BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------***-------------
PHẠM QUỲNH DƯƠNG
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC
CỦA TẠ DUY ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên
ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Mai Thị Hương
Hà Nội - 2008
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học sau 1975 và cách nhìn đổi mới về con người.
Sau năm 1975, nền văn học Việt Nam thực sự có rất nhiều khởi sắc.
Có thể nói, “chưa bao giờ, văn xuôi phát triển mạnh mẽ như bây giờ và
cũng chưa bao giờ, nhà văn được thành thật như bây giờ “.
Trên nền thời đại bộn bề “đa sự, đa đoan ấy, văn chương vẫn hút
nhựa từ cuộc sống để đem lại những sáng tác đa diện nhiều chiều”.
Thế giới nhân vật của một nhà văn được hình thành từ quan niệm
nghệ thuật về con người. Văn học trước 1975 quan niệm con người sử thi,
con người cao cả bách chiến, bách thắng. Sau 1975, con người trở nên phức
tạp, nhiều chiều. Trong tâm hồn mỗi con người luôn diễn ra cuộc đấu tranh
giữa cái cao thượng và thấp hèn, nhân đạo và độc ác, con người làm chủ
hoàn cảnh nhưng có khi lại là nạn nhân của hoàn cảnh.
được xuất bản với sự đón nhận nông nhiệt của bạn đọc, Mọi lời bình luận
vẫn được tìm đọc trên các báo và các trang web văn học.
2
Thực tế ấy tạo nên một “miền đất hứa” trong sáng tác của Tạ Duy
Anh, một vùng đất mới trong nghệ thuật tiểu thuyết nhấp nháy tín hiệu và
vẫy gọi khám phá, “miền đất hứa” hiểu theo cả nghĩa: sáng tác Tạ Duy Anh
cho chúng ta niềm hi vọng vào các sáng tác của nhà văn trong tương lai.
1.3. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh
Sáng tác Tạ Duy Anh gây hiệu ứng đa chiều ở độc giả. Tất cả tạo nên
những vòng sóng từ trường trong dư luận về nhà văn. Tất nhiên có từ trường
mạnh, có từ trường yếu, cả những từ trường giao đẩy nhau, đặt ra vấn đề cần
phải nhìn nhận một hiện tượng văn học, một tác phẩm văn học như thế nào
cho đúng đắn, đặc biệt là về thế giới nhân vật - một phương diện rất quan
trọng trong một sáng tác nghệ thuật.
Có thể nói, Tạ Duy Anh đã đem đến cho người đọc một cái nhìn đa
diện về con người về cuộc đời để rồi đi vào sáng tác của ông cũng là một thế
giới đầy phức tạp. Thế giới ấy mang tính chiều sâu nhân bản, đem đến cho
cõi đời một tiếng chuông khiến ta phải giật mình. Thế giới bản thể ta chưa
khám phá hết, chỉ cảm nhận rằng có thể nó tồn tại. Và Tạ Duy Anh đã đánh
thức khiến ta giật mình: có thể vì ta mà nó tồn tại.
Vì vậy khám phá thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh là
một điều vô cùng lý thú.
1.4. Kẻ xa lạ đến gần người xa lạ
Nếu xét tương quan giữa tác giả và độc giả, ban đầu là tương quan
không nối kết giữa người xa lạ với một kẻ xa lạ thì hành trình độc giả tìm
3
tưởng, không hoàn hảo, sạch sẽ, không được bao bọc trong bầu không khí
vô trùng”.
