TIỂU LUẬN Lịch sử Báo chí: Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam trước năm 1925 - Pdf 43

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA BÁO CHÍ

TIỂU LUẬN
Môn: Lịch sử Báo chí
Đề tài: Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam trước năm 1925

Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thị Thanh Tịnh
Sinh viên

: Vũ Thị Phương Thảo

Lớp

: Ảnh báo chí K35

Hà Nội - 2017
1


2


MỤC LỤC

3


I – LỜI NÓI ĐẦU
Báo chí Việt Nam tuy mới phát triển trên hơn 1 thế kỉ nhưng thực sự đã có
nhiều thành tựu, với những chặng đường lịch sử đáng ghi nhớ. Khoảng thời gian

kinh nghiệm quý báu.

Đó là bài học về cách làm báo trong hoàn cảnh chiến

tranh, bị bọn Thực dân kiểm duyệt gắt gao; là phương pháp làm báo trong khi
những điều kiện cơ sở vật chất, khoa học kĩ thuật còn nghèo nàn lạc hậu, thậm
chí mới manh nha xuất hiện….Tất cả những lý do này cho thấy sự quan trọng
khi thực hiện khảo sát, nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm từ giai đoạn báo chí
Việt Nam trước 1925.
Tiểu luận tìm hiểu về lịch sử báo chí Việt Nam trước 1925 giúp mọi người
có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về báo chí nước nhà trong thời kì đó, và từ
những kinh nghiệm được rút ra, những người quan tâm đến “quyền lực thứ tư”
sẽ tổng kết nên những phương pháp thích hợp cho việc xây dựng một nền báo
chí Việt Nam hiện đại thực sự phát triển. Đề tài của tiểu luận này không phải là
một vấn đề mới phát hiện mà là tổng hợp từ những điều đã có để rút ra vấn đề.
Trong quá trình nghiên cứu, triệt để sử dụng các phương pháp phân tích, hệ
thống, tổng hợp, so sánh.
Tiểu luận này mang tính tổng hợp cao. Tất nhiên còn sơ lược và phần nào
khô khan. Nhưng vẫn muốn cho người đọc thấy một điều rằng: “Về một ý nghĩa
nào đó, lịch sử báo chí còn là một khoa học bổ trợ cho lịch sử hiện đại và đương
đại. Là tư liệu lưu trữ hàng ngày….Là nhân chứng và là người trong cuộc của
đời sống quốc gia và quốc tế, báo chí là những tư liệu phong phú vô kể, song rất
khó sử dụng. Lịch sử báo chí ngoài chức năng đầu tiên là dựng lại đời sống báo
chí, làm rõ vai trò của nó đối với sự tiến hóa của xã hội, dường như còn một
chức năng phụ nữa là giúp các nhà sử học sử dụng được những gì báo chí ghi
lại”[3].
Hy vọng nhận được lời đóng góp, nhận xét của cô giáo cùng các bạn để
tiểu luận này thực sự trở thành một tài liệu học tập được sử dụng, phục vụ trong
quá trình học tập môn học.
[1] Hà Minh Đức, Cơ sở lí luận báo chí- đặc tính chung và phong cách,

thói quen tiếp nhận. Do vậy, họ đã nảy nở ý nghĩa: Phải làm một tờ báo cho
đồng bào mình đọc.
* Cùng với kế hoạch thôn tính nước ta người Pháp bắt đầu mở mang một
loạt các trung tâm, đô thị ở Việt Nam. Đây cũng chính là căn nguyên làm nảy
sinh tầng lớp thị dân mới (dân thành thị) với nhu cầu cao hơn về thông tin. Họ
trở thành độc giả đầu tiên của báo.
6


