Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** PHẠM QUỲNH DƯƠNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA
TẠ DUY ANH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Mai Thị Hương

vắng). Đặc biệt, tiếng nói của nhân vật không còn trùng khít với tiếng nói
của độc giả, có khi hoàn toàn độc lập. Điều này ta thấy ở những nhân vật-
bản năng của Nguyễn Huy Thiệp (Không có vua, những người thợ xẻ…).
1.2. Những sáng tác của Tạ Duy Anh như một “Miền đất hứa”.
Với tiểu thuyết Thiên thần sám hối. Tạ Duy Anh là “một hiện tượng
văn học nổi bật”, gương mặt nhà văn tiêu biểu trong năm 2004. Tác phẩm
này được săn lùng với tốc độ đáng nể: tái bản 5 lần trong năm đó, số lượng
lên đến gần 20000 bản.
Theo đường lan truyền tự nhiên, người ta tìm đến Tạ Duy Anh, cũng
có khi là một cơn sốt thời thượng. Người ta chợt nhớ ra, đây là nhà văn đã
được biết đến khi truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” đoạt giải thưởng
trong cuộc thi viết về nông thôn - nông nghiệp do tuần báo Văn nghệ, báo
Nông nghiệp và Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1989.
Giới phê bình và độc giả sành thưởng thức văn chương thì bắt đầu lần
lại những sáng tác của Tạ Duy Anh để tìm hiểu thực chất Tạ Duy Anh là ai
và có gì đáng chú ý? Đây là nhà văn của các tiểu thuyết: Khúc dạo đầu(
1991), Lão khổ(1992), Đi tìm nhân vật(2002), Thiên thần sám hối(2004),
Giã biệt bóng tối(2008), cùng với các tập truyện ngắn liên tiếp được xuất
bản với sự đón nhận nông nhiệt của bạn đọc, Mọi lời bình luận vẫn được tìm
đọc trên các báo và các trang web văn học.

3
Thực tế ấy tạo nên một “miền đất hứa” trong sáng tác của Tạ Duy
Anh, một vùng đất mới trong nghệ thuật tiểu thuyết nhấp nháy tín hiệu và
vẫy gọi khám phá, “miền đất hứa” hiểu theo cả nghĩa: sáng tác Tạ Duy Anh
cho chúng ta niềm hi vọng vào các sáng tác của nhà văn trong tương lai.
1.3. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh
Sáng tác Tạ Duy Anh gây hiệu ứng đa chiều ở độc giả. Tất cả tạo nên
những vòng sóng từ trường trong dư luận về nhà văn. Tất nhiên có từ trường
mạnh, có từ trường yếu, cả những từ trường giao đẩy nhau, đặt ra vấn đề cần

có viết “ Nở rộ trong văn xuôi những năm 1980 là những tác phẩm viết về
sự mưu cầu hạnh phúc cá nhân và nỗi khát khao tình yêu đôi lứa Dấu
hiệu chủ yếu của việc dân chủ hoá nền văn học là sự dân chủ hoá trong
quan niệm về con người, trong cách nhìn nhận con người bình thường và
các nhà văn quan tâm là “cốt cách tâm lý, thế giới bên trong, những động
cơ tiềm ẩn cùng những phản ứng trước những biến đổi thời thế “ trong đó “
ý hướng đi vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận
diện hình ảnh con người đích thực là ý hướng có triển vọng của một nền văn
học dân chủ “.

