Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁÒ DỤC TIEU HỌC

TRẦN THỊ YẾN

TÌM HIẺU THựC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
• • • •
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG “CHO TRẺ LÀM VỚI CÁC TÁC
PHẨM VĂN HỌC” Ở MỘT SÓ TRƯỜNG MẦM NON KHƯ vực THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Giáo dục học

Ngưòi hướng dẫn khoa học ThS. TRỊNH THỊ XINH

HÀ NỘI - 2015
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy (cô) trong Khoa Giáo dục Tiểu Học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi
trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới cô giáo - Thạc sĩ Trịnh Thị Xỉnh đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp
nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy (cô) trong Khoa Giáo dục Tiếu Học đế đề tài được hoàn thiện hơn.


Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7 tháng 5 năm 2015 Người thực hiện
LỜI CẢM

Trần Thị Yến
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khoá luận là
kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của cô giáo Thạc sĩ Trịnh Thị Xinh kết quả nêu trong đây là hoàn toàn trung thực và


1. Lí do chọn đề tài
3.4

về mặt lí luận: Các nhà tâm lí học, giáo dục học đều nhận định

3.5

K.D.U- Sinxki : “Tất cả những ai muốn trở thành công dân có ích

rằng:
truớc hết phải học cách làm người”. Học cách làm người ở đây chính là tu dưỡng
phẩm chất đạo đức của mình. Bởi như A-ri-xtot đã nói: “Thiên nhiên đã trao vào
vòng tay con người một vũ khí đó là sức mạnh và đạo đức, nhưng con người có
thể sử dụng vũ khí theo những hướng ngược lại. Vì thế con người thiếu những
nguyên tắc đạo đức sẽ là một con người bất lương và hoang dã, thấp hèn trong
những bản năng".
3.6

Những triết lí trên đã khẳng định định vai trò của đạo đức và giáo

dục đạo đức đối với việc quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách con người.
Vì vậy giáo dục đạo đức cho con người là việc làm có tầm quan trọng và rất cần
thiết. Đe giáo dục đạo đức có rất nhiều phương tiện, xong một phương tiện không
thể thiếu đó là cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học thông qua các tác phẩm
văn học để bồi dưỡng cho trẻ những giá trị đạo đức tốt đẹp. Văn chương quả là
một phương tiện xuất sắc bồi bổ tâm hồn trẻ thơ. Cho trẻ làm quen với các tác
phẩm văn học là một hoạt động quan trọng trong trường mầm non, được tổ chức
có hệ thống nhằm giáo dục đạo đức và phát triển toàn diện cho trẻ.
3.7


luận và thực tiễn” đã đưa ra vai trò của giáo dục đối với trẻ thơ.
3.11

Nguyễn Văn Tuân “Sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu

giáo 5 - 6 tuổi” Đại học sư phạm Hà Nội năm 1997.
3.12

Đào Thị Mi “Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ Mầm

Non” Đại học sư phạm Hà Nội năm 2000.
3.13

Môn Thị Xuyến “nghiên cún mức độ lĩnh hội một số kinh nghiệm

đạo đức quy tắc hành vi qua hình ảnh của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi” Đại học sư phạm
Hà Nội năm 1998.
3.14

Tạp chí (số 4-2008) có bài giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm

non của TS. Tạ Ngọc Thanh cũng có đề cập việc hình thành đạo đức cho trẻ,
những yếu tố tác động đến việc hình thành và một số cách thực hiện.
3.15

Còn rất nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này nhưng chưa tác giả

nào đề cập cụ thể đến thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực thị

cho trẻ mẫu giáo lớn ở 3 trường mầm non khu vực thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh
Phúc (trường mầm non Xuân Hòa - mầm non Hoa Hồng - mầm non Hùng
Vương).

