Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi ngờ vực trong tiếng anh và tiếng việt (trên tư liệu các giáo trình dạy tiếng và tác ph - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC

TẠ THỊ PHƯƠNG QUYÊN

CÁC BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ CỦA HÀNH VI NGỜ VỰC
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
(TRÊN TƯ LIỆU CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG
VÀ TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở VIỆT NAM)

CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:

NGÔN NGỮ HỌC
602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC

HÀ NỘI - 2008


MỤC LỤC
Số trang
Phần mở đầu

1

Chương 1. Cơ sở lí thuyết



1.4.2. Các loại hành vi ngờ vực

11

1.5. Chiến lược giao tiếp – Phép lịch sự

13

1.5.1. Lịch sự

13

1.5.2. Chiến lược giao tiếp

15

1.6. Tiểu kết

18

Chương 2. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi ngờ vực trong

19

tiếng Anh
2.1. Dẫn nhập

19


60

2.4.3. Chiến lược nói gián tiếp

63


2.4.4. Chiến lược dịu hóa

64

2.5. Tiểu kết

66

Chương 3. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi ngờ vực trong

68

tiếng Việt
3.1. Dẫn nhập

68

3.2. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành tường minh

68

3.3. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn


3.4.4. Chiến lược tìm kiếm sự tán đồng

111

3.4.5. Chiến lược sử dụng những dấu hiệu báo hiệu mình cùng

112

nhóm
3.5. Tiểu kết

113

Kết luận

115

Các tài liệu tham khảo chính

118

Nguồn khảo sát và trích dẫn

121

Phụ lục

126



định vào công việc nghiên cứu các hành động ngôn từ.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1.

Mục đích
Thông qua việc tiếp cận, khảo sát và đối chiếu các biểu đạt ngôn ngữ

của hành vi ngờ vực trong tiếng Việt và tiếng Anh, mục đích luận văn hướng
đến là:
- Góp thêm vào lý thuyết hành động ngôn từ nói chung và hành vi ngờ
vực nói riêng. Từ đó giúp thấy được rõ nét, sâu sắc về hành động ngôn từ,
hành vi ngờ vực cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
1


- Góp phần tìm hiểu lý luận để nâng cao hiệu quả trong công tác giảng
dạy và học tập tiếng ở Việt Nam, và để ứng dụng vào công tác dịch thuật.

2.2.

Nhiệm vụ

Với mục đích nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về hành động ngôn từ nói chung và
hành vi ngờ vực nói riêng.
- Khảo sát các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực tại lời của hành vi ngờ vực,
cụ thể là các động từ ngôn hành, các từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngôn
hành, các kiểu kết cấu biểu đạt hành vi ngờ vực và ngữ điệu của các kết cấu
này.
- Khảo sát lối xưng hô trong các phát ngôn chứa hành vi ngờ vực.

4. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia
thành 3 chương như sau:
Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết
1.1. Hành động ngôn từ
1.2. Các hành vi tại lời
1.3. Phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành và động từ ngôn hành
1.4. Hành vi ngờ vực
1.5 Chiến lược giao tiếp - Phép lịch sự
Chƣơng 2. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi ngờ vực trong tiếng Anh
2.1. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành tường minh
2.2. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn
2.3. Các chiến lược giao tiếp
Chƣơng 3. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi ngờ vực trong tiếng Việt
3.1. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành tường minh
3.2. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn
3.3. Các chiến lược giao tiếp

3


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Hành động ngôn từ
Thuật ngữ tiếng Anh "Speech act" khi vào Việt Nam đã được các nhà
ngôn ngữ học chuyển dịch bằng nhiều tên gọi khác nhau: hành động nói (Diệp
Quang Ban), hành vi ngôn ngữ (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân), hành vi nói
năng (Nguyễn Văn Khang), hành động ngôn từ (Cao Xuân Hạo). Trong luận
văn này chúng tôi sử dụng tên gọi hành động ngôn từ.
Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện

