SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai Nhiệt hoc Vật li 10 - Pdf 34

SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Dựa vào thực tiễn hiện nay nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục
đang được đặt lên hàng đầu. Tôi luôn xác định nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục là
rất quan trọng, cần phải làm gì để nâng cao chất lượng giảng dạy ở bộ môn mình,
lớp mình phụ trách từ đó mới góp phần vào nâng cao chất lượng giáo dục của nhà
trường.
Vật lí là môn học đòi hỏi nhiều tư duy, lý thuyết đi đôi với thực nghiệm. Con
đường để đạt được những yêu cầu của chương trình về nội dung, về các kĩ năng,
về thái độ không thể là lối dạy theo kiểu “truyền thụ một chiều”, “dạy chay – học
chay” mà đó phải là các phương pháp dạy học tích cực, sao cho học sinh được
phát huy một cách tốt nhất tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của mình; bồi
dưỡng được cho học sinh phương pháp tự học cũng như rèn luyện năng lực vận
dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh.
Môn vật lí trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển toàn diện của học sinh. Mục đích của môn học là
giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết
về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành... của vật lí. Học vật lí
là để hiểu, để giải thích được các vấn đề của tự nhiên và cuộc sống thông qua việc
tìm hiểu các thuyết, các định luật chi phối các quy luật của tự nhiên. Đồng thời là
khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời
sống của con người. Vật lí góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm tổn hại
đến đời sống, tinh thần của con người...
Để đạt được mục đích của học vật lí trong trường phổ thông thì giáo viên dạy
vật lí là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về
vật lí, người giáo viên dạy vật lí còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây
hứng thú khi lĩnh hội kiến thức vật lí của học sinh. Vậy làm thế nào để giúp học
sinh lớp mình giảng dạy vận dụng được kiến thức đã học để giải được một số bài
tập định tính và định lượng đạt hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng học tập, giảm

giảng dạy thì mới có thể truyền thụ và lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả.
Hệ thống hóa bài học bằng câu hỏi là cách để củng cố, ôn tập giúp học sinh
nhớ lại kiến thức đã học. Bên cạnh đó còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn giải thích các hiện tượng tự nhiên, các ứng
dụng vật lí trong đời sống con người, nhờ đó học sinh dễ dàng nắm vững kiến thức
hơn.
Trước tình hình đổi mới như hiện nay đòi hỏi bộ môn vật lí phải đổi mới
phương pháp dạy học là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Giáo viên có thể áp
dụng nhiều phương pháp lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình
huống giả định để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học
sinh, vừa tạo môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm
yêu thích môn học hơn.
Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy
tính thực tế, giáo dục về môi trường, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có
tính chất cập nhật và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại; tính thực tiễn và
giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm.
1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp:
Khi dạy kiến thức vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: cơ học, nhiệt học, điện từ
học hay quang học… đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay nhiều hiện tượng
thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho
học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa các
môn học với nhau.
Ví dụ: Ớ các vùng biển thường hay xảy ra hiện tượng thủy triều (môn địa lí).
Dựa vào kiến thức vật lí hãy giải thích hiện tượng này ?

-2-


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc



1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của BGH nhà trường đến bộ môn, sự giúp đỡ của quí
thầy cô trong tổ đã góp ý cho việc sưu tầm, biên soạn tài liệu ôn tập.
- Học sinh đa số có ý thức học tập cao và luôn năng nỗ trong giờ học.
- Sách tham khảo dùng cho giảng dạy vật lí phong phú.
2. Khó khăn:
- Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu
không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ
làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận.
- Môn vật lí lượng kiến thức nhiều khó có thể bao quát kiến thức cho học
sinh. Chuẩn bị tiết dạy thường không có sự khái quát, kết luận cụ thể từng phần
nên học sinh khó nắm bắt được phương pháp giải các bài tập định tính và định
lượng liên quan.
- Một bộ phận nhỏ học sinh ý thức học tập chưa cao, thiếu tinh thần tự giác,
còn thụ động, ỷ lại trong học tập.
- Chất lượng đầu vào của lớp 10 không cao, phân chia lớp theo điểm thi từ
cao xuống thấp nên chuẩn bị và tổ chức một tiết học cho các lớp không giống
nhau.
- Khả năng sử dụng máy tính cầm tay và vận dụng kiến thức Toán vào giải
bài tập Vật lí của học sinh còn hạn chế.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các giải pháp thực hiện:
Vận dụng đề tài bằng cách:
a. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới
thiệu bài giảng mới.
b. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các
bài tập tính toán.
c. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hàng ngày, lồng ghép với bảo