6. Giả thuyết khoa học
-

Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua “cho trẻ làm quen
với các tác phẩm văn học” ở một số trường mầm non khu vực thị xã Phúc Yêntỉnh Vĩnh Phúc” là chưa tốt. Xuất phát từ một số nguyên nhân sau : Sự phối họp
giữa giáo dục của gia đình và nhà trường chưa chặt chẽ. Trình độ giáo viên chưa
cao, giáo viên chưa khai thác hết được khả năng giáo dục đạo đức qua các tác
phẩm văn học, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
các tác phẩm văn học chưa họp lí.


7. Nhiệm vụ nghiên cún
-

Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài.

-

Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động
“cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học” ở một số trường mầm non khu vực
thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.

-

Phân tích thực trạng để chỉ ra ưu và nhược điểm giúp giáo viên trong việc giáo
dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn.

một số trường mầm non khu vực thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.

-

Tháng 5/2015: Tổng kết, đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức cho trẻ thông
qua các tác phẩm văn học. Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ.

10. Cấu trúc đề tài nghiên cứu
-

Phần 1 : Mở đầu.
Phần 2 : Nội dung
3.18 + Chương 1 : Cơ sở lí luận về việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua hoạt động « cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học » ở một số
trường mầm non khu vực thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.


3.19

+ Chương 2 : Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua

hoạt động « cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học » ở một số trường mầm
non khu vực thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
3.20

+ Chương 3 : Nguyên nhân và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với
các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực thị xã Phúc Yên
-

Dao due lä mot to hop nhüng nguyen täc hay lä nhüng quy täc,

nhüng chuän sinh hoat chung trong xä hoi nhäm dieu chinh su üng xü cüa con
nguoi trong moi lrnh vue cüa doi söng, dam bäo cho xä hoi mot trat tu nhät dinh
cän thiet cho su tön tai vä phät trien cüa nö.
1.1.3.

Khäi niem ve giäo due dao dirc
3.27

Giäo due dao düc lä quä trinh täc dong cö muc dich, cö ke hoach


cho tre nhüng hieu biet ve cäc quy täc, chuän muc xä hoi dang söng. Tu dö hinh
thänh nhüng phäm chät dao düc, nhüng net tinh each cüa con nguö'i Viet Nam
moi.
1.1.4.

Khäi niem vegiäo due dao dwe cho tre mäu giäo l&n
3.28

Giäo due dao düc cho tre mäu giäo Ion lä quä trinh täc dong cö

muc dich, cö ke hoach cüa nhä giäo due nhäm giüp tre em cö nhüng net tinh cäch,
phäm chät dao düc vä böi duong cha cäc em nhüng tieu chuän vä quy täc hành vi
quy định thái độ của chúng đối với nhau, đối với gia đình, đối với người khác, đối
với Nhà nước và Tổ Quốc.
1.2.

Một số khái niệm về trẽ em mẫu giáo

1.3.

Một số khái niệm về tác phẩm văn học


1.3.1.

Khái niệm về tác phẩm văn học
3.32

Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của

tiến trình lao động nghệ thuật (hoạt động sáng tác) của cá nhân, nhà văn hoặc kết
quả của sự lỗ lực sáng tác tập thể.
1.3.2.

Khái niệm về tác phẫm văn học cho trẻ mẫu giáo lởn
3.33

Qua tìm hiểu các tài liệu tôi đưa ra khái niệm tác phẩm văn học cho

trẻ mẫu giáo lớn như sau:
3.34

Tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn là các tác phẩm văn học có

giá trị nhân văn và ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.
Các tác phẩm văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tượng thiên
nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về những gì gần gũi trong môi
trường sống của trẻ như: làng quê, cánh đồng, dòng sông, phiên chợ, lóp học, khu

động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ. Trẻ lứa tuổi này
đã có thể học đọc và học viết. Ngoài ra, số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ
của trẻ giảm còn 11 giò' trên một ngày.
3.37

về hệ vận động, trẻ 5-6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều

nhóm cơ như người lớn. Còn việc tiếp thu những thói quen vận động còn phụ
thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là luyện tập phù họp.
3.38

về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ 5-6 tuổi cũng tăng lên và

biến đổi về chất: huyết sắc tố: 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu: 7-10
nghìn, tiều cầu 200- 300 nghìn. Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ
80-110 lần trên phút.
3.39

về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ

phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
1.4.2.

