Thế giới nhân vật loài vật trong các tác phẩm văn học ở chương trình tiếng Việt Tiểu học phạm thị kim thoa - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đều biết, trẻ em luôn có nhu cầu tìm hiểu và khám phá
môi trường xung quanh, trong đó loài vật là một thế giới vô cùng phong phú,
chứa đựng nhiều điều hấp dẫn đối với các em. Từ đây, các em biết được nhiều
điều kì thú, học thêm được nhiều kiến thức quan trọng trong cuộc sống. Và
chắc hẳn trong chúng ta, tuổi thơ của ai cũng từng gắn liền với những trò chơi
như thả diều, chọi dế, cùng đám bạn bắt cá, bắt chim Ở các vùng miền cũng
thường xuyên tổ chức các lễ hội như chọi trâu, chọi gà làm phong phú thêm
đời sống tinh thần cho con người và các loài vật trở nên gần gũi hơn với
chúng ta. Lứa tuổi học sinh tiểu học đang hết sức ngây thơ, trong sáng, các
em chỉ mới tiếp cận được với thế giới xung quanh thông qua những gì gần
gũi, thân thuộc nhất như cây cối, các đồ vật, các con vật, Trong số đó, có
thể nói, các con vật là người bạn thân, các em dành tình cảm yêu thương và có
thể tâm tình, cùng nhau vui chơi, tinh nghịch, cũng có thể dùng các con vật
làm đồ chơi. Và thế giới đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà văn
viết lên những tác phẩm để đời. Những loài vật bình thường qua ngòi bút của
người nghệ sĩ đã trở nên ngộ nghĩnh, sinh động với tư tưởng, tình cảm và
cuộc sống như con người. Nhân vật trong tác phẩm đại diện cho những tính
cách con người trong xã hội, vì vậy các em sẽ phần nào thấy được bản thân
mình và những người xung quanh trong đó. Qua đây, học sinh có thêm hiểu
biết về thế giới loài vật, nhận thức được cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu, cách
xử sự, hành vi phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội. Từ đó, hình
thành những nền tảng ban đầu về mặt đạo đức, giúp các em có cái nhìn đúng
đắn qua các mối quan hệ trong việc giao tiếp hàng ngày, có lí tưởng sống cao
đẹp, là công dân tốt, có ích cho xã hội, điều này thấy được thông qua thái độ
ứng xử với ông bà, cha me, anh chị em ruột trong gia đình, với thầy cô giáo,
bạn bè
1
Trong chương trình Tiểu học, mục tiêu của môn tiếng Việt không chỉ
nhằm hình thành cho các em những kỹ năng sử dụng tiếng Việt như nghe, nói,

cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy
trong sáng tác”. Quả đúng như vậy nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng,
chủ đề của tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác
phẩm. Thành bại của một đời văn, của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào
việc xây dựng nhân vật” [2; tr 40]. Ngoài ra, trong cuốn Văn học - Giáo trình
đào tạo giáo viên Tiểu học, Trần Đình Sử cho rằng: “Nhân vật văn học là hiện
tượng thể hiện con người trong văn học có cấu trúc riêng với những yếu tố
hợp thành nó cũng như ngôn ngữ nhân vật”, và “nhân vật là một hình tượng
nghệ thuật do nhà văn xây dựng bằng tài nghệ của mình” [4; tr 85].
Chúng tôi nhận thấy, các công trình kể trên đã đề cập đến những vấn đề
lí luận về nhân vật một cách khái quát. Đó là nguồn tài liệu tham khảo quan
trọng giúp chúng tôi có cơ sở lí luận chung cho việc nghiên cứu đề tài “Thế
giới loài vật trong các tác phẩm văn học ở chương trình tiếng Việt Tiểu
học”.
Nhân vật loài vật thường xuất hiện trong các tác phẩm truyện cổ tích,
truyện ngụ ngôn và truyện đồng thoại. Ở cuốn Góc nhìn về cấu trúc ca dao và
truyện ngụ ngôn, tác giả Triều Nguyên đã nói tới các đặc điểm của nhân vật
loài vật trong truyện ngụ ngôn như: Nhân vật gắn với cốt truyện, thống nhất
với cốt truyện; nhân vật theo chức năng, vai trò vạch sẵn để thực hiện một
nhiệm vụ mà cấu trúc quy định; nhân vật có tính cách, đặc điểm ổn định, cố
định suốt truyện; tính cách ấy quyết định kết cục truyện; nhân vật chỉ có một
hành động hay một vài hành động cùng loại hay cùng mục đích theo đúng
tính cách đã định; nhân vật hoạt động trong môi trường riêng biệt
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có tham khảo khoá luận tốt nghiệp
của Đậu Thị Loan “Thế giới nhân vật trong các tác phẩm thơ ở Tiểu học”.
Khóa luận đề cập đến những lí luận chung về nhân vật và hệ thống nhân vật
trong các tác phẩm ở chương trình Tiểu học, trong đó có nhân vật loài vật.
Qua việc điểm xuyết các bài viết, các công trình nghiên cứu về nhân vật
và nhân vật loài vật, chúng tôi nhận thấy các tác giả đi trước đã phần nào giúp
3

