BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ PHI HÙNG NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO
HỆ THUẬT NGỮ KHOA HỌC TỰ NHIÊN TIẾNG VIỆT
(trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Ngô Phi Hùng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Quy định viết tắt Nghĩa
1.
A Thành tố độc lập
2.
B Thành tố có nghĩa, không độc lập
3.
D Danh từ
4.
Đg Động từ
5.
Bảng 2.14. Các thành tố không độc lập (đứng trước) có tần số xuất
hiện cao trong thuật ngữ KHTN 81
Bảng 3.1. Thuật ngữ KHTN có cấu tạo là ngữ 90
Bảng 3.2. Thuật ngữ KHTN có cấu tạo là danh ngữ 94
Bảng 3.3. Thuật ngữ KHTN có cấu tạo là động ngữ 118
Bảng 3.4. Số lượng mô hình cấu tạo thuật ngữ KHTN là động ngữ 134
Bảng 3.5. Số lượng thuật ngữ là danh ngữ thuộc mô hình: Phần
phụ trước + Phần trung tâm 136
Bảng 3.6. Số lượng thuật ngữ là danh ngữ thuộc mô hình: Phần
phụ trước + Phần trung tâm + Phần phụ sau 136
Bảng 3.7. Số lượng thuật ngữ là danh ngữ thuộc mô hình: Phần
trung tâm + Phần phụ sau 137
Biểu đồ 3.8. Tỉ lệ thành tố tham gia cấu tạo thuật ngữ KHTN là
danh ngữ 139
Bảng 3.9. Số lượng thuật ngữ là động ngữ thuộc mô hình: Phần
phụ trước + Phần trung tâm 140
Bảng 3.10. Số lượng thuật ngữ là động ngữ thuộc mô hình: Phần
phụ trước + Phần trung tâm + Phần phụ sau 140
Bảng 3.11. Số lượng thuật ngữ là động ngữ thuộc mô hình: Phần
trung tâm + Phần phụ sau 141
Biểu đồ 3.12. Tỉ lệ thành tố tham gia cấu tạo thuật ngữ KHTN là
động ngữ 142 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
2.6. Tiểu kết chương 2 85
Chương 3. PHƯƠNG THỨC VÀ MÔ HÌNH CẤU TẠO THUẬT NGỮ
KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở BẬC NGỮ 88
3.1. Giới hạn khái niệm và nội dung khảo sát 88
3.1.1. Giới hạn khái niệm 88
3.1.2. Nội dung khảo sát 89
3.2. Thuật ngữ khoa học tự nhiên có cấu tạo là danh ngữ 91
3.2.1. Khái niệm danh ngữ 91
3.2.2. Mô hình cấu trúc của danh ngữ 91
3.2.3. Các mô hình cấu tạo 94
3.3. Thuật ngữ khoa học tự nhiên có cấu tạo là động ngữ 117
3.3.1. Khái niệm động ngữ 118
3.3.2. Các mô hình cấu tạo 118
3.4. Những mô hình có sức sản sinh cao 135
3.5. Tiểu kết chương 3 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 165
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về mặt ngôn ngữ và văn tự, trước đây, trong suốt 1000 năm Bắc
thuộc và tiếp sau gần 1000 năm độc lập, tiếng Việt tồn tại trong vị thế song ngữ
bất bình đẳng [113]. Kể từ cách mạng tháng Tám năm 1945, địa vị của tiếng
Việt nói chung, chữ quốc ngữ nói riêng mới thực sự thay đổi, tiếng Việt đã trở
thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất. Vị thế của tiếng Việt thay đổi nên chức
và chuẩn hóa hệ thuật ngữ tiếng Việt nói chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng
theo phương châm: khoa học (chính xác, hệ thống), quốc tế và dân tộc. Mặt
khác, hiểu rõ các đặc điểm cấu tạo của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt cũng sẽ
góp phần vào việc khẳng định vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học, góp
phần vào quá trình truyền bá tri thức, phát triển khoa học ở Việt Nam. Kết quả
nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng vào việc biên soạn từ điển, tạo điều
kiện cho việc giảng dạy và học tập tốt hệ thuật ngữ khoa học tiếng Việt nói
chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Mặc dù vấn đề thuật ngữ đã được quan tâm từ rất lâu, nhưng phải đến
thế kỉ XX, Thuật ngữ học mới thực sự được khẳng định như một ngành khoa
học. Việc nghiên cứu thuật ngữ xuất phát từ hai vấn đề nền tảng: thứ nhất là
do kết quả quan sát quá trình hình thành lí thuyết nhằm đáp ứng sự ra đời của
một bộ phận từ ngữ đặc biệt trong ngôn ngữ chuyên môn; thứ hai là do trên
thực tế, trong giao tiếp, nhóm từ ngữ đặc biệt này được coi như những từ ngữ
có ứng dụng độc lập.