Đặc điếm tâm lí
3.40

Trẻ lứa tuổi này sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp

sinh hoạt hằng ngày. Trẻ nắm vững được ngữ âm và ngữ điệu một cách phù hợp
với nội dung giao tiếp. Trẻ thường sử dụng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm

Đe đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học

cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá về mình như
thế nào.
3.45

Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác (cử chỉ, phẩm chất)

còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của nó đối với người này. Trẻ mẫu giáo thường
lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như thước để đánh giá người khác
và đánh giá bản thân. Nhung do tình cảm còn chi phối mạnh nên không cho phép
nó dùng thước đo ấy để đánh giá hành vi của những người khác cũng như của
chính mình một cách khách quan. Đen tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kĩ năng so
sánh mình với người khác, điều này là cơ sở đế tự đánh giá một cách đúng đắn
hon và cũng là cơ sở để mọi trẻ noi gương những người tốt, việc tốt.
3.46

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn thể hiện rõ trong sự phát triển

giới tính của trẻ. Ở tuổi này trẻ không những nhận biết được mình là trai hay gái
mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào
cho phù hợp với giới tính của mình. Ớ đây tấm gương của người lớn tác động rất
mạnh đến trẻ.
3.47

Vì thế, giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn đã dễ dàng hơn

nhiều vì trẻ đã lớn hơn, hiểu biết hơn, ý thức và tự ý thức cũng phát triến. Trẻ
không còn phụ thuộc nhiều vào người khác nữa, trẻ đã biết tự suy nghĩ về hành



Một mặt quan trọng của trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí

cho việc học tập là làm sao cho trình độ phát triển ý trí của trẻ đủ sức để có thể
điều chỉnh hành vi của mình tuân theo nội quy của nhà trường và thực hiện những
yêu cầu của giáo viên hay tập thế lớp đề ra, tự giác tuân theo quy định nơi công
cộng.
3.53

Những hoạt động như quan sát, trí nhớ, tư duy...cần phải đạt tới

mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức khoa học một cách dễ dàng.
3.54

Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về tâm lí cho việc học tập ở

trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh chóng
gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách
nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung. Đó là những động cơ xã hội hành vi, là


cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và duy trì những mối quan
hệ qua lại lẫn nhau với bạn cùng lứa tuổi.
3.55

Chính vì thế khi giáo dục đạo đức trẻ mẫu giáo lớn người ta đã chú

ý để giáo dục trẻ các quy tắc, lễ nghi, phép lịch sự cần có cũng như trang bị cho
trẻ một số kĩ năng cần thiết... Đe trẻ tự tin bước vào một môi trường mới với hoạt
động chủ đạo mới.

giáo dục đạo đức cao cả, phù hợp với lứa tuổi mà tâm hồn tình cảm đang trong
như suối tận nguồn. Ớ trường mẫu giáo, khi tiếp xúc với tác phẩm văn học qua
nghe, đọc, kể diễn cảm và sự dẫn dắt của cô giáo, những ấn tượng nghệ thuật mà
trẻ thu nhận được sẽ hình thành ở các em những phẩm chất đạo đức bền vững.
Không ai có thể phủ nhận vai trò của cái đẹp trong giáo dục đạo đức bởi “thông


qua cái đẹp vươn tới nhân tính” - (V.G.Bbielinxki, nhà nghiên cún văn học Nga
thế kỉ XIX). Vì vậy cái đẹp phải được coi là phương pháp cơ bản nhằm khơi gợi
nhũng tình cảm đạo đức cho trẻ.
3.60

