Doanh nghiệp Nhà nước và hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước - Pdf 74

Doanh nghiệp Nhà nớc và hiệu quả cho vay đối với
doanh nghiệp Nhà nớc
1.1 . Doanh nghiệp Nhà nớc và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.1. Khái niệm , đặc điểm và phân loại DNNN
1.1.1.1.Khái niệm, đặc điểm DNNN
Sau khi giành đợc độc lập nớc ta đi lên theo con đơng Xã hội chủ nghĩa, để phát
triển đất nớc chúng ta đã thành lập rất nhiều DNNN trong các lĩnh vc, DNNN là bộ
phận kinh tế giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong việc định hớng phát triẻn cho đất n-
ớc- vai trò chủ đạo đối với toàn bộ nền kinh tế.
Theo đièu 1 luật DNNN đựoc quốc hội thong qua ngày 26/11/2003 thì:"DNNN
là tổ chức kinh tế do Nhà nớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần chi phối, đợc
tổ chức dới hình thức công ty Nhà nớc, công ty cổ phần , công ty trách nhiệm hũu hạn
".
DNNN là những cơ sở kinh doanh do Nhà nớc sở toàn bộ hay một phần. Quyền
sở hữu thuộc về Nhà nớc là đặc bịêt DNNN với doanh nghiệp trong khu vực t nhân ,
còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm phân biệt chúng với các tổ chức cơ quan khác
của Chinh phủ.
Trên thực tế tiêu thức cụ thể về DNNN ở những nớc trên thế giới còn rất khác
nhau . Tuy nhiên có thể khái quát ra các đặc điểm chung sau đây.
_DNNN Nhà nớc chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp, nhờ đó Chính phủ có
thể gây ảnh hởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp.
_ Các doanh nghiệp đều đợc tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân.
_Nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt đông kinh doanh và th ờng phải thực hiên song
song cả mục tiêu sinh lợi và mục tiêu xã hội.
1.1.1.2. Phân loại DNNN
DNNN thờng đợc phân loại theo mức độ sở hữu và mục tiêu kinh tế xã hội
*Xét theo mức độ sở hữu, DNNN có hai loại:
_Loại DNNN chỉ có một chủ sơ hữu vốn duy nhất là Nhà nớc .
_Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn trong đó Nhà nớc giữ một phần sở hữu
nhất định.
*Xét theo mục tiêu kinh tế - xã hội, DNNN có hai loại:

biển... và cũng có thể triển khai mở rộng vào các ngành công nghiệp mới . DNNN theo
chế độ Nhà nớc tham dự ngày càng tỏ ra là loại hinh DNNN có hiệu quả.
1.1.2 Vai trò của DNNN đối với nền kinh tế
DNNN có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân :
Một là : DNNN là ngời cung cấp các sản phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nớc
va xuất khẩu. Với thể chế truyền thống các DNNN là nơi cung cấp tuyệt đại bộ phận
hàng công nghiệp tiêu dùng , t liệu sản xuất và dịch vụ . Ngay cả hiện nay rất nhiều
doanh nghiệp thuộc sở hữu khác mọc lên hàng loạt thì vai trò ấy của DNNN vai trò
là ngời cung cấp chủ yếu trên thị trờng cũng vẫn cha thay đổi . Nhìn vào các sản phẩm
và dịch vụ mà các DNNN sản xuất kinh doanh, ta thấy vùa có những sản phẩm là nền
tảng quan trọng có quan hệ tới quốc kế dân sinh , vừa có một bộ phận khá lớn là hàng
tiêu dùng và hang xuất khẩu . Trong kĩnh vực dịch vụ quan trong nh thơng nghiệp , và
tài chính các DNNN cũng chiếm tỷ trọng tuyệt đối.
Hai là : DNNN là cơ sở quan trọng nhất trong việc thực hiện hiện đại hoá. Trớc
hết sự cất cánh kinh tế cuă mỗi quốc gia không thể thiếu các ngành hạ tầng và không
thể xây dựng các công trình hạ tầng và việc xây dựng này thờng đòi hỏi nhng khoản
đầu t đồ sộ, chu kỳ dài, rủi ro lớn, thu hồi vốn chậm, hiệu quả xã hội rộng lớn. Do vậy,
những doanh nghiệp bình thờng không đủ sức làm và cũng không muốn làm . Trong
quá trình phát triển kinh tế chính nhờ nhũng DNNN gánh vác nhiệm vụ nặng nề ấy do
vậy đã tạo dựng đuợc cơ sở hùng hậu cho toàn bộ nền kinh tế tăng trởng nhanh chóng,
cho việc thực hiện hiện đại hoá công nghiệp, giao thông vận tải và toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Ba là : Các DNNNlà điểm tựa và công cụ quan trọng của Nhà nớc trong việc
điều tiết vĩ mô. Sự vận hành và phát triển nền kinh tế thị trờng hiện đại không thể thiếu
sự điều tiết của Nhà nớc. Nhà nớc điều tiết vĩ mô phải sủ dụng các biện pháp vĩ mô nh
chính sách thuế, chính sách tiền tệ. Mặt khác , Nhà nớc cũng phải dựa vào các DNNN
để khởi động phục hồi kinh tế hoặc kìm chế lạm phát .Ví dụ, khi thị trờng vật vờ ểu
oải kinh tế tiêu điều, Nhà nớc sẽ áp dụng các chính sách và biện pháp điều tiết vĩ mô
nhằm kích thích nhu cầu. Nhng do lãi ít noi chungc các doanh nghiệp khong muốn
tăng đầu t . Do vậy , nhà nớc dựa vào các DNNN để tăng nhu cầu đầu t, từ đó thúc đẩy

