hiện như vậy tránh được đầu tư
tràn lan, kém hiệu quả và để tồn ngân sach quá lớn và quản lý chặt
chẽ số thâm hụt NSNN. Hiện tại, chúng ta đang đứng trước mâu
thuẫn giữa nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển với nguồn lực hạn
thống nhất và đa số các địa phương trông chờ chủ yếu vào ngân
sách trung ương do vậy suy cho cùng, các khoản nợ của ngân sách
địa phương sẽ là gánh nợ của NSNN trong khi việc đầu tư lại tràn
lan, kém hiệu quả.
C. KẾT LUẬN
Thâm hụt ngân sách nhà nước là vấn đề nóng của mỗi quốc gia trong đó có Việt
Nam . Thâm hụt NSNN chính là nguyên nhân gây nên tác động tiêu cực tới đời
sống của người dân và làm mất cân bằng vĩ mô nền kinh tế thoái lui đầu tư , thâm
hụt cán cân thương mại,… Bên cạnh đó còn có một mối liên hệ chặt chẽ đến hiện
tượng lạm phát. Do đó, việc nghiên cứu kỹ về thâm hụt NSNN là hết sức cần thiết.
NSNN là một công cụ điều tiết vĩ mô rất hệu quả và quan trọng . Thông qua đó mà
Nhà nước thữ hiện các chức năng, nhiệm cụ của mình như điều tiết hướng dẫn thị
trường , địnhn hướng đầu tư , đảm bảo công bằng xã hội , ổn định và tăng trưởng
kinh tế.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
•
•
•
•
•
•
Giáo trình kinh tế vĩ mô
Trang web Bộ tài chính www.mof.gov.vn
http://doc.edu.vn/tai-lieu/tieu-luan-tham-hut-ngan-sach-nha-nuoc-o-viet-namthuc-trang-va-giai-phap-19890/
http://tailieu.vn/doc/tieu-luan-tham-hut-ngan-sach-tiet-kiem-quoc-gia-va-tangtruong-kinh-te-ben-vung-o-cac-nen-kinh-te--1654171.html
https://prezi.com/lmjgfb94ukx5/tham-hut-ngan-sach-nha-nuoc-o-viet-namgiai-oan-2010-2015/
http://kiemtailieu.com/tai-chinh-ngan-hang/tai-lieu/thuc-trang-tham-hut-ngansach-nha-nuoc-viet-nam/1.html
Năm 2012
Năm 2015
777.283
962.982
1.038.451
1.084.064
782.700
911.100
377.030
69.179
130.351
443.731
110.205
155.765
477.106
140.106
107.104
567.403
120.436