7


2.2. Những biến động về tư tưởng
* Bộ máy nhà nước phong kiến bị phân hoá thành ba phái cơ bản. Đó là:
Nhóm chủ chiến (các sĩ phu yêu nước); phái chủ hoà (vua Tự Đức); phái trung
gian (đội ngũ trí thức phong kiến). Cả 3 phái đều tìm mọi cách để tuyên truyền,
tranh thủ lực lượng. Các cuộc tranh cãi, bất hoà luôn xảy ra từ trung ương tới địa
phương. Tuy nhiên cả 3 phái đều gặp nhau ở một điểm là: Cần có phương tiện
tuyên truyền, ý thức được sức mạnh của báo chí, nên tất cả đều ủng hộ.
=> ý thức hệ phong kiến đã dần dần nhường chỗ cho ý thức hệ mới tiến
bộ hơn, phù hợp với văn minh thời đại hơn, đó là ý thức hệ dân chủ tư sản.
* Lúc này, cuối thế kỷ 19, dân tộc ta có 2 nhiệm vụ lịch sử : canh tân xứ
sở và chống xâm lăng. Để thực hiện 2 nhiệm vụ này, không thể không có báo chí
truyền thông. Có thể nói những biến động về tư tưởng là điều kiện chủ quan đối
với sự ra đời của báo chí.
2.3. Sự ra đời của chữ quốc ngữ.
- Chữ quốc ngữ xuất hiện cuối thế kỷ 17 do việc truyền đạo của các giáo
sĩ phương Tây gặp 2 khó khăn (thiếu phương tiện truyền đạt và phong trào Tả
đạo của triều Nguyễn). Vì vậy, các nhà truyền giáo đã có một sáng kiến: La tinh
hoá tiếng Việt. Công cuộc kéo dài hàng thế kỷ, chia thành 2 giai đoạn: Trước và

Pháp, lôi kéo thu hút đối tượng trí thức bản xứ.
Giai đoạn từ 1861 đến 1898, báo chí ở Việt Nam còn trong thời kỳ phôi
thai. Hầu hết các báo đều do người Pháp chủ trương dưới hình thức công báo
hoặc báo tư nhân do chánh quyền ngầm hỗ trợ và được hưởng qui chế luật tự do
báo chí 1881 của Pháp. Những người Pháp đứng ra kinh doanh, phụ trách hoặc
chủ trương báo chí trong thời kỳ này là Ernest Potteaux, Pierre Jeantet, Francois
Henri Schneider, Ernest Babut, Georges Ganas… Báo thường in bằng hai, ba
thứ chữ: Pháp ngữ, Hán ngữ, quốc ngữ. Độc giả rất ít, phần lớn là công chức.
Giá báo khá mắc dù đã được nhà cầm quyền tài trợ.
Về nội dung, phần lớn trang báo dùng đăng tải các nghị định, chỉ thị của
chánh quyền trung ương phổ biến xuống các cấp địa phương. Tin tức thời sự còn
ít và chưa thu hút người đọc. Thỉnh thoảng trên báo xuất hiện một số bài khảo
cứu, sưu tầm, văn nghệ, nhưng văn chương còn vụng về. Về hình thức, kỹ thuật
in ấn và trình bày còn thô sơ. Lúc đầu người Pháp đem máy in chữ Pháp sang
9


Sài Gòn, sau đó đúc thêm các mẫu chữ quốc ngữ và Hán ngữ đưa sang để in báo
quốc ngữ, Hán ngữ.
Báo chí thời kỳ khởi lập có vai trò thúc đẩy một bộ phận người Việt trí
thức và lớp trên học thông thạo chữ quốc ngữ và Pháp ngữ, sau đó ảnh hưởng
đến lớp trung lưu và thị dân, góp phần rất quan trọng hình thành nền văn chương
học thuật Việt Nam hiện đại.
Tờ báo đầu tiên phát hành ở Đông Dương là Bulletin Officiel de
L’expedition de la Cochinchine (Thành tích biểu viễn chinh Nam Kỳ), do đích
thân chuẩn đô đốc Louis Adolphe Bonard làm chủ báo. Khi từ Pháp sang Sài
Gòn, Bonard đem theo máy in, chữ in Pháp, thợ in, đến ngày 29-9-1861 bắt đầu
phát hành số công báo đầu tiên. Nhưng công báo chỉ lưu hành trong nội bộ quân
Pháp vì lúc đó ít người Việt đọc được chữ Pháp. Năm sau, Bonard phát hành tiếp
công báo Le Bulletin des Communes bằng Hán ngữ nên phổ biến hơn, phát