mạnh mẽ , các ngân hàng không ngừng đổi mới , mở rộng mang lới chi nhánh để nâng
cao sức mạnh cạnh tranh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng . Tuy
nhiên , các hoạt động NHTM nớc ta mới đang ở giai đoạn sơ khai nen sản phẩm ngân
hàng còn kém đa dạng hoạt động sinh lời chủ yếu là từ cho vay chiếm tới 70% đến
80% doanh thu của ngân hàng thông qua thu lãi cho vay . Kể cả ở các nớc phát triển
thì cho vay vẫn là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tông tài sản.
Nh vậy , cho vay la hoạt động rất quan trọng của ngân hàng hiệu quả cho vay
quyết định rất lớn đến hiệu quả hoạt đọng của ngân hàng ảnh hởng quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng.
1.2.1.3. Nguyên tắc cho vay đối với DNNN
Cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu , mang lại phần lớn
thu nhập cho ngân hàng , Tuy nhiên , đây cũng là nghiệp vụ chứa đng nhiều rủ ro
nhất , để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay , góp phần hạn chế rủi ro , ngan hàng
cần thiết phải dề ra và thực hiện các nguyên tắc nhất định trong quá trình cho vay ,
điều này không chỉ có ý nghĩa đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với
cả khách hàng và cả nền kinh tế.
Theo điều 6 quyết định 1627/QĐ-NHNN ban hàng ngày 31/12/2001 về quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khach hàng đã quy đinh hai nguyên tắc cho vay
là:
Khách hàng vay vốn tổ chức tín dung phải đảm bảo:
1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
2. Hoàn trả nợ gốc và lãI vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Nguyên tắc 1: Cho vay đúng mục đích không chỉ la nguyên tăc mà còn là ph-
ơng châm hoạt đông ngân hàng . Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng nh
thoả thuạn với ngân hàng , không trái với quy đinh của pháp luật và các quy định của
ngân hàng cấp trên . Bất kỳ khoản vay nào của ngân hàng đối cới nền kinh tế cũng
luôn phải hớng đến mục tiêu và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai
đoạn phất triển .Còn với khách hàng , vốn vay cũng phải đáp ứng các mục đích cụ thể
trong qúa trình hoạt động để thúc đẩy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ của mình . Nên

Đặc điểm cho vay ngắn hạn là: lãi xuất thấp, tính thanh khoản cao và độ rủi ro
thấp.
_ Cho vay trung hạn : là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng .
Ngân hàng cho vay trung hạn để tài trợ cho các tài sản cố định , sửa chữa , mua sắm
thêm phuơng tiện vận tải , cây trông vật nuôi , trang thiết bị mới , hoặc để thay đổi sản
phẩm hàng hoá.
_ Cho vay dài hạn : là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.
Cho vay dài hạn chủ yếu tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản nhu nhà xởng , sân
bay , cầu đờng , máy móc thiết bị có gía trị sử dụng lớn thời gian sử dụng lậu dài ,
hoặc để mở rộng sản xuất kinh doanh theo chiều rộng hoặc sâu.
Đặc điểm của cho vay trung va dài hạn là : độ rủ ro cao hơn so với cho vay
ngắn hạn , để giẳm bớt rủi ro ngân hàng thờng yêu cầu phải có tài sản đảm bảo , ngoài
ra ngân hàng có thể quyết định tỉ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất ,
kinh doanh và đời sống .Để bù đắp cho những rủi ro phải gánh chiu do thời hạn dài thì
ngân hàng luôn quy định lãi xuất cho vay cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, lãi suất
có thể cố định trong suốt thời kỳ vay vốn cũng có thể là lãi suất biến đổi tuỳ thuộc vào
sự biến động của thị trờng.
* Căn cứ vào phuơng thức cho vay:
_ Cho vay thấu chi:
Cho vay thấu chi kà nghiệp vụ cho vay qua ngân hàng cho phép ngời vay đợc
chi vơt trên số d tiền gửi thanh toán của mình tại ngân hàng đến một giới hạn nhất định
và trong khoảng thời gian xác định, giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
Hình thức cho vay này thờng chỉ áp dung với các khách hàng có độ tin cậy cao ,
thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
Để đợc thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức và thời gian
thấu chi có thể khách hàng phải trả cả phí cam kết cho ngân hàng . Trong quá trình
hoạt động khách hàng có thể viết séc , lạp uỷ nhiệm chi...vợt quá số d tiền gửi để trả
nhng phải trong hạn mức thấu chi . Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ,
ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ gốc và lãi.
Số lãi khách = lãi suất * thời gian * số tiền