Ngôn ngữ thể hiện cái tinh hoa của dân tộc, của Tổ Quốc. Từ ngôn

ngữ toàn dân, bằng sức sáng tạo của người nghệ sĩ, vẻ đẹp lóng lánh của ngôn ngữ
nghệ thuật đã truyền đến cho các em tình yêu Tổ Quốc, yêu tiếng mẹ đẻ.
3.61

Qua vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước những hành động tình cảm

cao quý của con người thể hiện trong các tác phẩm giáo dục trẻ tình yêu Tổ Quốc,
yêu nhân dân, ý thức giữ gìn bảo vệ cây xanh, có cách đối xử hiền từ với mọi sinh
vật trên trái đất, xác lập hành vi, thái độ của con người đối với các hiện tượng của
đời sống. Bảo vệ thiên nhiên, chinh phục tự nhiên là một trong những vấn đề sống
còn thời đại chúng ta và mai sau, nó trở thành đạo đức của ngày hôm nay. về
những vấn đề này, chúng ta có thể thấy rất nhiều trong những áng ca dao, những
bài thơ, nhũng đoạn văn, những câu chuyện dành cho trẻ em.
3.62

Tinh yêu thiên nhiên vốn là khởi điểm của tình yêu đất nước. Trong


Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu
giáo
3.67

Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tạo văn học nói

chung, vì thế nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ.
Nhung do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên nó có những đặc điểm được
nhấn mạnh.
3.68

Trước hết tính giáo dục được coi là một trong nhũng đặc trung cơ

bản nhất của văn học dành cho thiếu nhi. Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to
lớn trong việc giáo dục toàn bộ nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ, thấm mĩ.
Nhà văn Tô Hoài người có kinh nghiệm trong sáng tác cho các em đã khẳng định
tầm quan trọng của chức năng này: “Nội dung một tác phẩm văn học viết cho
thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người. Nói thì
thừa cân nhắc lại giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là
một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy”.
3.69

Để thực hiện tốt chức năng giáo dục, tác phẩm văn học phải thực

sự là người bạn đồng hành, đối thoại đối với trẻ em. Nhà văn không thể nói các
em bằng những lời thuyết giáo khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ thuật,
bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng để khơi gợi, dẫn dắt các em tìm hiểu và khám
phá thế giới. Các em cần phải biết phân biệt cái hay cái dở, cái cao quý, cái thấp
hèn trong cuộc sống. Văn học phải mang lại cho trẻ thơ cái đẹp, cái cao quý, cái

nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ và những sáng tác của các em thực
sự cuốn hút người đọc chính bởi sụ hồn nhiên, ngây thơ, trong trẻo của các em. Ví
dụ:
3.72

Hôm nay trời nắng chang

chang Mèo con đi học chẳng mang
cái gì Chỉ mang một cái bút chì Và
mang một mẩu bánh mì con con.
3.73
3.74

(Phan Thị Vàng Anh)

Người lớn muốn viết cho các em phải học được sự hồn nhiên, ngây

thơ ấy thì tác phẩm mới hi vọng đem lại sự thành công. Tất nhiên không phải sự
hồn nhiên theo kiếu “cưa sừng làm nghé”, kiếu cố tình làm ra vẻ ngây ngô (trở


thành ngây ngô) mà phải thực sự hiểu để có thể hóa thân sống cùng con trẻ. Ngắn
gọn và rõ ràng
3.75

Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng của tác phẩm mà còn

thể hiện trong cả câu văn, câu thơ. Văn xuôi thường thể hiện bằng câu đơn, ngắn,
ít khi dùng câu phức hợp. Nhan đề của tác phẩm bao giờ cũng cụ thể, thường đúc
kết ngay ý nghĩa giáo dục, có khi là tên nhân vật chính, hoặc có một câu hỏi mang

Bài thơ “Mời vào” của Võ Quảng như một hoạt cảnh vì không chỉ

vì sự xuất hiện ngộ nghĩnh của nhân vật cùng với các sự kiện mà còn bởi sự kết
họp của các thanh trắc, thanh bằng tạo nên nhạc tính của bài.
3.81