Hành động mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ,
nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn
ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ nghe một
phát ngôn:"ở đây tối quá". Sp 2 có thể mở cửa sổ. Hành động mở cửa sổ thuộc
hành động mượn lời. Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ
các hiệu quả mượn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích của
một hành động tại lời như trong ví dụ nêu trên: Hành động mở cửa sổ là hiệu
quả của hành động tại lời đề nghị. Cũng có những hiệu quả không thuộc đích
của hành động tại lời: Chẳng hạn Sp2 trong ví dụ trên mở cửa sổ một cách khó
chịu, gắt gỏng thì hành vi đó không phải là đích của hành động tại lời. Những
hiệu quả mượn lời, rất phân tán, không thể tính toán được. Chúng không có
tính quy ước (trừ hành động mượn lời đích của hành động tại lời). [II-2, 88-89]
1.2. Các hành vi tại lời
1.2.1. Điều kiện sử dụng hành vi tại lời
Các hành vi tại lời, cũng như các hành vi khác, các hành vi sinh lí cũng
như vật lí, không phải được thực hiện một cách tùy tiện. Nếu là một hành vi xã
hội thì các điều kiện để cho nó có thể thực hiện được lại càng chặt chẽ đa dạng
hơn nữa. Mà các hành vi tại lời như đã biết, về cơ bản là hành vi xã hội. Điều
kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện mà một hành vi tại lời phải
đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.
J. Austin xem các điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều
kiện "may mắn" nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt

5


hiệu quả. Nếu không nó sẽ thất bại. Những điều kiện may mắn của J.Austin là
như sau:
A- (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả
cũng có tính quy ước.

ở lời trong khi đó phân loại có thể được thực hiện bằng phương thức
khác không phải bằng lời
10. Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội
mới có hiệu lực nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy.
11. Không phải tất cả các động từ gọi tên hành vi tại lời đều là động từ
ngôn hành. Thí dụ: khoe và dọa không phải là động từ ngôn hành.
12. Phong cách thực hiện hành vi tại lời.
J. Searle chỉ dùng có 4 trong số 12 tiêu chí trên để phân lập 5 loại hành động
ngôn từ là: Tiêu chí đích ở lời; tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng thái
tâm lí và tiêu chí nội dung mệnh đề.
Searle đưa ra bốn điều kiện. Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau
tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi tại lời cụ thể.
a. Điều kiện nội dung mệnh đề: Chỉ ra bản chất nội dung của hành vi.
Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo
nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín,
tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời, có hoặc không; phải, không phải
....). Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngôn hành tương ứng với hành vi hỏi
đưa ra hai khả năng, người trả lời chọn một và trả lời. Nội dung mệnh đề có
thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.
b. Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và
người nghe.
c. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người
phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín,...
d. Cuối cùng là điều kiện căn bản, đây là điều kiện đưa ra kiểu trách
nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi tại lời đó được
phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa
hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói
phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). [II-2, 116]
7

Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngôn hành. Ví dụ: Phát ngôn ngờ vực sau
8


đây: ”Dù anh có giải thích thế nào đi nữa thì tôi cũng không tin là nó lại có thể
làm được việc đó “ có biểu thức ngôn hành: Tôi không tin là …..
Biểu thức ngôn hành là những thể thức nói năng đặc trưng cho một
hành vi tại lời. Nói như vậy có nghĩa là về nguyên tắc, trừ những trường hợp
được sử dụng gián tiếp, còn thì có bao nhiêu hành vi tại lời thì có bấy nhiêu
kiểu biểu thức ngôn hành. Biểu thức ngôn hành là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ
nghĩa của các hành vi tại lời. Nhờ các biểu thức ngôn hành chúng ta nhận biết
được các hành vi tại lời.
Mỗi biểu thức được đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ những
dấu hiệu này mà các biểu thức ngôn hành phân biệt với nhau. J. Searle gọi các
dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời:
- Các kiểu kết cấu: Kết cấu cũng tức là các kiểu câu hiểu theo ngữ pháp
truyền thống. Cần mở rộng khái niệm kết cấu, cũng tức là mở rộng khái niệm
kiểu câu để nó có thể bao gồm những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi tại
lời (hoặc phạm trù hành vi tại lời). Kết cấu không chỉ là những kiểu câu có
mục đích nói hết sức sơ lược và khái quát như trần thuyết, hỏi, cầu khiến, cảm
thán với những dấu hiệu hình thức rất chung chung mà còn bao gồm cả những
kết cấu cụ thể ứng với những hành vi tại lời.
- Những từ ngữ chuyên dùng trong biểu thức ngôn hành. Những từ ngữ
này dùng để tổ chức các kết cấu và là các dấu hiệu nhờ chúng chúng ta biết
được hành vi nào đang thực hiện. Đó là những từ ngữ chuyên dùng trong các
biểu thức hỏi như: có … không, có phải … không? Ai, cái gì, bao giờ, mấy …?
Đó là các từ ngữ như nên, không nên trong các biểu thức ngôn hành khuyên...;
Các từ thế à, thật không, liệu, sao... trong các biểu thức ngôn hành ngờ vực.
- Ngữ điệu. Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp cụ thể nếu được phát
âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngôn hành khác nhau