5
Tác giả bài viết Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975
[8] cũng cho rằng: “Nhân vật trong văn xuôi sau 1975 rõ ràng ít tính lí
tưởng, không hoàn hảo, sạch sẽ, không được bao bọc trong bầu không khí
vô trùng”.
2.2. Những ý kiến liên quan trực tiếp đến đề tài:
Lê Đạt nói: “ Chỉ khi nào bắt đầu có môt ngôn ngữ riêng nhà thơ mới
thật sự trở thành trẻ”. Mở rộng ra, điều ấy có nghĩa: khi một nhà văn bắt
đầu được nhận diện bởi thứ ngôn ngữ của mình, lúc ấy anh ta mơí là một
nhà văn trẻ. Trong một khoảng đối sách gần, so với Tô Hoài, Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Dương
Hướng, Bảo Ninh Tạ Duy Anh là một nhà văn trẻ, cùng lứa với Hồ Anh
Thái, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Bình
Phương Nhà văn mới có tên trong chương trình văn học lớp 6 (Bộ sách
giáo khoa thí điểm, NXB giáo dục) với truyện ngắn “Bức tranh của em gái
tôi”. Như vậy với một nhà văn trẻ, dư luận có thể nhiều nhưng lịch sử
nghiên cứu sáng tác của anh ta lại là cuốn sổ còn bỏ ngỏ. Tác phẩm Tạ Duy
Anh chưa được nghiên cứu, phê bình đầy đủ, rộng rãi nhất là chưa được nhìn
nhận đúng mực những đóng góp trong công cuộc làm mới nghệ thuật tiểu
thuyết đang diễn ra ở hầu khắp các nhà văn hiện nay.

trung thực, nhân đạo đối với những vết thương , lỗi lầm của qúa khứ”.

7
Báo Pháp luật số 140 năm 2004 đưa ra nhận định “hầu hết những tác
phẩm của ông (trừ truyện viết cho thiếu nhi và tản văn) đều rất gai về nội
dung thể hiện [21] dưới cái nhìn hiện thực ở góc khuất”. Đi tìm nhân vật là
“Bức tranh hiện thực ngọt ngào của quyền lực, cái chết, sự đồi bại còn
Thiên thần sám hối là một cuốn tiểu thuyết rất hay gần đây viết về nỗi đau
làm người và chưa được làm người qua câu chuyện của một hài nhi đang
lựa chọn có nên làm người hay không” [5;405]. Nhà văn đã cho bạn đọc cái
nhìn thẳng vào sự thật chát chúa “ ông là một tác giả tâm huyết, trăn trở với
số phận con người, nhất là khi họ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân
cách. Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng cũng
đầy thương xót con người”.
Báo giáo dục và thời dại số 80 năm 2004 cũng đặt câu hỏi: “Số phận
con người phải chăng luôn là sự trăn trở, dằn vặt trong ông” và tác giả bài
báo cũng đưa ra câu trả lời: “Nhân vật vào của ông cũng thấp thoáng bóng
dáng của một người sinh ngày 9 tháng 9 tại làng Đồng” [20].
Bài Tạ Duy Anh quả lằn ranh thiện ác [38] gọi tác giả là “nhà văn
của những thời điểm” “đã đưa ra một số cái nhìn cơ bản về quan niệm của
tác giả về con người: “Nhân vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian,
nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình. Người xấu thì cực xấu như lão Phụng
người đẹp thì như hoa như ngọc như Quỳnh Anh, bà Ba như những sản phụ
chờ sinh. Nhưng bản chất con người thì luôn luôn ở ranh giới thiện - ác.
Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái đấu tranh với xã hội với
môi trường, với kẻ thù, với người thân,với chính bản thân mình . Đã thế nhà
văn lại có cái giọng rất quyết liệt, nhiều hình dung từ và động từ mạnh, chõi

8
nhau ” nhà văn lắm lúc quằn quại rên rỉ vì không ngăn nổi một hành động

là ai? Vì sao nó đau khổ? Vì sao tha hoá để người đọc có thể tự tìm ra cho
mỗi nhân vật một hướng đi đúng đắn để tồn tại, vươn lên trong thế giới loài
người.
2. Về nghệ thuật: Sự lao động nghiêm túc của nhà văn thể hiện một
nỗ lực tìm tòi đổi mới kỹ thuật viết của mình. Nhà văn đã có những phá cách
về mặt lối viết, cốt truyện tạo dựng không gian, thời gian nghệ thuật làm nền
cho nhân vật với hệ thống ngôn ngữ phong phú đa thanh phức điệu, cách
viết ẩn dụ, ngụ ngôn, hiện thực huyền ảo Tất cả đã thể hiện được phong
cách đổi mới của ông trong cách nhìn nhận, khám phá thế giới nhân vật.
Trong phạm vi nghiên cứu nhà trường, tác phẩm Tạ Duy Anh đã được
tìm hiểu trong một số luận văn thạc sĩ sau:
- Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Nguyễn Thị Mai Loan)
- Cảm thức về cái Phi Lý trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Cao Tố
Uyên)
- NT kết cấu trong thuyết “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh
(Nguyễn Thị Ninh)