2.2. Những ý kiến liên quan trực tiếp đến đề tài:
Lê Đạt nói: “ Chỉ khi nào bắt đầu có môt ngôn ngữ riêng nhà thơ mới
thật sự trở thành trẻ”. Mở rộng ra, điều ấy có nghĩa: khi một nhà văn bắt
đầu được nhận diện bởi thứ ngôn ngữ của mình, lúc ấy anh ta mơí là một
nhà văn trẻ. Trong một khoảng đối sách gần, so với Tô Hoài, Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Dương
Hướng, Bảo Ninh .... Tạ Duy Anh là một nhà văn trẻ, cùng lứa với Hồ Anh
Thái, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Bình
Phương... Nhà văn mới có tên trong chương trình văn học lớp 6 (Bộ sách
giáo khoa thí điểm, NXB giáo dục) với truyện ngắn “Bức tranh của em gái
tôi”. Như vậy với một nhà văn trẻ, dư luận có thể nhiều nhưng lịch sử
nghiên cứu sáng tác của anh ta lại là cuốn sổ còn bỏ ngỏ. Tác phẩm Tạ Duy
Anh chưa được nghiên cứu, phê bình đầy đủ, rộng rãi nhất là chưa được nhìn
nhận đúng mực những đóng góp trong công cuộc làm mới nghệ thuật tiểu
thuyết đang diễn ra ở hầu khắp các nhà văn hiện nay.
Thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh chưa phải là một vấn
đề bị bó buộc bởi con mắt soi chiếu của giới phê bình. Có nghĩa, vấn đề này
chưa được hoàn kết bởi một hệ thống đánh giá cố định nào toàn diện, cụ thể
và đến độ soi chiếu về sáng tác Tạ Duy Anh, GS Hoàng Ngọc Hiến đã ghi
nhận với truyện ngắn Bước qua lời nguyền : Ý nghĩa của truyện ngắn không
5
chỉ dừng lại ở giá trị nhân văn mà còn mang tầm vóc lịch sử “Chuẩn bị bước
vào thế kỉ XXI”. “Những lời nguyền nào là đáng nguyên rủa, những lời
nguyền nào nhân loại trước sau phải bước qua? Phải chăng câu hỏi cấp
thiết này được đặt ra cho mỗi người, mỗi quốc gia?”. Truyện của Tạ Duy
lựa chọn có nên làm người hay không” [5;405]. Nhà văn đã cho bạn đọc cái
nhìn thẳng vào sự thật chát chúa “ ông là một tác giả tâm huyết, trăn trở với
số phận con người, nhất là khi họ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân
cách. Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng cũng
đầy thương xót con người”.
Báo giáo dục và thời dại số 80 năm 2004 cũng đặt câu hỏi: “Số phận
con người phải chăng luôn là sự trăn trở, dằn vặt trong ông” và tác giả bài
báo cũng đưa ra câu trả lời: “Nhân vật vào của ông cũng thấp thoáng bóng
dáng của một người sinh ngày 9 tháng 9 tại làng Đồng” [20].
Bài Tạ Duy Anh quả lằn ranh thiện ác [38] gọi tác giả là “nhà văn
của những thời điểm” “đã đưa ra một số cái nhìn cơ bản về quan niệm của
tác giả về con người: “Nhân vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian,
nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình. Người xấu thì cực xấu như lão Phụng...
người đẹp thì như hoa như ngọc như Quỳnh Anh, bà Ba như những sản phụ
chờ sinh. Nhưng bản chất con người thì luôn luôn ở ranh giới thiện - ác.
Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái đấu tranh với xã hội với
môi trường, với kẻ thù, với người thân,với chính bản thân mình . Đã thế nhà
văn lại có cái giọng rất quyết liệt, nhiều hình dung từ và động từ mạnh, chõi
7
nhau...” nhà văn lắm lúc quằn quại rên rỉ vì không ngăn nổi một hành động
ác, cũng có khi “lạnh lùng cố ý trước một sự trả thù”.
Nói về thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh, nhà văn Nguyên
Ngọc trong bài viết Văn xuôi Việt Nam hiện nay, lôgíc quanh co của các
thể loại, những vấn đề đặt ra và triển vọng đã nêu nhận định “ Bước qua
lời nguyền của Tạ Duy Anh gói gọn trong nửa trang cả một cuộc đời, một
kiếp sống, mấy kiếp người vừa là tác giả vừa là nạn nhân của những bi kịch
đằng đẵng một thời” (evan.com.vn) Tạ Duy Anh luôn theo đuổi nhân vật
cho nhân vật với hệ thống ngôn ngữ phong phú đa thanh phức điệu, cách
viết ẩn dụ, ngụ ngôn, hiện thực huyền ảo... Tất cả đã thể hiện được phong
cách đổi mới của ông trong cách nhìn nhận, khám phá thế giới nhân vật.