Sử dụng tù’ ngũ’ chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu


3.82

Đặc biệt là có nhiều từ tượng hình, tượng thanh, nhiều động từ, tính

từ miêu tả, tính từ chỉ màu sắc... tạo nên sắc thái vui tươi, vừa khêu gợi, kích thích
trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, vừa tác động nhấn mạnh đến nhận thức, tư
tưởng, tình cảm của trẻ. Ví dụ: Bài thơ “Hoa kết trái” - Thu Hà.
3.83

Nhờ hàng loạt tính từ miêu tả (chói chang, nho nhỏ, xinh xinh), các

từ tượng hình (đốm lửa, rung rinh...) và các từ chỉ màu sắc (tim tím, vàng vàng,
đỏ, trắng tinh), bài thơ đã vẽ lên một bức tranh thật sinh động và mảnh vườn, giúp
trẻ có thể hình dung về các loài hoa với những màu sắc và hình dáng cụ thể.
3.84

Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện

3.85

Đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật trong sáng tác cho trẻ em lứa

3.88

Ỷ nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng

3.89

Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo

dục. Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ đến
tâm hồn và nhận thức của con người. Nhất là lứa tuổi mầm non, văn học đặc biệt
là thơ ca càng có sự tác động nhanh nhạy. Tuy nhiên, lứa tuổi này chỉ có thể “đọc”
tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy logic lại chưa phát triển nên hầu hết
chưa có khả năng suy luận, phán đoán. Chính vì thế, mỗi tác phẩm văn học phải
đem đến cho trẻ một ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng.
1.6.2.

Vai trò của các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu

giáo lớn
3.90

Văn học có vai trò to lớn không gì có thể thay thế được trong việc

hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Việc cho trẻ làm quen với
các tác phẩm văn học từ lâu đã được đặt ra như một nội dung, một phương tiện vô
cùng quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ.
3.91

Tác phẩm văn học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành


3.96

Ví dụ: Trong truyện “Đôi bạn tốt” chính tình bạn chân thành và sự

yêu quý của bạn Vịt, Vịt đã không sợ nguy hiểm lao đến cún bạn Gà con giúp bạn
Gà thoát chết và không bị Cáo ăn thịt. Bạn Vịt như một tấm gương tốt về đạo đức
và tác động đến các bạn nhỏ về tình bạn.
3.97

Tác phẩm văn học còn giúp hình thành hành vi, thói quen hành vi

đạo đức cho trẻ.
3.98

Trong bài thơ: “Cô dạy” - Phạm Hổ. Bài thơ là những lời cô dạy trẻ

những hành vi, thói quen tốt trong lớp học, phải được thực hiện thường xuyên,
mọi lúc mọi nơi. Bài thơ dạy trẻ biết giữ sạch đôi tay, không cãi nhau hay đánh
nhau với các bạn trong lóp.
1.6.3.

Hình thức tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với các tác phẩm văn học
3.99

Trẻ mẫu giáo chưa đọc và chưa viết được. Trẻ đến lớp với tâm hồn

đón đợi hướng về cô giáo. Cô là cầu nối trẻ với các tác phẩm. Phương pháp đọc và
kể lại tác phẩm có nghệ thuật được coi là phương pháp chủ đạo. Đọc có sự sáng
tạo của cá nhận làm cho tác phẩm văn học vốn là những kí hiệu thẩm mĩ sống dạy,
cất tiếng nói. Cô giáo cần sử dụng mọi sắc thái của giọng mình cùng với các hình



đã có những bước cải tiến đáng kể vượt qua giai đoạn kinh nghiệm thuần túy để
xây dựng một cơ sở lý thuyết khoa học của tâm lí học và giáo dục học hiện đại.
1.6.4.

Các yêu cầu khi giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua hoạt động cho

3.102 trẻ làm quan với cấc tắc phẩm văn học
1.6.4.1.