10
- Tạ Duy Anh - từ quan niệm NT đến những đổi mới trong sáng tác
truyện ngắn (Phạm Thị Hương)
- Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Bùi Thanh Tùng)…
Với góc độ khám phá riêng biệt, luận văn này muốn tổng hợp lại từ
những nhận định trên để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về thế giới nhân vật
trong sáng tác Tạ Duy Anh đồng thời muốn ghi nhận đóng góp của nhà văn
đối với văn xuôi thời kì đổi mới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ
Duy Anh
Phạm vi của Luận văn tập trung vào 4 tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
1.Lão khổ

Chương II: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh
Chương III: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tạ Duy Anh
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết chủ tâm học tập và
chịu nhiều ảnh hưởng về phương pháp tư duy cùng với cách sử dụng ngôn
ngữ của một số nhà nghiên cứu, các thầy cô và bè bạn, đặc biệt, người trực
tiếp hướng dẫn tôi - cô - Mai Hương.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu không nhiều và kiến thức còn hạn
chế, luận văn khó trách khỏi những thiếu sót và chủ quan khi nhìn nhận vấn
đề. Rất mong nhận được sự góp ý tận tình của thầy cô và các bạn.
Hoàn thành luận văn này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia
đình, bè bạn. Và tới sự nhiệt tình, bao dung của cô!

13
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TẠ DUY ANH VÀ SỰ ĐỔI MỚI TRONG SÁNG TÁC
1.1. “Làm mới” như là một xu hướng thể nghiệm của các nhà văn
Việt Nam hiện nay.
Văn chương tự nó là một cách làm mới cuộc sống.
Nhưng làm mới văn chương phụ thuộc vào cách viết của mỗi người.
Nhà văn luôn phải thay đổi, tránh lặp lại mình. “Với tư cách người viết,
những dòng chữ xuất hiện một cách tự phát, hồn nhiên và dễ dãi nhất,
thường là những dòng chữ đáng ngờ vực (ảnh hưởng)” của những người
trước đó. Nói theo bài giảng, phải xoá bỏ những câu thơ “tèm nhem tâm
hồn” ấy, chống lại chính bản thân mình, phải tái tạo chính mình chứ không
chủ đơn giản là thành thật với chính mình [39;61].
Không phải là mạnh mẽ, song văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã
có bước chuyển mình so với văn học giai đoạn trước đó. Cú vặn mình có thể
bắt đầu từ Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Phiên Chợ Giát, Người đàn
và trên chuyến tàu tốc hành Nguyễn Khải với Gặp gỡ cuối năm, thời gian
của người đã khiến cho các cây bút giật mình nhận ra “từ nay không còn

bản ngã, cái cá nhân cá thể muốn được khẳng định lại; một bản lĩnh sáng tạo
có điều kiện được chăm chút hơn với những sự tiếp thu tinh hoa văn học mới
của thế giới dẫn đến những bung phá về nghệ thuật, chảy tràn ngôn ngữ của
“dòng ý thức” những độc thoại nội tâm triền miên, kết cấu tác phẩm hiện