Trong phạm vi nghiên cứu nhà trường, tác phẩm Tạ Duy Anh đã được
tìm hiểu trong một số luận văn thạc sĩ sau:
- Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Nguyễn Thị Mai Loan)
- Cảm thức về cái Phi Lý trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Cao Tố
Uyên)
- NT kết cấu trong thuyết “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh
(Nguyễn Thị Ninh)
9
- Tạ Duy Anh - từ quan niệm NT đến những đổi mới trong sáng tác
truyện ngắn (Phạm Thị Hương)
- Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Bùi Thanh Tùng)…
Với góc độ khám phá riêng biệt, luận văn này muốn tổng hợp lại từ
những nhận định trên để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về thế giới nhân vật
trong sáng tác Tạ Duy Anh đồng thời muốn ghi nhận đóng góp của nhà văn
đối với văn xuôi thời kì đổi mới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ
Duy Anh
Phạm vi của Luận văn tập trung vào 4 tiểu thuyết của Tạ Duy Anh
1.Lão khổ
2. Đi tìm nhân vật
3. Thiên thần sám hối
4. Giã biệt bóng tối
Và một số truyện ngắn tiêu biểu trong các tập truyện ngắn của Tạ Duy
Chương III: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tạ Duy Anh
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết chủ tâm học tập và chịu
nhiều ảnh hưởng về phương pháp tư duy cùng với cách sử dụng ngôn ngữ
của một số nhà nghiên cứu, các thầy cô và bè bạn, đặc biệt, người trực tiếp
hướng dẫn tôi - cô - Mai Hương.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu không nhiều và kiến thức còn hạn
chế, luận văn khó trách khỏi những thiếu sót và chủ quan khi nhìn nhận vấn
đề. Rất mong nhận được sự góp ý tận tình của thầy cô và các bạn.
Hoàn thành luận văn này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia
đình, bè bạn. Và tới sự nhiệt tình, bao dung của cô!
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TẠ DUY ANH VÀ SỰ ĐỔI MỚI TRONG SÁNG TÁC
1.1. “Làm mới” như là một xu hướng thể nghiệm của các nhà văn
Việt Nam hiện nay.
Văn chương tự nó là một cách làm mới cuộc sống.
Nhưng làm mới văn chương phụ thuộc vào cách viết của mỗi người.
Nhà văn luôn phải thay đổi, tránh lặp lại mình. “Với tư cách người viết,
những dòng chữ xuất hiện một cách tự phát, hồn nhiên và dễ dãi nhất,
thường là những dòng chữ đáng ngờ vực (ảnh hưởng)” của những người
trước đó. Nói theo bài giảng, phải xoá bỏ những câu thơ “tèm nhem tâm
hồn” ấy, chống lại chính bản thân mình, phải tái tạo chính mình chứ không
chủ đơn giản là thành thật với chính mình [39;61].