- Tìm hiểu thế giới nhân vật loài vật và trong các tác phẩm văn học, rút
ra ý nghĩa và bài học góp phần giáo dục học sinh Tiểu học.
Tất cả những nhiệm vụ này đều định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục các em trong nhà trường Tiểu học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Thống kê các tác phẩm văn học ở
chương trình tiếng Việt Tiểu học có nhân vật loài vật từ đó phân loại rõ các
kiểu nhân vật với từng đặc điểm cụ thể trong một số thể loại văn học.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các nhân vật loài vật trong
tác phẩm văn học để thấy được đặc điểm của loài vật từ đó tổng hợp, khái
quát và đưa ra kết luận chung.
- Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu thế giới nhân vật loài vật trong các tác
phẩm văn học ở chương trình Tiểu học phải dựa trên hệ thống các đặc điểm
phương diện nghệ thuật tác phẩm. Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ
thống hóa thế giới nhân vật loài vật trong tác phẩm văn học ở chương trình
Tiểu học.
- Phương pháp so sánh: So sánh để thấy được điểm khác biệt giữa nhân
vật loài vật và các nhân vật khác cũng như đặc trưng của các nhân vật loài vật
trong các thể loại văn học khác nhau.
Tất cả những phương pháp trên đều phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm
rút ra những ý cơ bản nhất liên quan đến đề tài. Trên cơ sở những kiến thức
về tâm lí học, giáo dục học và những quan điểm, đường lối của Đảng, những
chuẩn mực, quy phạm đạo đức của xã hội. Những tác phẩm văn học, lí luận
và văn học đại cương, lí luận liên quan đến đặc điểm ngoại hình, tính cách,
ngôn ngữ của các nhân vật loài vật.
6. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận, đề tài nghiên cứu thế giới nhân vật loài vật trong tác
phẩm văn học ở chương trình Tiểu học, từ đó phân loại, làm rõ các vấn đề về

đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với
những nét rất gần với nguyên mẫu có thật, có những dấu hiệu để nhận biết:
tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng
Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự
phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu
đó. Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo
trước về số phận của mỗi người sau này. Các nhà lí luận cũng nhấn mạnh đến
tính nghệ thuật, tính ước lệ của nhân vật văn học. Nhân vật văn học không
hoàn toàn giống như con người thật ngoài đời vì chúng có những đặc trưng
nghệ thuật và được thể hiện trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học
thông qua quan niệm và biện pháp nghệ thuật của nhà văn, nhưng không vì
thế mà chúng kém phần chân thật. Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu
nhân vật văn học.
Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về
con người; nó chỉ có thể được xây dựng dựa trên quan niệm ấy. Ý nghĩa của
nhân vật văn học chủ yếu có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể.
Nhân vật văn học là một trong những quan niệm trung tâm để xem xét sáng
tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách.
7
Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những hiện
tượng văn học như văn học về “con người thừa” (ở văn học Nga thế kỉ XIX),
văn học về “thế hệ vứt đi”(ở Mĩ thế kỉ XX)…
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn
học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng hoặc không có tên riêng. Khái niệm
nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con
người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm.
Chẳng hạn có thể nói nhân dân là nhân vật chính trong "Đất nước đứng lên"
của Nguyên Ngọc.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng, nhân vật trong tác
phẩm văn học chính là con người hoặc con vật, các loài cây, các sinh thể