15
đại từ những mảng ghép phi trình tự thời gian theo kiểu vụt hiện chớp
nhoáng trong kĩ xảo điện ảnh vv…Nguyên Ngọc nói: “bản chất của sự đổi
mới bây giờ là phá trói”. Do “sự sống bị dồn nén lâu dài, do sức mạnh nội
sinh tích luỹ, cuối cùng đã phá vỡ làm bật tung những ràng buộc vô lý, phi
tự nhiên. Cuộc sống tự nó phá trói,mở đường đi tới. Những trói buộc bị bật
tung vì chúng không đủ sức kìm hãm nữa. Nói cách khác, sự đi tới của cái tự
nhiên, qua dồn nén lâu ngày, đã mạnh hơn cái phi tự nhiên. Đấy mới chính
là bản chất của Đổi mới”.
Trào lưu ấy nhưng thở mạnh từ 1992
Nhưng trào lưu ấy lại vực tây trong khoảng dăm bảy năm trở lại đây,
chưa phải với khuôn mặt hoàn toàn xa lạ như một cánh rừng nguyên sinh đột
hiện, mà chỉ là sự tân trang của bộ y phục được làm mới. Làm mới, (Thuật
ngữ tiếng Pháp : Rénoven) là bản chất của đổi mới văn học hiện thời. Là
một nỗ lực tự thân của mỗi người cầm bút bị ngợp bởi tốc độ và trình độ của
kỹ thuật văn chương siêu hiện đại, bị uy hiếp bởi cái vực không khoan
nhượng của thời gian trên đó bám đầy rêu của cái cũ, và bị bức bủa của
những vấn đề nhức nhối ngột ngạt thời hiện đại. Xét đến cùng “làm mới”
cũng là một phương cách lạ hoá những gì đã có. Và có thể nói, sự độc chiếm
trong tiểu thuyết đổi mới bây giờ là những thể nghiệm mạnh mẽ về ngôn
ngữ giọng điệu, kết cấu và những điểm nhìn lạ hoá hiện thực dưới nhiều góc
độ khác nhau.
1.2. Cuộc đời và hành trình sáng tác của Tạ Duy Anh

16

bốn đời của tôi có ít chữ nghĩa nhưng lánh tục, còn lại tôi không được thừa
hưởng truyền thống văn chương như mọi người thường hỏi tôi về điều đó.
Thậm chí, tôi còn thừa hưởng cái không ai muốn ấy là sự thất học” [6;174]
“Trước đó cả làng tôi, người ta không tin vào bất cứ ai của làng có
thể làm nên trò trống gì bằng học hành. Chúng tôi lớn lên với nỗi ám ảnh về
một lời nguyền theo đó “Khi nào đá có thể nổi trên mặt nước” thì làng mới
có người đỗ đạt. Tôi chẳng hiểu sao số phận lại chọn tôi, một kẻ còi cọc,
nhút nhát, đầy bệnh tật từ khi ra đời để đương đầu với lời nguyền khủng
khiếp và vô lí đó “ [6;152]
Bước chân dung tự hoạ, những trang tự thuật trên đã cho thấy nhiều
khía cạnh trong con người Tạ Duy Anh mà nét nổi bật là cái “Tôi cô đơn”,
đô độc, cái tôi ấy thường xuyên đối thoại với chính mình và đối đầu với cảm
giác bất ổn của thực tại. Con người “chạy chốn” trong Tạ Duy Anh là biểu
hiện của nõi bất an cô đơn trước hiện tại. Tưởng tượng ra một thế giới khách
để được bình yên từ đó, viết văn bằng những trải nghiệm của mình, Tạ Duy
Anh đến với văn chương nghệ thuật một cách tự nhiên. Ông viết: “Nhà văn
nào cũng tận dụng triệt để tiểu sử của mình khi sáng tác những cuốn sáng về
chính anh ta”[6;187]. Phải chăng mỗi tác phẩm tâm huyết của Tạ Duy Anh
không chỉ là sự thăng hoa của những mặc cảm, những chấn thương từ một