Trên thực tế, thuật ngữ ra đời và được sử dụng trước khi người ta tìm
cách định nghĩa chúng. Bên cạnh cái chung, mỗi ngành khoa học đều tạo
3
dựng cho mình các cơ sở xây dựng nên những hệ thống thuật ngữ chuyên
ngành khác nhau, vì thế chúng có những đặc thù riêng.
Để hình dung một cách rõ hơn về nội dung của khái niệm “thuật ngữ
khoa học”, trước hết chúng ta hãy đến với quan niệm của các nhà khoa học Âu -
Mĩ, nơi có nền khoa học - kĩ thuật - công nghệ phát triển sớm, nhanh và mạnh.
Nói đến thuật ngữ học trước hết không thể không nhắc tới các nhà thuật
ngữ học như: E. Wuster (Đức), J.C. Boulanger (Anh), R.W. Brown (Mĩ)
[146], W.E. Flood (Mĩ) [148], J.C. Segen (Mĩ) [150]. Ngoài việc định nghĩa
thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên
cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có
Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn, Danh từ vạn vật học của Đào Văn Tiến
(1945), Danh từ y học của Lê Khắc Thiền và Phạm Khắc Quảng, v.v.
Do điều kiện lịch sử và xã hội, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX,
vấn đề thuật ngữ mới thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà khoa học
Việt Nam. Năm 1960, Ban Sử Địa Văn (tiền thân của Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành
“Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên”.
Hàng loạt các hội nghị, hội thảo bàn về vấn đề thuật ngữ (Hội nghị bàn về vấn
đề xây dựng thuật ngữ khoa học, 28 - 29/12/1964; Hội nghị trưng cầu ý kiến
về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học tháng 5/1965). Một Hội đồng Thuật ngữ -
Từ điển khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời. Vào tháng
6/1966, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã công bố áp dụng tạm thời bản “Quy
tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt”.
Những năm 90 của thế kỉ XX về sau, một số bài viết, công trình nghiên
cứu về cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt ra đời như: Vấn đề phương thức cấu tạo
thuật ngữ trong một số công trình xuất bản tại Việt Nam thời kì 1954 - 1975
5
[143]; Thuật ngữ quân sự tiếng Việt (đặc điểm và cấu trúc) [42]; Thuật ngữ
Việt Nam đầu thế kỉ XX trong quan hệ với văn hóa và phát triển [111]; Đặc
điểm của thuật ngữ tiếng Việt [83], [84]; Về đặc điểm mô hình cấu tạo và việc
chuẩn hóa thuật ngữ xây dựng là cụm từ trong tiếng Việt [128]. Cùng với các
bài viết, công trình trên là các đề tài cấp bộ, cấp học viện đã được bảo vệ,
hàng loạt bài viết của các tác giả về thuật ngữ đã được giới thiệu, phản ánh
kết quả nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt.
Kể từ năm 1991 đến năm 2013 đã có nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu
về thuật ngữ được bảo vệ, như luận án của Vũ Quang Hào [41], Nguyễn Thị
Bích Hà [35], Nguyễn Thị Kim Thanh [105], Vương Thị Thu Minh [80], Mai
Thị Loan, Vũ Thị Thu Huyền [48].
Như vậy, vấn đề thuật ngữ nói chung và việc nghiên cứu các phương
Thông qua sự phân tích các mô hình cấu tạo, liên hệ tới những mô hình
có sức sản sinh cao, rút ra các mô hình cấu tạo cơ bản của các hệ thuật ngữ
này trong tiếng Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt kết quả nghiên cứu theo mục đích và nhiệm vụ đã đề ra, luận
án sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được dùng để miêu tả các phương thức và mô hình
cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt.
4.2. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được áp dụng để phân tích
cấu tạo của thuật ngữ theo từng thành tố. Kết quả phân tích cho thấy đặc điểm
phương thức cấu tạo của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt và làm rõ hệ thống mô
hình cấu tạo cũng như các bước phát triển và xu hướng chuẩn hóa của chúng
trong tiếng Việt.
Ngoài hai phương pháp cơ bản trên, luận án còn sử dụng các phương
pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:
7
- Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng khi phân tích những đặc
điểm riêng của từng tiểu loại. Các tiểu loại khảo sát có mối liên hệ với nhau;
qua so sánh rút ra những nhận xét chung và riêng cho từng tiểu loại.
- Thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng để xác định số lượng từng
loại thuật ngữ xét theo mô hình cấu tạo. Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp
thể hiện dưới hình thức các bảng biểu, đồ thị nhằm giúp hình dung rõ hơn nét
đặc trưng cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên trong tiếng Việt.
5. Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên
tiếng Việt. Xét theo bậc cấu tạo và các phương diện cụ thể của thuật ngữ, luận
nói chung và hệ thuật ngữ KHTN nói riêng trong tiếng Việt hiện nay.
Luận án, ở mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp, góp phần chuẩn
hóa và giữ gìn sự trong sáng, sự phát triển của tiếng Việt trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khảo sát và phụ lục,
luận án gồm có ba chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ KHTN ở bậc từ
Chương 3: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ KHTN ở bậc ngữ
9
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái niệm thuật ngữ
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề thuật ngữ luôn
được các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm thuật
ngữ được mọi người thừa nhận. Sở dĩ có nhiều cách định nghĩa khác nhau là
do cách nhìn. Có tác giả cho rằng thuật ngữ xác định khái niệm, nhưng cũng
có tác giả cho rằng thuật ngữ không chỉ xác định khái niệm mà còn biểu hiện
khái niệm. Về bản chất của thuật ngữ, D.S. Lotte (Д.C. Лотте), thì cho rằng
thuật ngữ là từ đặc biệt, còn G.O. Vinokur (Г.О.Винокур) cho rằng thuật
ngữ không phải từ đặc biệt, mà chỉ là từ với chức năng đặc biệt, và tuyên bố
rằng, bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ.
O.S. Akhmanova (O.C. Axмaнова) định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc
cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật,
v.v.) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, v.v.) để biểu hiện
chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”
hóa học; quang phổ, quang học, điện pin thuộc về ngành lí v.v
Đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng
nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng
ngành)” [133, tr.202].
Ở định nghĩa này, Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh đến mặt khái niệm
mà các thuật ngữ biểu thị. Tuy nhiên, do điều kiện khoa học - kĩ thuật ở nước
ta lúc bấy giờ còn chưa phát triển mạnh, nên trong định nghĩa của ông phải
chăng vì thế mà tính quốc tế chưa được đề cao, còn "tùy từng ngành”.
Năm 1962, trong Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa:
“Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành
11
khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của
ngành vật lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v… Đặc tính
của những từ này là phải gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ
tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [15, tr.167].
Định nghĩa trên đã nhấn mạnh không chỉ đến mặt “biểu thị khái niệm
khoa học” mà còn “chỉ tên một sự vật, hiện tượng khoa học, kĩ thuật” trong
thuật ngữ khoa học.
Sau này trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Đỗ Hữu
Châu đã đưa ra định nghĩa bao quát nhưng khái quát hơn về thuật ngữ khoa
học, kĩ thuật như sau: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ
vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm…
trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự
nhiên hay xã hội” [16, tr.237]. Ông đối lập thuật ngữ với từ thông thường.
Theo ông: “Khác với từ thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng
hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế, đối tượng của ngành
kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng. Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là
những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong
tư duy (dĩ nhiên theo cách hiểu của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương
sau: Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc đối tượng trong một lĩnh
chuyên môn nhất định.
1.2. Thuật ngữ trong văn bản
Việt Nam hiện đang trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Đi cùng với quá trình này, các ngành khoa học và công nghệ cũng đang phát
triển với tốc độ nhanh. Số lượng thuật ngữ (term) liên tục tăng, tỉ lệ thuật ngữ
xuất hiện trong các văn bản ngày càng cao. Đây là điều tất yếu của quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, với số lượng thuật ngữ
13
tăng với tốc độ rất lớn này, việc tìm hiểu, điều chỉnh thuật ngữ cũng trở nên
không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong các văn bản, đặc biệt là
văn bản khoa học chuyên ngành.
Thuật ngữ không chỉ xuất hiện trong các văn bản khoa học, kĩ thuật mà
còn có cả ở các văn bản thông thường. Trong các văn bản thuộc lĩnh vực
KHTN, thuật ngữ được sử dụng với một số lượng lớn. Ví dụ: đạo hàm, tích
phân, vi phân, đoạn thẳng, (Toán học); điểm tựa, trọng lực, lực, phát
quang, phóng xạ, điện trở, quán tính, cơ học, dao động, (Vật lí); kiềm,
muối, phân tử, kim loại, lưu huỳnh, hỗn hợp, nguyên tử, (Hóa học); mô, tế
bào, thụ phấn, (Sinh học). Đây là những thuật ngữ của ngôn ngữ tự nhiên
chứa đựng các khái niệm của các chuyên ngành khoa học, và là công cụ để tư
duy khoa học. Các khái niệm khoa học này là kết quả của quá trình trừu tượng
và khái quát hóa của con người. Vì thế, các thuật ngữ biểu hiện chúng cũng
mang tính trừu tượng, khái quát cao.