được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc
đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất
lượng miêu tả , có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại
nhân vật khác nhau. Để hiểu được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có
thể tiến hành phân loại ở nhiều góc độ khác nhau.
Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật, có thể nói đến
nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu
cực)
Xét từ góc độ kết cấu, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật
chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.
Xét từ góc độ thể loại, có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ
tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch.
Xét từ góc độ chất lượng miêu tả, có thể phân thành các loại nhân vật:
nhân vật tính cách, nhân vật điển hình.
Có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại nhân vật văn học. Ở đây,
chúng tôi tập trung vào nhân vật con người, nhân vật loài vật và nhân vật đồ
vật.
1.1.2.1. Nhân vật con người
"Văn học là nhân học" (M. Gorki)
Ðối tượng của văn học là con người. Những sự kiện kinh tế, chính
trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần
tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng
9
tác phẩm văn học chính là nhân vật. Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc
nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư
của những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho
rằng: "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong
một sáng tác"
Ngày nay đối với văn học không chỉ có vấn đề tốt xấu hay đúng sai mà
còn có vấn đề chiều sâu của nhận thức. Nghệ thuật phải làm cho con người

chị.
Con người trong văn học cũng thể hiện sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo lớn
lao, sự trái ngược giữa ách thống trị với con người có vẻ đẹp tâm hồn và tình
yêu, không chịu bị áp bức mà đứng dậy đấu tranh và một lòng theo cách
mạng, giành lấy sự tự do. Vợ chồng A Phủ đã để lại trong lòng người đọc vẻ
đẹp của lòng nhân đạo, tình yêu thương đồng cảm sâu sắc với những kiếp
người nghèo khổ. Qua nhân vật Mị nhà văn đã làm hiện lên vẻ đẹp của một
sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người phụ nữ miền núi nói riêng và người
phụ nữ Việt Nam nói chung. Sức sống tiềm tàng ấy giúp nhà văn khẳng định
được sức mạnh của tâm hồn con người Việt Nam và chân lí muôn đời: ở đâu
có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng
lên một cách tự phát như Mị. Đây chính là cuộc đấu tranh đi lên từ tự phát
đến tự giác theo ánh sáng của cách mạng. Đó là giá trị nhân văn ngời sáng của
tác phẩm.
1.1.2.2. Nhân vật loài vật
Loài vật xuất hiện trong các tác phẩm văn học luôn tạo ấn tượng đẹp
với người đọc. Loài vật làm nhân vật chính đôi khi mang đến giá trị biểu đạt
nội dung to lớn. Tác phẩm Ngàn dặm xa của tác giả Nguyễn Đình Chính là
câu chuyện dễ thương về cuộc phiêu lưu của nhân vật kiến nâu, được khai
thác với nhiều chi tiết mang chất huyền thoại cùng với trí tưởng tượng phong
phú và thông minh của người viết. Dế mèn phiêu lưu ký – tác phẩm xây dựng
hình ảnh dế mèn tuyệt vời của nhà văn Tô Hoài đã chinh phục bao thế hệ độc
11
giả. Tuổi thơ có trí tưởng tượng vô bờ bến, vì thế những tác phẩm sáng tác
cho các em đều phải mang những yếu tố giúp phát triển những khả năng đó.
Nhà văn Tô Hoài với Dế Mèn, với Chim Gáy, đã biến những con vật tưởng
chừng như vô tri hiện hữu trước mắt người đọc một cách sinh động, chúng
cũng có cuộc sống, xã hội như con người. Có thể nói Dế Mèn phiêu lưu ký là
một tác phẩm “đi cùng năm tháng” với các độc giả nhỏ tuổi và cả người lớn.
Thế giới loài vật cũng rất phong phú với những câu chuyện về cây cỏ, chim