18
tâm hồn yếu đuối, bệnh tật mà còn là sự khúc xạ trang trải, hoài nghi và lo
âu về thân phận và tình trạng tha hoá của con người thời hiện đại?.
Tạ Duy Anh có năng khiếu văn chương rất sớm. Ngay khi học lớp 8,
ông đã viết truyện ngắn đầu tay của mình với đề tập làm văn cô giáo cho.
Em hãy kể lại một kỉ niệm đáng nhớ. Bài văn đạt điểm cao và con đường
đến với văn chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh được manh nha từ truyện
bịa đầu tiên ấy. Ông tâm sự, với bài văn ấy “tôi cảm thấy mình bịa được
truyện”.
Là cậu tú tài đầu tiên của làng Đồng, Tạ Duy Anh lên Sông Đà học

bước ngoặt thực sự trên hành trình sáng tạo của Tạ Duy Anh. Ở một loạt
truyện tiếp theo được tập hợp trong các tập Luân hồi (1944), Truyện ngắn
Tạ Duy Anh (2003), Bố cục hoàn hảo (2004) , nhà văn vẫn tiếp tục dòng
mạch cảm hứng mà Bước qua lời nguyền đã khơi mở. Chính truyện ngắn
này đã mang lại vinh quang rực rỡ cho Tạ Duy Anh. Với giải nhất cuộc thi
viết về Nông nghiệp - nông thôn do Tuần báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp
Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1989, tên tuổi Tạ Duy
Anh bắt đầu được đông đảo dư luận chú ý. Tác phẩm của ông trở thành
“hiện tượng”, “sự kiện văn học” ở mảng truyện ngắn. Nhà thơ Hoàng Minh
Châu coi Bước qua lời nguyền là một truyện ngắn đã “báo hiệu một tấm
lòng lớn, một tầm nhìn xa và một tài năng trẻ viết về số phận con người”.

20
Còn Hoàng Ngọc Hiến dành hẳn một bài viết về tác phẩm này trên báo
Nông nghiệp số 50, tháng 12-1989. Nhà phê bình khẳng định: “Đọc truyện
của Tạ Duy Anh, một câu hỏi được đặt ra: Giã từ thế kỉ XX bão tạp và máu
lửa này và chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI “lí trí nhân bản”, những lời nguyền
nào là đáng nguyền rủa, những lời nguyền nào nhân loại trước sau phải
bước qua? Phải chăng câu hỏi bức thiết này cũng được đặt ra cho mỗi
người, mỗi quốc gia? Phong cách truyện ngắn Tạ Duy Anh là tín hiệu của
một dòng văn học mới, dòng văn học Bước qua lời nguyền”.
Như vậy, có thể thấy Bước qua lời nguyền không chỉ có giá trị nhân
văn mà còn là một tư tưởng có tầm thời đại: nhu cầu tự vấn để phát triển của
mỗi con người, mỗi dân tộc. Tác phẩm không chỉ là khởi đầu tốt đẹp đối với
cá nhân nhà văn mà còn đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới nền văn học
nước nhà. Với khát vọng Bước qua lời nguyền, truyện ngắn của Tạ Duy
Anh tiêu biểu cho tinh thần dân chủ của thời đại và của văn học. Bước qua
lời nguyền là lời tuyên chiến với những định kiến chật hẹp trói buộc con
người, là lời kêu gọi tự do sáng tạo đối với văn nghệ sĩ.
Năm 1991, Tạ Duy Anh thử sức ở mảnh đất rộng lớn, màu mỡ của

Thứ nhất, tiểu thuyết Lão Khổ ra mắt độc giả năm 1992, sau thời
điểm hoàng kim của văn xuôi (1986 - 1991). Hàng loạt các tác phẩm gây
xôn xao dư luận cả trong nước và ngoài nước, hàng loạt cá tính độc đáo
được khẳng định, trong đó người ta nhắc nhiều đến Nguyễn Huy Thiệp,
Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh Đặc biệt, năm 1990 - 1991 cuộc thi truyện ngắn

