có hiệu quả cho DN, cần thiết phải đổi mới chính sách vốn đối với các doanh
nghiệp này theo hướng ưu đãi lai suất và khuyến khích thành lập các trung tâm hỗ
trợ vốn cho các DN:
-Ưu đai lai suất: như trên đa phân tích, lai suất tiền vay là khá cao đối với các
doanh nghiệp và càng cao đối với các DN. Tuy nhiên, do số lượng DN trong nền
kinh tế khá lớn, mà nguồn tài chính lại có hạn nên không thể ưu đai tất cả các
doanh nghiệp này. Do vậy, trong chính sách ưu đai vốn (khác với ưu đai thuế) cần
chọn đúng đối tượng thì với nguồn lực ít mới có thể hỗ trợ hiệu quả. Chỉ nên ưu
đai lai suất cho các doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh hiệu quả, các doanh
nghiệp gắn với nhiệm vụ chiến lược và hỗ trợ cho các hoạt động đầu tư vào công
nghệ mới, sản xuất thử, nghiên cứu khoa học, đào tạo nghề, các hoạt động dịch vụ
tư vấn… Tuy nhiên, để có thể hỗ trợ được nhiều doanh nghiệp trong điều kiện
nguồn tài chính có hạn, cần phải có các giải pháp đặc biệt. Một trong những giải
pháp đó là trợ cấp lai suất cho đối tượng được hỗ trợ, tức là bù trênh lệch giữa lai
suất thị trường và lai suất ưu đai cho các DN vay.
-Thành lập các quỹ hỗ trợ: huy động các nguồn vốn để thành lập quỹ hỗ trợ DN.
Các nguồn đó có thể là: từ ngân sách Nhà nước trung ương, địa phương, từ các
doanh nghiệp lớn, từ các tổ chức trong và ngoài nước. Quỹ này có thể do Nhà
nước quản lý và cũng có thể thuê một trung tâm chuyên trách quản lý. Việc sử
dụng quỹ này do Nhà nước quản lý với sự nhất trí của nhà tài trợ thông qua trung
gian là người chuyên trách về vốn (thường là ngân hàng). Quỹ này hỗ trợ cho các
hoạt động như: đào tạo chủ doanh nghiệp, đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
trung tâm tư vấn cho doanh nghiệp , các hoạt động về cung cấp thông tin kinh tế,
khoa học, công nghệ… cần thiết cho các DN.
-Thành lập trung tâm bảo lanh: đối với các DN, một trong những khó khăn lớn
nhất là không có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng. Do đó cần tổ chức trung
gian làm cầu nối giữa doanh nghiệp và ngân hàng để tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp vay vốn. Một trong các hình thức đó là quỹ bảo lanh tín dụng vừa tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, vừa là hình thức ràng buộc chặt chẽ giữa
người vay (doanh nghiệp) và người cho vay (ngan hàng), tổ chức trung gian (các
d. Chính sách thuế:
Cần đổi mới chính sách thuế theo hai nội dung:
*Hệ thống thuế chung đổi mới theo các hướng:
-Đơn giản hóa hệ thống thuế suất , hạ mức thuế suất
-Tránh đánh thuế chồng chéo (sớm chuyển sang thuế GTGT)
-Cải cách cơ chế định – thu (nộp) – kiểm tra thuế theo hướng có sự độc lập giữa
các bộ phận này, có thể kiểm tra lẫn nhau.
-Thực hiện cơ chế tự khai báo mức thuế, Nhà nước kiểm định và doanh nghiệp
tự nộp thuế…
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
-Bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, đồng thời ưu tiên các doanh nghiệp trong nước hơn các doanh nghiệp nước
ngoài. Hiện nay có tình trạng trái ngược: các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoài có
nhiều ưu thế hơn, mạnh hơn thì chỉ nộp thuế lợi tức10-15% trong khi đó các doanh
nghiệp trong nước phải nộp thuế lợi tức tới 35-50%
*Chính sách thuế đối với DN: cần đổi mới theo hướng mở rộng đối tượng được ưu
đãi thuế, tăng mức độ ưu đai thuế, tăng mức độ ưu đai,…
-Mở rộng đối tượng được ưu đai: đến nay các chính sách thuế của Nhà nước, loại
đối tượng được ưu đai về thuế không nhiều, chỉ các doanh nghiệp mới thành lập
sau 1993 (mà phần lớn đa quá hạn 2 năm được ưu đai như luật định), các doanh
nghiệp ở vùng núi, hải đảom một số doanh nghiệp trong ngành chế biến nông sản.
Như vậy là trong chính sách ưu đai thuế chưa quan tâm đến sự yếu ớt của các
doanh nghiệp để hỗ trợ các doanh nghiệp này đứng vững và kinh doanh có hiệu
quả. Do đo trong chính sách thuế cần mở rộng đối tượng hơn nữa, như vậy mới
nuôi dưỡng được nguồn thu, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích lũy để
phát triển sản xuất, mở rộng qui mô.
-Tăng mức độ ưu đai cho các DN: thời gian qua, mức ưu đai đa tăng lên nhưng
vẫn còn rất dè dặt , chỉ miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp 1-2 năm, trong khi
mức ưu đai thuế ở nhiều nước là từ 4-5 năm. Hơn nữa mức giảm thuế còn thấp, số
đối tượng được miễn giảm thuế còn ít. Do đó, để các doanh nghiệp có tích lũy ban
thu nhập chịu thuế cho các doanh nghiệp (như dự thảo Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp )
b. Cung cấp thông tin:
Các DN đang rất thiếu thông tin về thị trường, công nghệ, luật pháp, kinh tế,
khách hàng, đối tác kinh doanh … Do đó cần thiết hỗ trợ thông tin cho doanh
nghiệp
Các giải pháp hỗ trợ thông tin có thể là:
-Thành lập các ngân hàng dữ liệu về các doanh nghiệp , về thị trường, công
nghệ, thể chế… để cung cấp hoặc bán cho doanh nghiệp với giá hợp lý.
-Phổ biến các thông tin về pháp luật , chính sách… thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng.
-Phổ biến kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức.
-Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các hội chợ triển am trong và
ngoài nước, kí kết hợp đồng kinh tế với các đối tác trong và ngoài nước.
-Tổ chức các câu lạc bộ để doanh nghiệp có thể trao đổi học tập kinh nghiệm
của nhau.
-Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng cơ sở dữ liệu và sử dụng các quản lý
thông tin hiện đại như máy vi tính, mạng thông tin,… để các doanh nghiệp có điều
kiện tiếp xúc các cơ sở dữ liệu hiện đại trong và ngoài nước.
c. Xây dựng cơ sở hạ tầng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
Cơ sở hạ tầng kinh tế là điều kiện cơ bản, là tiền đề rất quan trọng thúc đẩy phát
triển các doanh nghiệp. ở nhiều vùng trong cả nước, cơ sở hạ tầng như giao thông,
điện, nước kém phát triển. Đó là trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp. Đầu tư vào
cơ sở hạ tầng rất tốn kém, chậm thu hồi vốn và ít sinh lai nên các doanh nghiệp
không muốn đầu tư. Hơn nữa, các DN không đủ sức đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Do
đó rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo kinh nghiệm của các nước thì đây là một
trong những lĩnh vực hỗ trợ chủ yếu của Nhà nước. Tuy nhiên do ngân sách Nhà
nước trung ương và địa phương còn hạn chế nên cần:
-Đầu tư theo trọng điểm, tập trng vào các công trình mang lại hiệu quả kinh tế –