Tuy nhiên, hình thức cho vay này thờng yêu cầu có tài sản đảm bảo nên giá tri
món vay phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm bảo. Nhiều khi doanh nghiệp có phơng án
sản xuất kinh doanh tốt nhng không có tài sản để thế chấp , cầm cố vay tiền ngân hàng
. Trong trờng hợp nh vậy nếu cứ nhất định phảI có tài sản đảm bảo thì mới cho vay,
ngân hàng có thể bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng.
_ Cho vay hạn mức
Đây là phơng án cho vay mà khách hàng va ngân hàng xác định và thoả thuận
một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định . Hạn mức tín
dụng la mức d nợ vay tối đa duy trì trong một thời han nhất định mà ngân hàng và
khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hạn mức tín dụng đợc cấp trên cơ sở phơng án , kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vay vốn của khách hàng , tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản đảm bảo , khả
năng nguồn vốn của ngân hàng . Trong phạm vi mức tín dụng còn lại , khách hàng đợc
rút tiền vay để mua hàng, dự trũ hoặc tài trợ cho cc chi phí kinh doanh khác. Trong kỳ
khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần , song d nợ không vợt quá hạn mức.
Cũng có trờng hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ . D nợ trong kỳ co thể lớn
hơn hạn mức nhng đến cuói kỳ khách hàng phảI tả nợ để giảm d nợ sao cho d nợ cuối
kỳ không vuợt quá hạn mức.
Cho vay theo hạn mức tín dụng thờng đợc áp dụng đối với các khách hàng có
nhu câuf vay trả thờng xuyên , có đăc điểm sản xuất kinh doanh luân chuyển vốn
không phù hợp với phơng thức cho vay từnglần, có uy tín với ngân hàng.
Trong nghiệp vụ cho vay này ngân hàng không ấn định trớc ngày trả nợ . Khi
khách hàng có thu nhập , ngân hàng sẽ thu nợ nên tạo chủ động quản lý ngan quỹ cho
khách hàng. Tuy nhiên , lai bất lợi cho ngân hàng trong việc kiểm soát hiệu quả sử
dụng từng lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể. Ngân hàng chỉ có thể
phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chinh hoặc d nợ lâu không giảm sút.
_ Cho vay luân chuyển la nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của háng
hoá.
Ngân hàng có thể cho doanh nghiệp vay để mua hàng khi doanh nghiệp thiếu
vốn và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng . Đầu năm hoặc quý ngời vay phảI làm

quyền lựa chọn , quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản , hoặc cho vay
không có đảm bảo bằng tài sản và tự chiu trách nhiệm về quyết định của mình.
_Cho vay có đảm bảo bằng tài sản : là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đợc cam kết bảo đảm thực hiện băng cầm
cố , thế chấp , tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh băng tài
sản củabên thứ ba.
Tài sản đảm bảo tiền vay có thế là bất động sản ( nh giá tri quyền sử dụng , nhà
ở , công trình xây dựng gắn liền với đất...)động sản ( hàng hoá , phơng tiện vận tải ,
vàng , đá quý ,giấy tờ có giá trị...).
+ Cho vay thế chấp : là hình thức mà ngời nhân tài trợ phải chuyển các giấy tờ
chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giũ
trong thời gian cam kết.
+ Cho vay cầm cố : là hình thức mà ngân hàng nhận tài trợ phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết.
_ Cho vay không có tài sản đảm bảo : là việc cho vay vốn của tổ chức tín
dụngmà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay không đợc cam kết bảo đảm thực
hiệnbằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản đợc hinh thành từ vốn vay của khách hàng
vay hoặc bảo lãnh bằngtài sản của bên thứ ba.
Cho vay không tài sản đảm bảo bao gồm các truờng hợp sau : Cho vay bảo lãnh
bằng tín chấp của các tổ chức đoàn thể , chính trị xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình
nghèo vay vốn , cho vay không có đảm bảo bằng tài sản theo quy định của chinh phủ
và cho vay không có đảm bảo bằng tài sản theo sự lựa chọn của ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status