22
báo Văn nghệ và năm 1991, mùa giải tiểu thuyết của Hội nhà văn đều thành
công vang dội, dư luận bị thu hút nhiều hơn vào những tác phẩm đoạt giải
như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma
của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Người ta
bận tâm tới những tác giả có khả năng gây shock như Nguyễn Huy Thiệp,
Phạm Thị Hoài. Ra đời vào năm 1992, Lão Khổ của Tạ Duy Anh bị cái
bóng của các tên tuổi khác che lấp nhiều.
Thứ hai, từ sau năm 1991, không khí văn học chững lại rất rõ ràng.
Cao trào đổi mới lắng xuống. Giới phê bình trở nên dè dặt hoặc nản lòng mà
vấn đề đặt ra trong Lão Khổ lại thuộc loại vấn đề “nhạy cảm” lúc đó. Tránh
nói đến nó sẽ an toàn hơn.
Thứ ba, xét về phương diện chủ quan thì Lão Khổ không phải là tác
phẩm dễ đọc với chủ đề chìm sâu mang tầm triết lý lịch sử. Thêm nữa, nó có
cái nhược điểm: lối viết nghiêm trang quá, đôi chỗ nặng nề, rậm lời.
Tuy vậy, khi đã có độ lùi thời gian thì những giá trị ẩn chứa trong Lão
Khổ sẽ được nhìn nhận lại. Nói như Hoàng Ngọc Hiến thì đây là một cuốn
sách mà càng ngày người ta sẽ càng phải tìm đọc lại.
Không tự thoả mãn, sau Lão Khổ và hàng loạt truyện ngắn, đầu năm
2002, Tạ Duy Anh lại gây xôn xao dư luận với cuốn tiểu thuyết Đi tìm nhân
vật. “Một lối tìm cách nói khác về xã hội và lịch sử đương đại, Tạ Duy Anh,
tác giả truyện ngắn được coi là có tính chất đánh dấu Bước qua lời nguyền
như muốn xé rách cả tấm màn che phủ lên hiện thực hàng ngày để làm phơi
lộ ra một thực trạng xã hội trong Đi tìm nhân vật” (Dương Hướng). Cuốn

hối, Tạ Duy Anh đang được coi là cây bút tiểu thuyết sung sức. Mặc dù có
người xem đây chỉ là những thể nghiệm của nhà văn; nhưng không thể phủ
nhận tác phẩm của ông đã tạo ra một “từ trường” có sức hấp dẫn riêng nhờ
chiều sâu tư tưởng và những phương thức biểu đạt liên thông hết sức ấn
tượng. Hơn nữa, trên hành trình văn chương không mệt mỏi, tác phẩm của
Tạ Duy Anh thể hiện rất rõ sự tự ý thức của chủ thể sáng tạo. Có thể thấy, ở
hai tiểu thuyết sau - Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối - đã bớt đi những
triết lí lộ liễu, cũng không còn cái sắc thái văn chương quá nghiêm trang như
ở Lão Khổ. Hiện thực nghiệt ngã được nhìn dưới góc độ hài hước, pha chất
giễu nhại, tự hào đã làm nên sự phong phú thẩm mỹ cho ngòi bút Tạ Duy
Anh.
Hơn mười năm với ba tiểu thuyết và chưa đây hai năm kể từ khi xuất
bản Thiên thần sám hối, Tạ Duy Anh cho in cuốn tiểu thuyết đã viết xong:
Giã biệt bóng tối, và chuẩn bị cho in cuốn Sinh ra để chết (còn có tên khác:
Mười bảy dị bản) Mọi đánh giá, bình luận vẫn còn ở phía trước, nhưng
dường như, những gì nhà văn đã trải nghiệm, vốn liếng của đời đọng lại vẫn
còn dồi dào để ông tiếp tục viết thêm nữa.
Tính đến thời điểm hiện nay, ông đã cho in:
- Các tập truyện ngắn: Bước qua lời nguyên (1989), Luân hồi (1994),
Ánh sáng nàng (2000), Ba đào ký (2004), Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy
Anh (2003), Bố cục hoàn hảo (2004), Những truyện không phải trong mơ
(2003).

Trích đoạn Những định kiến, mối thù truyền kiếp Con người luôn cảm thấy bất lực, bi kịch trước thời cuộc. Cuộc tìm kiếm vô vọng. Bi kịch tha hoá của con người bị biến dạng. Nhân vật sám hố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status