1.4.1. Khái niệm và điều kiện để thực hiện hành vi ngờ vực
Theo định nghĩa trong ”Từ điển tiếng Việt”: Ngờ vực hay nghi ngờ là
nghĩ có thể là người nào đó đã làm một việc gì đó; là đã xảy ra việc nào đó
nhưng không có đủ cơ sở để khẳng định. Như vậy hành vi ngờ vực được hiểu
là hành vi không tin tưởng, không chắc chắn vào một hành động sự việc nào
đó.[II-17]
Theo bảng phân loại của J. Austin, hành vi ngôn ngữ ngờ vực thuộc
nhóm 5. Đây là nhóm những hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác,
đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với
hành vi hay số phận của người khác. Do đó điều kiện để có hành vi ngờ vực
10


theo ông là phải có Sp1 nói (viết) một phát ngôn về một sự kiện, Sp2 đưa ra
phản ứng nghi ngờ. Như vậy phải có Sp1 đưa ra một phát ngôn xác tín về một
sự việc hành động đã xảy ra (có thể của Sp 1 hoặc người thứ 3). Sp2 đưa ra
phát ngôn thể hiện phản ứng của mình – nghi ngờ tính xác thực của sự kiện,
hành động đó. Hoặc một người đưa ra phát ngôn trước một sự kiện, hành động
đã xảy ra mà mình đã biết.
Còn theo bảng phân loại của J. Searle: Hành vi nghi ngờ thuộc nhóm
biểu hiện: Là nhóm hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng có là một
sự kiện hay không. Hành động này thể hiện ở những câu mà người nói phải
chịu trách nhiệm về giá trị chân lí của mệnh đề được biểu đạt?
Các điều kiện để thực hiện hành vi ngờ vực theo Searle là:
Nội dung mệnh đề: Sự kiện hành động của Sp1, hoặc của người thứ 3 mà cả
Sp1 và Sp2 đều biết.
Điểu kiện chuẩn bị: Có những bằng chứng thuyết phục Sp2 tin
Điều kiện chân thành: Sp2 ngạc nhiên, không chắc chắn hay phỏng đoán về sự
kiện, hành động mà Sp1 nêu ra trước đó, hoặc thậm chí là phủ nhận, bác bỏ
chúng..

- Ngờ vực với tính chất phỏng đoán: Đi kèm hành vi ngờ vực là sự
phỏng đoán của người nói. Người nói nêu ra ý kiến chủ quan của mình, phỏng
đoán về nguyên nhân dẫn đến sự việc, hoặc dự đoán về kết quả, hiệu lực tiếp
theo của sự việc hành động.
Ví dụ trong tiếng Anh:
Sp1: Yes. Now I thought Harry was great. He said his lines so confidently,
and his timing was superb. I think he was really made for the part.
Sp 2: You seem to have made up your mind, don’t you?
[Headway - Upper Intermediate]
Ví dụ trong tiếng Việt
Ðã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ
con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?...
[Lời của lão Hạc trong "Lão Hạc" - Nam Cao]
12


- Ngờ vực với tính chất phủ nhận: Khi nghi ngờ của người nói được đẩy
lên cao đến mức hoàn toàn không tin vào sự việc (có thể là do không có bằng
chứng về sự việc), hành vi ngờ vực của người nói đã chuyển thành hành vi phủ
nhận, bác bỏ.
Ví dụ trong tiếng Anh:
What do I care for your big brother? I've got a brother that's bigger than he is
- and what's more, he can throw him over that fence, too. (Both brothers were
imaginary)
- That's a lie
- Your saying so don't make it so
[Mark Twain - " Tom Sawyer"]
Ví dụ trong tiếng Việt
Sp1: Anh Hùng, người khỏe mạnh, sung sướng như thế mà chết.
Sp2: Chết về bệnh gì?