Yêu câu khi lựa chọn các tác phấm vẫn học
3.103

Các tác phẩm văn học giành cho trẻ phải có nội dung lành mạnh,

phù họp với chủ đề giáo dục.
3.104

Các tác phẩm thơ, truyện cần súc tích, cô đọng, phân biệt rõ cái gì

tốt cái gì xấu, đâu là thiện đâu là ác, dễ hiểu dễ nhớ, phù hợp với độ tuổi của trẻ.
3.105

Các bài thơ câu chuyện phải kích thích phát triển tình cảm ở trẻ.

3.106 Ị.6.4.2. Yêu cầu khi khai thác nội dung giáo dục cho trẻ từ các tác phắm
văn học
3.107



đồng thời đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ. Tình yêu cũng chính là gốc đạo đức của
con người. Chính vì vậy, giáo dục lòng nhân ái cần được coi là nhiệm vụ trung
tâm của công tác giáo dục đạo đức cho trẻ.
-

Giáo dục lòng nhân ái cho trẻ bao gồm những nội dung cơ bản sau:
3.111

+ Giáo dục tình yêu gia đình: trẻ biết yêu quý nhũng người thân

trong gia đình như: Ông bà, bố mẹ, anh chị em. cần giúp cho trẻ hiểu mọi người
trong gia đình đều gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, cần thường xuyên sống hòa
thuận và quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Trong gia đình ai cũng làm việc và học
hành đó là những việc làm nghiêm túc có ích cho gia đình và xã hội, cần được tôn
trọng và không được quấy rầy, vòi vĩnh khi bố mẹ đang làm việc, anh chị đang
học.
3.112

+ Giáo dục tình yêu thương và thái độ quan tâm đối với mọi người

gần gũi xung quanh.
3.113

Yêu mến và sẵn sàng giúp đỡ cô giáo và các bạn trong lóp, kính

trọng và quan tâm giúp đỡ người già yếu, yêu mến nhường nhịn và chăm sóc các
em nhỏ, niềm nở với mọi người.
3.114


Ở lứa tuổi nhà trẻ thì trẻ thường hay chơi một mình nhưng sang

đến mẫu giáo lớn thì trẻ đã bắt đầu chơi với nhau. Lue này mối quan hệ giữa các
trẻ bắt đầu phát triển, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành tính
cách, đến bộ mặt đạo đức của từng trẻ. Đó là quan hệ bạn bè. Vì vậy cần chú ý
giáo dục tình cảm bạn bè, thương yêu, đoàn kết, nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè...
3.119

Song tùy theo lứa tuổi mà có nội dung giáo dục phù họp. Đối với

trẻ mẫu giáo lớn cần giáo dục trẻ kĩ năng hoạt động chung, phối hợp với nhau
trong các nhóm chơi, mở rộng nhóm chơi, cần kịp thời biểu dương những hành vi
tốt, uốn nắn ngăn chặn những hành vi không tốt đế hình thành ở trẻ tình cảm bạn
bè. Trẻ mẫu giáo lớn nhận ra và biết các quy tắc ứng xử trong quan hệ bạn bè. Vì
vậy, giáo dục quan hệ bạn bè lúc này cần quan tâm mở rộng vốn kinh nghiệm về
tình bạn bè tốt, cách cư xử, cụ thể như: Đoàn kết quan tâm lẫn nhau, giúp đỡ và
học tập lẫn nhau. Từ đó mà dần dần trẻ mẫu giáo có được tình cảm yêu thương
gắn bó với nhau về tình cảm bạn bè.
3.120

Giáo dục tình cảm bạn bè cho lứa tuổi mẫu giáo lớn vừa là một

nhiệm vụ đức dục quan trọng, vừa là công việc phức tạp, tế nhị, đòi hỏi cô giáo
cần nắm vững nội dung cơ bản theo từng độ tuổi đế tác động kịp thời đúng đắn.
-

Giáo dục những quy tắc lễ phép văn hóa, những đức tính tốt.
3.121

Trong cuộc sống hằng ngày, cần giáo dục cho trẻ những quy tắc lễ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status