Không phải là mạnh mẽ, song văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã
có bước chuyển mình so với văn học giai đoạn trước đó. Cú vặn mình có thể
bắt đầu từ Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Phiên Chợ Giát, Người đàn
và trên chuyến tàu tốc hành Nguyễn Khải với Gặp gỡ cuối năm, thời gian
cả các mặt tiêu cực của xã hội, của đời sống đất nước sau chiến tranh, các mặt
trước nay vẫn bị dồn nén lại, che giấu cẩn then” [ 31]. Cái bản ngã, cái cá nhân
cá thể muốn được khẳng định lại; một bản lĩnh sáng tạo có điều kiện được
chăm chút hơn với những sự tiếp thu tinh hoa văn học mới của thế giới dẫn đến
những bung phá về nghệ thuật, chảy tràn ngôn ngữ của “dòng ý thức” những
độc thoại nội tâm triền miên, kết cấu tác phẩm hiện
14
đại từ những mảng ghép phi trình tự thời gian theo kiểu vụt hiện chớp
nhoáng trong kĩ xảo điện ảnh ...vv…Nguyên Ngọc nói: “bản chất của sự đổi
mới bây giờ là phá trói”. Do “sự sống bị dồn nén lâu dài, do sức mạnh nội
sinh tích luỹ, cuối cùng đã phá vỡ làm bật tung những ràng buộc vô lý, phi
tự nhiên. Cuộc sống tự nó phá trói,mở đường đi tới. Những trói buộc bị bật
tung vì chúng không đủ sức kìm hãm nữa. Nói cách khác, sự đi tới của cái tự
nhiên, qua dồn nén lâu ngày, đã mạnh hơn cái phi tự nhiên. Đấy mới chính
là bản chất của Đổi mới”.
Trào lưu ấy nhưng thở mạnh từ 1992
Nhưng trào lưu ấy lại vực tây trong khoảng dăm bảy năm trở lại đây,
chưa phải với khuôn mặt hoàn toàn xa lạ như một cánh rừng nguyên sinh đột
hiện, mà chỉ là sự tân trang của bộ y phục được làm mới. Làm mới, (Thuật
ngữ tiếng Pháp : Rénoven) là bản chất của đổi mới văn học hiện thời. Là
một nỗ lực tự thân của mỗi người cầm bút bị ngợp bởi tốc độ và trình độ của
kỹ thuật văn chương siêu hiện đại, bị uy hiếp bởi cái vực không khoan
nhượng của thời gian trên đó bám đầy rêu của cái cũ, và bị bức bủa của
những vấn đề nhức nhối ngột ngạt thời hiện đại. Xét đến cùng “làm mới”
cũng là một phương cách lạ hoá những gì đã có. Và có thể nói, sự độc chiếm
trong tiểu thuyết đổi mới bây giờ là những thể nghiệm mạnh mẽ về ngôn
ngữ giọng điệu, kết cấu và những điểm nhìn lạ hoá hiện thực dưới nhiều góc
độ khác nhau.
16
khiến tôi cô đơn ngay từ buổi chưa đi học, khi buổi chiều ảm đạm nào dó,
một ai đó được cả làng đưa ra đồng, vùi xuống ba thước đất và thế là dường
như họ chưa hề có mặt trên cõi đời này.”
“Tôi không được chuẩn bị mảy may để trở thành nhà văn. Trừ cụ nội
bốn đời của tôi có ít chữ nghĩa nhưng lánh tục, còn lại tôi không được thừa
hưởng truyền thống văn chương như mọi người thường hỏi tôi về điều đó.
Thậm chí, tôi còn thừa hưởng cái không ai muốn ấy là sự thất học” [6;174]
... “Trước đó cả làng tôi, người ta không tin vào bất cứ ai của làng có
thể làm nên trò trống gì bằng học hành. Chúng tôi lớn lên với nỗi ám ảnh về
một lời nguyền theo đó “Khi nào đá có thể nổi trên mặt nước” thì làng mới
có người đỗ đạt. Tôi chẳng hiểu sao số phận lại chọn tôi, một kẻ còi cọc,
nhút nhát, đầy bệnh tật từ khi ra đời để đương đầu với lời nguyền khủng
khiếp và vô lí đó “ [6;152]
Bước chân dung tự hoạ, những trang tự thuật trên đã cho thấy nhiều
khía cạnh trong con người Tạ Duy Anh mà nét nổi bật là cái “Tôi cô đơn”,
đô độc, cái tôi ấy thường xuyên đối thoại với chính mình và đối đầu với cảm