quần chúng kháng Pháp, nhất là trong phong trào vận động Duy Tân (1904-08)
và Việt Nam Quang Phục Hội (1912-16). Ngược lại chánh quyền thuộc địa Pháp
cũng muốn tiếp tục tận dụng phương tiện báo chí theo chiều hướng có lợi cho
việc cai trị và khai thác thuộc địa nên, càng nỗ lực hạn chế và cấm đoán các
hành vi phản kháng trong giới văn báo bản xứ.
3.3. Báo chí giai đoạn 1913-1924: thời kỳ phát triển
Năm 1911, Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương. Trước khi
bước vào con đường chánh trị, Sarraut từng là một nhà báo, làm biên tập viên
thường trực tờ La Dépêche du Midi ở Toulouse, do đó muốn sử dụng báo chí
cho mục đích chánh trị. Bắt đầu thực hiện chánh sách ve vãn thuộc địa, tuyên bố
Pháp Việt đề huề, song song với việc nới lỏng chánh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
Sarraut chủ trương nới lỏng báo chí rõ rệt từ năm 1913, mong dùng báo chí làm
công cụ phản tuyên truyền đối phó với phong trào cách mạng trong nước và sự
bành trướng ảnh hưởng của Trung Hoa và Đức sang Việt Nam thời đó.
Thời kỳ 1913-18, việc nới lỏng báo chí còn cầm chừng, có tánh cách thử
nghiệm, dò dẫm. Việc kiểm duyệt vẫn duy trì gắt gao. Trước và trong Đệ nhất
thế chiến, tại Việt Nam nổ ra nhiều cuộc bạo động võ trang như: phong trào Hội
Kín Nam Kỳ năm 1913, bạo động của Việt Nam Quang Phục Hội ở Huế và
Trung Kỳ năm 1916, cuộc nổi dậy của binh lính và tù chánh trị Thái Nguyên
năm 1917… Báo chí trong nước hầu như không tờ nào được tỏ thái độ ủng hộ
11


phong trào kháng Pháp, hoặc nhân lúc Pháp sa lầy trong thế chiến để vận động
giải phóng dân tộc. Ngược lại, có tờ báo còn hô hào Rồng Nam phun bạc đánh
đổ Đức tặc, kêu gọi góp người và của sang châu Âu giúp Pháp đánh Đức. Tin
tưởng vào sự kiểm soát có hiệu quả nền báo chí thuộc địa, các toàn quyền sau
Đệ nhất thế chiến an tâm phóng tay phát triển mạnh mẽ hệ thống báo chí Việt
ngữ.
Sau khi chiến thắng trong Đệ nhất thế chiến, kinh tế Pháp và Đông Dương

Trong giai đoạn thử nghiệm mở rộng báo chí dưới thời toàn quyền Albert
Sarraut, công dân Pháp xin ra báo dễ dàng, nên nhiều người Pháp nhận đứng tên
ra báo Pháp ngữ hoặc quốc ngữ, sau đó cho mướn hoặc sang lại cho người Việt
điều hành để kiếm lợi.
Sau Đệ nhất thế chiến, điều kiện mở báo dễ dàng hơn cho người Việt, mới
có nhiều chủ báo người Việt như Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Hữu Thu, Bạch
Thái Bưởi, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Kim Đính, Bùi Xuân Học, Diệp
Văn Kỳ, Hoàng Tích Chu… Nhiều loại báo đặc biệt chuyên nghiên cứu về một
vấn đề, dành riêng cho một giới độc giả cũng xuất hiện như báo chánh trị, phụ
nữ, thiếu nhi, tôn giáo, kinh tế, sư phạm, văn chương…
Về nội dung, báo chí giai đoạn này có bài vở phong phú, bám sát thời sự,
xuất hiện nhiều chuyên mục xã thuyết, phiếm luận, trình bày lập trường chánh
trị. Các báo do thực dân Pháp chủ trương (Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong
Tạp Chí…) cố gắng cổ võ chánh sách ‘Pháp Việt đề huề’ và triệt hạ uy tín lực
lượng kháng Pháp. Các báo có khuynh hướng cổ võ cách mạng (La Cloche
Fêlée, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung…) thì vạch ra tính chất mỵ dân của
Pháp và hô hào tinh thần yêu nước kháng Pháp. Các tạp chí chuyên đề có nhiều
bài nghiên cứu sâu sắc, công phu về văn học, triết lý, khoa học, kinh tế, xã hội
có giá trị.
Về hình thức, kỹ thuật in ấn tiến bộ rõ rệt. Cách sắp chữ, chạy tít báo có
nhiều cải tiến. Bài vở trình bày sáng sủa, nhiều trang ảnh mỹ thuật. Văn chương
báo chí sáng sủa, gọn ghẽ, mạch lạc hơn trước.
Số lượng báo chí xuất bản công khai, hợp pháp tăng lên nhanh chóng.
Kể cả báo, tạp chí, kỷ yếu, niên san, năm 1932 có 318 tờ. Năm 1933 có
357 tờ. Quý 1 năm 1936 có 411 tờ, trong đó có 99 tờ báo, 166 tờ kỷ yếu và tạp
chí, 146 tạp chí xuất bản hàng năm. Ngày 31-12-1936 có 445 tờ. Riêng về báo,
13