Tuy nhiên, trong giao tiếp còn có một kiểu lịch sự nữa được thực hiện.
Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face). Thể diện là hình
ảnh bản thân trước công chúng của một cá nhân, nó liên quan đến ý thức xã
hội và tình cảm mà mỗi cá nhân có và mong muốn người khác tri nhận. Trong
giao tiếp, phép lịch sự có thể được định nghĩa là phương tiện được dùng để thể
hiện hiểu biết về thể diện của người khác. Như thế, phép lịch sự thực hiện
trong các tình huống có khoảng cách xã hội và có sự thân hữu. Khi có khoảng
cách xã hội thì người ta thể hiện sự hiểu biết về thể diện của người khác bằng
cách sử dụng những từ ngữ tôn trọng, chiều lòng. Khi có sự thân hữu thì người
ta thể hiện bằng việc dùng các từ ngữ có tính thân tình, đoàn kết.
Trong giao tiếp hàng ngày người ta cư xử y như mong muốn của họ về
nhu cầu thể diện sẽ được tôn trọng. Nếu một người nói cái gì đó có biểu hiện
đe dọa sự mong đợi của người khác về mặt thể diện thì đó là hành động đe dọa
thể diện (face threatening act). Nếu người nói nói thế nào để làm giảm khả
năng đe dọa thể diện thì hành động đó gọi là hành động giữ thể diện (face
saving act).

14


Trước hết, cần phân biệt thể diện âm tính (negative face) và thể diện dương
tính (positive face). Thể diện âm tính của một người là nhu cầu được độc lập,
được tự do hành động và không bị người khác áp đặt. Thể diện dương tính
của một người là nhu cầu được người khác chấp nhận, thậm chí được người
khác yêu mến đối xử như người cùng nhóm.
Nói cách khác, thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể diện
dương tính là nhu cầu được quan hệ.
Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện âm tính của
một người sẽ phải thể hiện sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của thời
gian và quan hệ của người khác, thậm chí bao gồm cả việc xin lỗi về sự áp đặt

dụng các từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô.
Lựa chọn các vị từ thích hợp cũng là một cách tạo sự gắn bó giữa người
nói và người nghe. Các tiểu từ tình thái cũng là một phương tiện thể hiện lịch
sự dương tính. Trong các phương tiện lịch sự dương tính còn có những thành
phần bổ trợ thể hiện mục đích chung, sự thân thiện của người nói và người
nghe.
Trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương tập hai - Ngữ dụng học, giáo
sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra một danh sách các chiến lược lịch sự dương tính
(theo C.K Orecchioni, Brown và Levinson) như sau:
1. Bày tỏ cho Sp2 sự chú ý của mình đối với Sp2
2. Nói quá sự tán dương, thiện cảm của mình đối với Sp2
3. Gia tăng sự quan tâm của mình đối với Sp2
4. Sử dụng những dấu hiệu báo mình cùng nhóm với Sp2 (dùng những từ
xưng hô kiểu anh trai ơi, em gái ơi, ...)
5. Tìm kiếm sự tán đồng (tìm những đề tài đôi bên cùng quan tâm)
6. Tránh sự bất đồng
7. Nêu ra những lẽ thường (chung cho cộng đồng của Sp1 và Sp2)
8. Hãy biết nói đùa, nói vui.
9. Quan tâm tới sở thích của Sp2
10. Mời, hứa hẹn
11. Hãy tỏ ra lạc quan
12. Lôi kéo Sp2 cùng với mình làm chung một việc
16