giác bất ổn của thực tại. Con người “chạy chốn” trong Tạ Duy Anh là biểu
hiện của nõi bất an cô đơn trước hiện tại. Tưởng tượng ra một thế giới khách
để được bình yên từ đó, viết văn bằng những trải nghiệm của mình, Tạ Duy
Anh đến với văn chương nghệ thuật một cách tự nhiên. Ông viết: “Nhà văn
nào cũng tận dụng triệt để tiểu sử của mình khi sáng tác những cuốn sáng
về chính anh ta”[6;187]. Phải chăng mỗi tác phẩm tâm huyết của Tạ Duy
Anh không chỉ là sự thăng hoa của những mặc cảm, những chấn thương từ
một
17
nhà văn, như người đang khao khát kiếm tìm bỗng được gia ân, Tạ Duy Anh
cảm thấy có vốn sống, vốn kí ức vô cùng phong phú, quí báu về làng quê mà
xưa nay mình không nhận ra, cứ thang thang đi tìm ở những đâu. Ông viết
Lũ vịt giời (mới đầu đặt tên là Mưa đá), viết liên tiếp, liền một mạch vào
những vỏ bao thuốc lá, chữ bé li ti, dày ríu rít. Hành trình đến với văn
chương nghệ thuật của Tạ Duy Anh tuy được manh nha từ sớm nhưng chỉ
đến khi viết Lũ vịt trời, ông mới có cảm giác mình hoàn toàn tự tin. Ông bắt
đầu nghĩ nghiêm túc về quê hương mình, hóa ra toàn bộ thế giới này có hết
dưới dạng thu nhỏ ở làng mình. Quá trình “bừng ngộ” đó giúp ông viết
Bước qua lời nguyền (1989) mê mải từ sáng đến tối, mười bảy trang bản
thảo chữ nhỏ li ti. Viết xong, như con tằm nhả tơ, tác giả “cảm thấy không
còn gì để sống nữa, một cảm giác rỗng hết ở trong con người”.
Năm 1989, sự xuất hiện truyện ngắn Bước qua lời nguyền đánh dấu
bước ngoặt thực sự trên hành trình sáng tạo của Tạ Duy Anh. Ở một loạt
truyện tiếp theo được tập hợp trong các tập Luân hồi (1944), Truyện ngắn
Tạ Duy Anh (2003), Bố cục hoàn hảo (2004)..., nhà văn vẫn tiếp tục dòng
mạch cảm hứng mà Bước qua lời nguyền đã khơi mở. Chính truyện ngắn
này đã mang lại vinh quang rực rỡ cho Tạ Duy Anh. Với giải nhất cuộc thi
viết về Nông nghiệp - nông thôn do Tuần báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp
Việt Nam và Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1989, tên tuổi Tạ Duy
Anh bắt đầu được đông đảo dư luận chú ý. Tác phẩm của ông trở thành
“hiện tượng”, “sự kiện văn học” ở mảng truyện ngắn. Nhà thơ Hoàng Minh
Châu coi Bước qua lời nguyền là một truyện ngắn đã “báo hiệu một tấm
lòng lớn, một tầm nhìn xa và một tài năng trẻ viết về số phận con người”.
19
Còn Hoàng Ngọc Hiến dành hẳn một bài viết về tác phẩm này trên báo
Nông nghiệp số 50, tháng 12-1989. Nhà phê bình khẳng định: “Đọc truyện
của Tạ Duy Anh, một câu hỏi được đặt ra: Giã từ thế kỉ XX bão tạp và máu
“bằng chứng cho sự long đong của kiếp người” vừa là tội nhân “một cái
máy cứng nhắc của thể chế, “bắt nhân dân ăn thịt nhau vì một cái bánh vẽ”.
Như vậy, nếu ở Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu giả định: người nông
dân là một kiếp người - bò thì Lão Khổ của Tạ Duy Anh là sự chứng minh
giả định ấy bằng sự lý giải chi tiết theo cách của tiểu thuyết. Người nông dân
có tên Lão Khổ là một kiếp người thăng trầm bị làm khổ và tự làm khổ,
chống lại cái ác và sản sinh cái ác - đến khi hiểu được mình là ai thì đã
muộn. Nói cách khác, nhân vật lão Khổ của Tạ Duy Anh cùng với các nhân
vật Lão Khúng (Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Giang Minh Sài
(Thời xa vắng của Lê Lựu), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh)...