lưu của Mũi tên xanh của G. Rodari; Con chim sẻ nhỏ của M. Gorki; Chuyện
phiêu lưu của Mít Đặc và Biết Tuốt của N. Nốtsốp; Ba con gấu của L.
Tônxtôi.
Được khai thác nhiều nhất - nhưng chưa bao giờ gây nhàm chán cho
người đọc - là chó, loài vật gần gũi và trung thành nhất với con người. Từ
Chó hoang Đin-gô của nhà văn Nga R. Phar Er Man, Tiếng gọi nơi hoang dã,
Nanh trắng của Jack London đến Chú chó Shiloh của Phyllis Reynolds
Naylor hay Con Bim trắng tai đen của G. Trôiepônxki mỗi tác phẩm đều để
lại những ấn tượng thật sâu trong lòng người đọc. Bởi không chỉ là những
miêu tả về thế giới của loài vật trung thành này, mà tác phẩm nào cũng lồng
ghép vào đó số phận bi thương và những cung bậc cảm xúc mang chất người
cho các nhân vật đặc biệt. Còn tác giả người Mỹ Stuart Avery Gold lại chọn
hình ảnh con ếch để làm bật lên khát vọng mãnh liệt muốn vươn ra ngoài biển
lớn. Ước vọng tưởng chừng như xa vời này của chú ếch Ping (trong tác phẩm
Ping - Vượt khỏi ao tù và Ping – Hành trình ra biển lớn) đã làm thổn thức
hàng triệu trái tim độc giả khắp thế giới. Hay như chú ong Buzz với hành
trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống trong Tồn tại hay không tồn tại (Jonh
Penberthy) cũng hàm chứa nhiều bài học sâu xa. Riêng Đồi thỏ của nhà văn
Anh Richard Adams lại được so sánh như một thiên sử thi hào hùng về hành
trình di cư vĩ đại của loài thỏ cùng cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt với thiên
nhiên và cả con người. Đồi thỏ đã vinh dự được bầu chọn là một trong những
tác phẩm văn học hay nhất mọi thời đại.
Thế giới loài vật trong các phẩm ở chương trình Tiểu học cũng vô cùng
phong phú, đa dạng với những con vật thân thuộc trong cuộc sống con người.
13
Đó có thể là chú chuồn chuồn nước rất đẹp với cái lưng màu vàng lấp lánh,
bốn cái cánh mỏng như giấy bóng, cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như
thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu. Chú
chuồn chuồn hiện lên trước mắt người đọc với một vẻ đẹp nhẹ nhàng, lung
linh. Hay ta cũng có thể bắt gặp những chú vịt, chú thiên nga đang tung tăng

vật, sự vật: từ chiếc ấm đất, cái lư đồng cây đàn đáy, đến món ăn hay con
sông… Tâm hồn nghệ sĩ và ngòi bút tài hoa đã phổ vào những vật vô tri vô
giác ấy hơi thở và tiếng nói con người, qua nhân vật đồ vật để nói về triết lí và
thân phận người.
Liên quan hữu cơ với chức năng của đồ vật trong việc khắc họa tính
cách là chức năng kết cấu - cốt truyện. Để lấy ví dụ về vai trò này, người ta
thường hay dẫn vở bi kịch Othello của Shakespeare với chi tiết “chiếc khăn
tay của Desdemona”. Nhiều nhà văn đặt nhan đề tác phẩm bằng tên đồ vật,
nhấn mạnh vai trò cốt truyện, leitmotif mà đồ vật đảm nhiệm: Con đầm pích
(Pushkin), Chiếc áo khoác (Gogol), Vườn anh đào (Chekhov), Miếng da lừa
(Balzac), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Bức tranh (Nguyễn Minh
Châu)… “Con đầm pích” vừa là nhan đề tác phẩm, vừa là tên con bài chủ
chốt quyết định thắng bại, vừa mang tính chất quyền uy và khuôn mặt bí ẩn
của bá tước phu nhân. Đọc truyện Chiếc áo khoác, trước hết, “chiếc áo
khoác” là động cơ, thúc đẩy sự tiến triển câu chuyện, là một đam mê, lớn hơn
cả sự sống và cái chết. Về tính cốt truyện, ‘chiếc áo khoác” liên hệ hữu cơ với
hình ảnh “con người bé nhỏ”. Nó tượng trưng cho sự nghèo khổ, tình trạng
thảm hại, vị trí xã hội của Akaki, cách thức ông tồn tại – tồn tại với bổn phận
công chức quèn với sự đam mê trong tuyệt vọng, một đồ vật xoàng xĩnh với
một thế giới không tình đồng loại. Những đồ vật thường ngày nhất có thể
đánh mất tình trạng “đồ vật” của mình, trở thành phương tiện thể hiện chiều
hướng tâm linh, sự chiêm nghiệm về cuộc sống. Hình tượng ngọn nến trong
tác phẩm Bác sĩ Zhivago được lặp nhiều lần, tạo nên một tập hợp tổ chức cốt
truyện: gặp gỡ - li tán, chết - sống, số phận - bất tử…
Dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ, nhân vật chính diện hay nhân
vật phản diện, nhân vật con người hay nhân vật loài vật thì đó vẫn là đứa con
15
tinh thần của nhà văn, là nơi chứa đựng nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề
của tác phẩm. Vì thế nhân vật dựng lên không phải là con người thật nên
không thể phán xét nó ở ngoài đời mà phải đặt trong mối quan hệ tình huống

niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một
nhân vật, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn
liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn
liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn
liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí
Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh
hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Đằng
sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác,
tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người.
Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc
sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình
mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là
cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính
vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời.
Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để
hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc
đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị Sứ trong Hòn Ðất ) nhưng
cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc
đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề
của hiện thực cuộc sống. Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm
nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống
mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác
giả".
Nói tóm lại, nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm văn
học. Tất cả tinh thần, tư tưởng của tác phẩm mà nhà văn gửi gắm đều được
thể hiện qua hệ thống nhân vật. Đây là yếu tố quan trọng, không thể thiếu và
làm nên thành công của tác phẩm.
17
1.2. Nhân vật loài vật trong tác phẩm văn học ở chương trình tiếng
Việt Tiểu học

(Tiếng Việt 1, Tập 2)
18
Một loạt con vật nuôi trong nhà rất gần gũi với chúng ta cũng lần lượt
được xuất hiện trong tác phẩm Kể cho bé nghe
Hay nói ầm ĩ
Là con vịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
Hay chăng dây điện
Là con nhện con
Ăn nó quay tròn
Là cối xay lúa
Mồm thở ra gió
Là cái quạt hòm
Không thèm cỏ non
Là con trâu sắt
Rồng phun nước bạc
Là chiếc máy bơm
Dùng miệng nấu cơm
Là cua, là cáy
(Tiếng Việt 1, tập 2)
Một con vật rất có ích và gắn liền với thời gian làm việc của người
nông dân xưa, nhờ có nó, nhân dân ta dậy sớm, hăng hái ra đồng làm việc. Đó
là con gà – người bạn của nhà nông.
Ò ó o
Ò ó o
Tiếng gà
Giục quả na
Mở mắt
Tròn xoe

sống trong rừng. Có thể kể đến những con vật tương đối nguy hiểm như: Sư
tử, Sói, Cáo, hay hiền lành hơn như Thỏ, Sóc, Ngựa, Lừa có các loài chim
như Công, Quạ, Sẻ, Sơn Ca
20
Các con vật sống trong tự nhiên luôn tìm mọi cách sinh tồn, tồn tại. Nó
dùng mọi cách, di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm được thức ăn, nước
uống, duy trì sự sống. Ví như con Quạ đã dùng trí thông minh của mình để
uống được nước trong lọ và thoát khỏi cơn khát: “Nhìn chung quanh, quạ
thấy những viên sỏi nhỏ nằm lay lắt ở gần đấy. Lập tức, nó dùng mỏ gắp một
viên sỏi thả vào bình. Cứ như vậy, nó gắp những viên sỏi khác và tiếp tục thả
vào bình. Chẳng bao lâu, nước đã dâng lên đến miệng bình. Giờ thì nó có thể
thò mỏ vào để uống. Quạ rất vui sướng khi nhìn thấy công sức của mình đã
có kết quả. Quạ uống thỏa thích những giọt nước mát ngọt rồi bay lên cây
nghỉ ngơi”. Hay để tránh cái rét ở phương bắc, thiên nga bay vào phương
nam. Trên đường đi vì thiên nga con quá yếu nên nó đành gửi con ở nhà vịt.
Thế nên mới có chuyện đàn vịt thấy thiên nga con khác biệt và xem là con vịt
xấu xí mà không biệt rằng thiên nga là con vật tượng trưng cho vẻ đẹp thanh
cao, quyền quý. Nhờ sự lém lỉnh, nhanh nhảu và thông minh của mình, Sẻ đã
thoát chết. Khi bị Mèo chộp được “sẻ hoảng lắm nhưng nó nén sợ, lễ phép
nói:
- Thưa anh, tại sao một người sạch sẽ như anh trước khi ăn sáng lại
không rửa mặt?
Nghe vậy, mèo bèn đặt sẻ xuống, đưa hai chân lên vuốt râu, xoa mép.
Thế là sẻ vụt bay đi.” [13; tr 70]
Trong suy nghĩ mọi người Thỏ là con vật thông minh, nhanh nhẹn. Thế
nhưng cũng có lúc Thỏ nhát gan, lại có tính hay khoe khoang, khoác lác “một
hôm vô tình Thỏ ta gặp Sư Tử, trong bụng rất sợ sệt, không dám lại gần
nhưng cũng chẳng dám chạy sợ làm kinh động Thỏ dò xét thấy sao Sư Tử
cứ im lìm bất động, Thỏ đâu ngờ rằng Sư Tử hôm nay vừa mới ăn xong
nguyên con nai tơ bụng no căng cứng nên không thèm ăn thêm con Thỏ bé