13. Nêu ra lý do của hành động
14. Đòi hỏi sự có đi có lại
15. Trao tặng cho Sp2 cái gì đó
Chiến lược lịch sự âm tính đòi hỏi phải nói hay làm một cái gì đó để tỏ
ra anh không muốn can thiệp vào quyền tự do hành động và quyền không bị áp

ngôn từ. Nội dung mà luận văn muốn đề cập tới là tìm hiểu những biểu đạt
ngôn ngữ của hành vi ngờ vực của người Anh/Mỹ và người Việt trong các bối
cảnh giao tiếp xã hội.
Trên cơ sở lý thuyết của hành động ngôn từ, chúng tôi chia phát ngôn
ngờ vực thành hai loại: phát ngôn ngờ vực tường minh và phát ngôn ngờ vực
hàm ẩn. Phát ngôn ngờ vực tường minh được đánh dấu bằng việc xuất hiện các
động từ ngôn hành của hành vi ngờ vực. Phát ngôn ngờ vực hàm ẩn là các phát
ngôn không có động từ ngôn hành.
Hành vi ngờ vực được chia thành hành vi ngờ vực trực tiếp và hành vi
ngờ vực gián tiếp. Hành vi ngờ vực trực tiếp được thể hiện ở những phát ngôn
có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng. Do đó, hành vi ngờ
vực trực tiếp được thể hiện qua các phát ngôn ngờ vực tường minh. Hành vi
ngờ vực gián tiếp là hành vi được thực hiện ở những phát ngôn có chứa quan
hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng. Vì thế, các phát ngôn ngờ
vực hàm ẩn là các phát ngôn thể hiện hành vi ngờ vực gián tiếp.
Phát ngôn chứa hành vi ngờ vực gián tiếp được nhận biết thông qua các
phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời. Các phương tiện chỉ dẫn đó là: Các từ ngữ
chuyên dùng để biểu đạt hành vi ngờ vực, các kiểu kết cấu câu với trọng âm và
ngữ điệu của chúng.
Xét trong mối quan hệ với quan điểm, thái độ của người phát ngôn, bên
cạnh ngờ vực do không chắc chắn, hành vi ngờ vực còn có thể được phân
thành: Hành vi ngờ vực kết hợp ngạc nhiên, hành vi ngờ vực kết hợp phỏng
đoán, hành vi ngờ vực kết hợp phủ nhận.
Phát ngôn chứa hành vi ngờ vực còn là nơi thể hiện rất rõ các chiến lược
giao tiếp - phép lịch sự của người Anh/Mỹ và người Việt. Khảo sát các phạm
trù xưng hô, các kiểu chiến lược giao tiếp của người Anh và người Việt sẽ giúp
ta hiểu sâu hơn về con người và văn hóa của hai nước.

18




2.2. Biểu đạt hành vi ngờ vực bằng biểu thức ngôn hành tƣờng minh
Theo J. Austin biểu thức ngôn hành tường minh là những biểu thức có
động từ ngôn hành. Động từ biểu thị hành vi ngờ vực trong tiếng Anh bao gồm
các động từ: doubt; suspect; wonder; suppose....
Ví dụ 1:
Poirot:

Observe the lamp--the chimney is broken in two places; they lie
there as they fell. But see, the coffee-cup is absolutely smashed to
powder."

Sp 2: "Well," I said wearily, "I suppose some one must have stepped on it."
Poirot: "Exactly," said Poirot, in an odd voice. "Some one stepped on it."
[Agatha Christie - " The Mysterious Affairs at Styles "]
Trong đoạn thoại trên, Sp2 sau khi nghe Sp1 (Poirot) đưa ra một sự việc là cốc
cà phê đã bị nghiền nát ra như cám, Sp2 đưa ra một phát ngôn có chứa biểu
thức ngôn hành của hành vi ngờ vực: I suppose some one must have stepped
on it - rằng chắc phải có ai đó dẫm chân lên thì cái cốc mới bị bể vụn ra như
thế. Phát ngôn này của Sp2 đạt được sự đồng tình, chấp thuận của Sp1
“Someone stepped on it”. Hành động nghi ngờ của người nói 2 (Sp 2) được
biểu đạt bằng biểu thức ngôn hành với động từ ngôn hành: suppose
Ví dụ 2: Trong đoạn hội thoại giữa nhân vật Joe và Huck [Mark Twain "Tom Sawyer"] về việc làm thế nào để xác một người chêt đuối nổi lên mặt
nước:
"That's it!" said Huck, "they done that last summer, when Bill Turner
got drowned; they shoot a cannon over the water, and that makes him come up
to the top. Yes, and they take loaves of bread and put quicksilver in 'em and set
'em afloat, and wherever there's anybody that's drowned, they'll float right
there and stop"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status