đang tạo ra một kiểu dạng nhân vật mới: nhân vật lưỡng hóa (mẫu người
đứng trước sự thử thách và lựa chọn trên các cực đối lập).
Được khẳng định là một cuốn tiểu thuyết quan trọng, nhưng Lão Khổ
lại như “bị chìm đi trong dư luận”. Cuốn sách hầu như vắng bóng trong các
công trình nghiên cứu, phê bình và các chuyên luận về văn học Việt Nam
thời kì đổi mới. Lí giải hiện tượng này có thể có những nguyên do sau:
Thứ nhất, tiểu thuyết Lão Khổ ra mắt độc giả năm 1992, sau thời điểm
hoàng kim của văn xuôi (1986 - 1991). Hàng loạt các tác phẩm gây xôn xao
dư luận cả trong nước và ngoài nước, hàng loạt cá tính độc đáo được khẳng
định, trong đó người ta nhắc nhiều đến Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Bảo Ninh... Đặc biệt, năm 1990 - 1991 cuộc thi truyện ngắn
21
báo Văn nghệ và năm 1991, mùa giải tiểu thuyết của Hội nhà văn đều thành
công vang dội, dư luận bị thu hút nhiều hơn vào những tác phẩm đoạt giải
như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma
của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng,... Người ta
bận tâm tới những tác giả có khả năng gây shock như Nguyễn Huy Thiệp,
tuyên huấn. Có lẽ một phần do “cái tạng người văn” thích “gây gổ”, hơi
“phá phách” của tác giả. Hiện lên trong tác phẩm là một bức tranh xã hội
ngột ngạt tham vọng quyền lực, những cái chết vô nghĩa, sự đồi bại..., được
diễn tả bằng thứ ngôn ngữ khô khốc, bụi bặm, khinh bạc. Vị đắng chát và
nghiệt ngã của nó gây khó chịu và là một cú sốc mạnh đối với thói quen tiếp
nhận của người đọc. Áp lực căng thẳng của cuộc sống hiện đại vốn đã làm
con người mệt mỏi, người ta muốn tìm ở văn chương một sự thư giãn hay
một ảo giác về hạnh phúc. Họ sẽ không tìm được điều đó ở những tác phẩm
như Đi tìm nhân vật hoặc Lão Khổ.
Cuối năm 2004, tiểu thuyết Thiên thần sám hối ra đời, ghi nhận những
nỗ lực không mệt mỏi của tác giả trong việc tìm kiếm các giá trị mới mẻ cho
văn học. Đọc cuốn tiểu thuyết này, ấn tượng mạnh nhất là sự khác lạ. Tác phẩm
thể nghiệm một lối viết hoàn toàn mới, từ việc sáng tạo nhân vật người kể
chuyện phi thực (bào thai) đến lối dẫn truyện, cách thức kết cấu...
đều thể hiện rõ tinh thần cách tân của tiểu thuyết hiện đại. Những yếu tố phi
lí, hoài nghi, tra vấn là nét riêng của tác phẩm, để lại nhiều ám ảnh trong
lòng người đọc.
23
Với ba cuốn tiểu thuyết Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám
hối, Tạ Duy Anh đang được coi là cây bút tiểu thuyết sung sức. Mặc dù có
người xem đây chỉ là những thể nghiệm của nhà văn; nhưng không thể phủ
nhận tác phẩm của ông đã tạo ra một “từ trường” có sức hấp dẫn riêng nhờ
chiều sâu tư tưởng và những phương thức biểu đạt liên thông hết sức ấn
tượng. Hơn nữa, trên hành trình văn chương không mệt mỏi, tác phẩm của
Tạ Duy Anh thể hiện rất rõ sự tự ý thức của chủ thể sáng tạo. Có thể thấy, ở
hai tiểu thuyết sau - Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối - đã bớt đi những