năm 1932 có 92 tờ, trong đó có 48 báo quốc ngữ và 44 báo Pháp ngữ. Năm 1935

độ chính trị mới tại đây, tất cả các quyền hành đều nằm trong tay sĩ quan quân
dội Pháp. Để đảm bảo cho một chính sách dài hạn, người Pháp thấy cần phải
thiết lập ra một nền hành chính dân sự. Chính vì lẽ đó mà Chính quyền Pháp đã
sử dụng Báo chí như một thứ vũ khí mới, khác với chính trị để nhằm thực hiện
hai mục tiêu chính: Thứ nhất là phổ biến chữ Pháp, thứ hai là phổ biến chữ Quốc
ngữ. Nhưng dụng ý của chúng vẫn là dùng báo chí để chinh phục tinh thần của
dân chúng địa phương.
Trong giai đoạn đầu, tất cả báo chí đều do người Pháp thành lập ra và
điều khiển. Chúng không ngần ngại tuyên bố mục đích của báo chí là dùng để
cách tân văn hóa xứ sở, giúp đỡ dân bản xứ. Nhưng thực chất chúng dùng báo
chí để phục vụ cho quyền lợi và ổn định tình hình chính trị vùng thuộc địa.


Chính quyền Pháp muốn dùng báo chí để phổ biến nền văn minh

của họ, và nhờ vào phương tiện mới hữu hiệu này, học có thể phô trương những
thay đổi mới mẻ mà chính quyền mới đem đến cho xứ thuộc địa, hòng làm thay
đổi toàn bộ hệ thống chính quyền tồn tại trong xã hội Phong kiến Việt Nam từ
trước đến nay.
Từ 1861-1807 là giai đoạn đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của Báo chí
Việt Nam với khoảng 70 tờ báo tiếng Pháp và 20 tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ.
15


Tờ báo tiếng Pháp đầu tiên là tờ Nam kỳ viễn chinh công báo (Le Bulletin
Officiel de L’expedition De La Cochinchine) xuất bản ngày 29-9-1986. Đây là
tờ báo phát hành theo đường quân sự, được xem như là phương tiện liên lạc duy
nhất giữa chính quyền Pháp với các đạo quân viễn chinh và dân chúng vùng
thuộc địa. Là một tờ công báo chuyên đăng tải lại những công văn, nghị định…,
bên cạnh đó còn có một phần hướng dẫn binh lính Pháp làm quen với điều kiện