22
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con.
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc, có gì lạ đâu
Mai sau
Mai sau
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
(Nguyễn Duy)
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín Có một
chốn bình yên để chúng ta tìm về khi tóc đã ngả hai màu sương khói, khi bên
kia bia đá thời gian đã gõ nhịp không đều. Đó là quê hương với lũy tre làng
từng vươn những cánh tay dài vẫy chào người ra đi và đón chào người trở lại.
Đằng sau đó có bao nhiêu nước mắt những mẹ già tiễn con ra trận. Có ánh
mắt người vợ trẻ đăm đắm đợi bình minh khi biết chồng mình đã hy sinh vì
Tổ quốc. Và trên những ngã đường quê, người dân vẫn thảnh thơi đi cày bừa -
cấy - gặt. Những vụ mùa bội thu được tính bằng mồ hôi, nước mắt, trong
những bát cơm gạo tám thơm lừng có cả giá rét mùa đông hối thức. Chuyện
23

24
sữa trong đó, cây vú sữa là hình tượng của người mẹ ngày đêm mong ngóng,
chờ đợi con về, quá đau buồn mà kiệt sức hoá thành. “Kỳ lạ thay, cây xanh
bỗng run rẩy, quả xuất hiện, lớn nhanh, da căng mịn, xanh óng ánh rồi chín.
Một quả rơi vào lòng cậu bé, cậu vừa chạm vào, một dòng sữa trắng trào ra
ngọt như dòng sữa mẹ. Cậu bé nhìn lên tán lá và òa khóc. Cây xòa cành ôm
lấy như tay mẹ âu yếm vỗ về. Trái cây thơm ngon ở vườn nhà cậu ai cũng
thích, họ đem về gieo trồng khắp nơi và gọi đó là cây vú sữa.” [14; tr 96]
Kể đến tình bạn thì có bông hoa cúc trắng. Với mong muốn tự do, hoà
mình với thiên nhiên, chim sơn ca và bông cúc trắng không chịu được cảnh bị
nhốt trong lồng. Rồi một ngày hoa cũng héo lả đi vì xót thương chim. Đó quả
là một tình bạn tuyệt vời.
Cũng là hoa nhưng bông hoa bằng lăng lại có những suy nghĩ, ý thức
được những việc làm ý nghĩa dành cho Bé Thơ, mong muốn Bé Thơ sẽ nhìn
thấy được bông hoa bằng lăng cuối cùng.
Ta nhận thấy một điều rằng, các nhân vật loài vật đều ngộ nghĩnh, có
những nhân vật hết sức ngây thơ, cũng có những nhân vật chững chạc, người
lớn và rất thông minh. Các nhà văn xây dựng lên những nhân vật loài vật dựa
trên cơ sở là những con người trong xã hội. Văn học có vai trò quan trọng
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ
thơ, cung cấp cho trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ
nghệ thuật. Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm, vốn từ ngữ của
các em phong phú và sống động hơn. Các em tự hình thành cho mình khả
năng diễn đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi
đã được học cách diễn đạt sinh động ấy trong tác phẩm. Đối với trẻ tiểu học,
sự phát triển ngôn ngữ ấy qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các
nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm. Chính quá trình trẻ được
nghe, được kể diễn cảm truyện, thơ và được trực tiếp tham gia vào hoạt động
đọc và kể lại sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới. Điều này
giúp giáo viên có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status