Thuật ngữ thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, không giống từ
ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Do đó, khi sử dụng
thuật ngữ, cần phải dùng đúng với khái niệm khoa học. Ví dụ, trong ngôn ngữ
hàng ngày, muối được dùng với nghĩa “tinh thể trắng, vị mặn thường tách từ
nước biển, dùng để ăn”. Khi muối được dùng trong lĩnh vực Hóa học, thì muối
có nghĩa là “Hợp chất do acid tác dụng với base sinh ra” [137, tr.650].
lặp đi lặp lại một từ trong một ngữ cảnh hẹp là một thiếu sót, nhưng đối với
văn bản chuyên ngành thuộc lĩnh vực KHTN thì đó là một dấu hiệu của
phong cách chức năng.
Văn bản chuyên ngành KHTN, bên cạnh việc sử dụng các thuật ngữ
chung, còn sử dụng nhiều thuật ngữ mang tính trừu tượng. Trong khoa học,
các khái niệm đều được nhận thức thông qua tư duy logic, thông qua quá trình
trừu tượng hóa, khái quát hóa để nhận thức và phản ánh thế giới khách quan.
Đóng vai trò quan trọng trong lớp thuật ngữ trừu tượng này là các từ Hán Việt
15
và cách định danh hóa một động từ bằng các thành tố “sự”, “tính”, Những
thuật ngữ chỉ vật chất trừu tượng trong văn bản chuyên ngành được sử dụng
với ý nghĩa khái quát, đảm bảo tính ngắn gọn và chính xác.
Để nắm vững thuật ngữ chuyên ngành, ngoài việc am hiểu khoa học,
người tạo lập văn bản còn cần phải thông thạo ngoại ngữ của từng lĩnh vực
chuyên môn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực Tin học, nếu không có sự hiểu biết
về tiếng Anh chuyên ngành, người tra cứu thông tin sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Nhưng nếu có trình độ chuyên môn tốt, chỉ cần một cái "nhấp chuột"
là cả một thế giới thông tin rộng lớn sẽ được mở ra trước mắt người đọc.
Trong văn bản chuyên ngành, thuật ngữ là danh từ được sử dụng nhiều nhất.
Bởi đa phần thuật ngữ trong văn bản chuyên ngành là thuật ngữ định danh
khái niệm. Trong số những thuật ngữ là danh từ còn có những thuật ngữ là
danh từ trừu tượng như: thời gian, nhiệt độ, hiện tượng, số lượng, thuộc tính,
tần số, trạng thái,
Văn bản chuyên ngành khoa học mang đặc trưng lí trí, logic cả trong nội
dung khoa học, cả ở phương tiện ngôn ngữ. Bởi vì, để gợi mở trí tuệ và thuyết
phục bằng lí tính, lời trình bày, cách suy luận phải biểu hiện bằng năng lực tổng
hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ của tư duy logic hình thức đến
tư duy logic biện chứng.
Trong lĩnh vực KHTN, việc chứng minh tính đúng đắn về nội dung khoa
hình chữ nhật (có các cạnh a, b) là S=ab. 2. cn. công thức Hóa học. Nhóm kí
hiệu hóa học biểu diễn thành phần phân tử của một chất. Công thức của nước
là H
2
O” [137, tr.210].
Trong Toán học, để cho gọn, người ta thường dùng các kí hiệu để chỉ
các số, các hình, các phép toán, các quan hệ, như:
(vô hạn), e (cơ số
logarit tự nhiên), (tỉ số giữa chu vi và đường kính vòng tròn), [ ] (phần
nguyên của một số), a
2
, b
2
, a
n
(lũy thừa của một số); các phép tính cộng,
trừ, nhân, chia, v.v.
Tập hợp các kí hiệu thường dùng trong Toán học được thể hiện qua
bảng tổng hợp 1.1 sau:
17
Bảng 1.1. Các kí hiệu thường dùng trong Toán học
Dấu Nghĩa của dấu Người đưa vào Năm đưa vào
Vô hạn Oalixơ (J Wallis) 1655
e Cơ số logarit tự nhiên Ơle ( L. Euler) 1736
Cavaliêri (B. Cavalieri)
1632
ln lôgarit tự nhiên Prinhsêm (A. Pringsheim) 1893
sin, cos Các hàm lượng giác Ơle 1748
tang Ơle 1753
dx, d
2
x Vi phân Laibnit 1675
ydx
Tích phân
Labnit 1675
d/dx Đạo hàm Labnit 1675
y’(x),
f’(x)
Đạo hàm
Lagrăng (J. L. de
Lagrange)
1770
(x) Số gia Ơle 1775
,
(x)
Đạo hàm riêng Lơgiăng (A. M. Legendre) 1786
Tổng
Ơle 1755