Tải thườNg gọi là Pétrus Ký, quê ở Tân Minh-Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre).
Ông là một học giả lớn, thạo 26 ngoại ngữ, là tác giả của hơn 100 bộ sách, hàng
nghìn bài viết, có chân trong nhiều hội khoa học quốc tế, cống hiến xuất sắc cho
các chuyên ngành: văn hóa, ngôn ngữ, địa lý, nhân chủng học.. Ông thành lập,
làm tổng biên tập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên, đồng thời là cây bút chủ chốt
của rất nhiều báo khác và được coi là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ
Việt Nam…
Nữ tổng biên tập đầu tiên: Nguyễn Xuân Khuê (1864-1921), bút danh là
Sương Nguyệt ánh, con gái thứ 4 của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, quê ở Ba TriBến Tre. Nhận lời mời của các đồng nghiệp, đầu năm 1918 bà lên Sài Gòn làm
Tổng Biên tập tờ Nữ giới chung và phụ trách tờ báo này trong suốt thời gian tồn
tại của nó.
Trải qua từng giai đoạn sau cho đến trước Cách mạng Tháng Tám, báo chí
Việt Nam không ngừng phát triển và có những cách tân đáng kể. Đây thực sự là
thời kì đặt nền móng cho báo chí nước nhà.
4.2.

Là thời kì hoạt động đặc biệt của Báo chí Việt Nam.
Đây là thời kì báo chí nước ta nằm trong hoàn cảnh lịch sử biến động với

nhiều bước ngoặt quan trọng. Yếu tố này tác động rất nhiều đến sự hình thành và
phương pháp phát triển nền báo chí.
Giai đoạn 1908-1918:


Sau khi Thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu tranh của nhân

dân ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong thời gian này là sự phát triển của phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh
Nghĩa Thục.
17

Báo chí Việt Nam với Trung Hoa; đồng thời lôi kéo nhằm nô dịch tầng lớp tri
thức Việt Nam mà chủ yếu là tri thức Bắc kỳ.
Những đặc điểm của lịch sử đã tạo ra một diện mạo báo chí phát triển với
những khuynh hướng khác nhau, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của Báo chí
Việt Nam ở những giai đoạn sau.
18


4.3.

Báo chí hoạt động với nhiều khuynh hướng khác nhau.
Chính những ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, cụ thể ở

đây là hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra một thời kì phát triển của báo chí Việt Nam
với phong phú thể loại đề tài, đa dạng khuynh hướng.
Trong những giai đoạn đầu tiên của thời kì phát triển báo chí trước Cách
mạng tháng Tám, xuất hiện nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Nhưng
do ở những giai đoạn này, chúng ta chưa có đủ điều kiện để phát triển các tờ báo
độc lập nên chủ yếu ra báo phải phụ thuộc rất nhiều vào chính quyền thực dân.
Đồng thời, giai đoạn này, người Pháp đưa ra nhiều đạo luật, nhiều văn bản cấm
việc phổ biến tất cả các tin tức không do chính phủ cung cấp, cấm đăng tin liên
quan đến quân sự hay ngoại giao…vì thế báo chí giai đoạn này là báo chí công
khai, chưa dám đưa đấu tranh cách mạng một cách chính thức vào nội dung bài
báo, vì vậy mà nội dung các bài báo không phong phú, nhiều tờ đưa tin giống
nhau.
Trong giai đoạn này, báo chí việt nam đang còn ở trong tình trạng phôi
thai, kĩ thuật làm báo còn non nớt, kinh tế đất nước chưa phát triển. Bên cạnh
đó, số lượng độc giả giả hạn chế vì trình độ dân trí người dân còn thấp; báo chí
là một thứ hoàn toàn mới lạ với người dân bản xứ, mặt khác lại phát hành với
giá quá đắt nên gây khó khăn cho việc tiếp cận của người dân; đội ngũ nhà báo

Việt Nam về tăng cường năng lực lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản.
2. Hà Minh Đức, Cơ sở lí luận báo chí- đặc tính chung và phong cách,
Nxb Đại học Quốc Gia- Hà Nội,2000
3. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 80 năm báo chí Cách mạng
Việt Nam- những bài học lịch sử và định hướng phát triển, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
4. Phạm Hồng Duy, Lịch sử Báo Chí- phần I, Tài liệu nghiên cứu của
Khoa báo chí trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình
5. Pierre albert – Lịch sử Báo chí, Nxb Thế giới, Hà Nội 2003
6. Tạ Ngọc Tấn- Cơ sở lý luận báo chí, NXB lý luận chính trị, Hà Nội
2000
7. Trịnh Thị Bích Liên, Đề cương bài giảng Lịch sử báo chí Việt Nam,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền ,Hà Nội 2010

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status