Trả lời : Khi bơm hơi vào bóng, mật độ phân tử khí tăng lên, do chuyển động
nhiệt mà các phân tử khí va chạm vào nhau và va chạm với thành quả bóng gây
nên áp suất tác dụng lên bóng. Chính vì sự tăng dần của áp suất đã làm cho quả
bóng căng phồng lên.
Áp dụng: để dạy phần thuyết động học phân tử chất khí
Câu 2. Khi pha nước chanh, người ta thường làm cho đường tan trong nước rồi
mới bỏ đá lạnh vào. Vì sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi đường bỏ sau?
Trả lời : Nhiệt độ càng cao, các phân tử chuyển động càng nhanh nên dễ hòa
tan hơn. Nếu bỏ đá vào trước, nhiệt độ của nước hạ thấp làm quá trình hòa tan của
đường diễn ra chậm hơn.
Áp dụng: để dạy phần cấu tạo chất
Câu 3. Việc tách hai tấm ván gỗ úp lên nhau dễ hơn nhiều so với việc tách hai tấm
kính chồng lên nhau. Tại sao vậy?
Trả lời : Hai tấm kính đặt úp lên nhau có lực liên kết giữa các phân tử mạnh
hơn do chúng có bề mặt nhẵn, các phân tử ở hai tấm kính ở rất gần nhau đến mức
nó có thể hút nhau. Điều này không xảy ra với hai tấm gỗ.
Áp dụng: để dạy phần lực tương tác phân tử.
Câu 4. Nhỏ vài giọt nước hoa lên quần áo, tại sao ta đứng cách xa vài mét vẫn
ngửi thấy ?
Trả lời : Do sự khuếch tán của các phân tử nước hoa.
-5-


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

Áp dụng: đặt vấn đề vào bài mới.
Bài 29. Quá trình đẳng nhiệt. Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt
Câu 1. Một bọt khí nổi dần từ đáy thùng lên mặt nước hỏi thể tích của bọt khí thay
đổi như thế nào ?

Vì sao phải làm như vậy ?
Trả lời : Để khi bật đèn, nhiệt độ của bóng đèn
tăng làm áp suất khí cũng tăng dần nhưng không vượt
quá áp suất khí quyển. Khi đèn sáng ổn định, nhiệt độ
không tăng và áp suất khí ổn định
Câu 3. Không khí bên trong một ruột xe có áp suất 1,5 atm khi đang ở nhiệt độ 25
0
C. Nếu để xe ngoài nắng có nhiệt độ lên đến 50 0C thì áp suất khối khí bên trong
ruột xe tăng thêm (coi thể tích không đổi)
A. 1,63 atm.
B. 0,13 atm.
C. 3 atm. D. 1,5 atm.
Giải :

p2
p1
pT
⇒ p 2 = 1 2 = 1.63atm
=
T2
T1
T1

Áp suất tăng thêm : ∆p = p2 – p1= 0,63 atm
-6-


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

Bài 31. Phương trình trạng thái của khí lí tưởng.


V
= 161,6 m3.
1 =
T1
T0
p1T0

Thể tích không khí thoát ra khỏi phòng: ∆V = V1 – V0 = 1,6 m3.
Áp dụng: Cho phương trình trạng thái.
Câu 3. Khi ấn pittông từ từ xuống để nén khí trong xilanh, thì thông số nào của
khí trong xi lanh thay đổi?
A. Nhiệt độ khí giảm.
B. Áp suất khí tăng.
C. Áp suất khí giảm.
D. Khối lượng khí tăng.
Trả lời : Đáp án B
Bài 32. Nội năng và sự biến thiên nội năng
Câu 1: Lấy một đồng xu cọ xát lên mặt bàn ta thấy đồng xu nóng lên. Nếu bỏ đồng
xu vào một cốc nước nóng ta cũng thấy đồng xu nóng lên. Hãy giải thích vì sao ?
Trong trường hợp nào đồng xu đã nhận một nhiệt lượng ?
Trả lời: Vì nội năng của đồng xu tăng nên do đó đồng xu nóng lên.
Đồng xu nhận nhiệt lượng trong trường hợp nó được thả vào cốc nước nóng,
nước nóng đã truyền nhiệt cho nó.
Áp dụng: đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Tại sao các vật nóng khi bỏ vào nước sẽ nguội nhanh hơn khi bỏ ngoài
không khí?
Trả lời : Do nhiệt dung riêng của nước lớn hơn của không khí, nên trong
cùng một khoảng thời gian nước thu nhiệt nhiều hơn.
Áp dụng: cho phần truyền nhiệt.

Câu 2. Khi tay ta cầm cục đá lạnh thì tay ta lại thấy lạnh có phải là do nhiệt từ đá
truyền sang hay không ?

Trả lời : Không. Vì khi tay ta nắm vào đá đã truyền nhiệt sang đá làm đá
tan thành nước đồng thời nhiệt độ tay ta giảm nhanh nên ta cảm thấy lạnh.
Áp dụng: cho phần nguyên lí II NĐLH
Câu 3. Một khối khí được truyền một nhiệt lượng 2000 J thì khối khí dãn nở và
thực hiện được một công 1500 J. Tính độ biến thiên nội năng của khối khí.
A. 500 J.
B. 3500 J.
C. – 3500 J.
D. – 500 J.
∆U = A + Q = −1500 + 2000 = 500 J
Giải :
Bài 34. Chất rắn kết tinh. Chất rắn vô định hình
Câu 1. Than chì và kim cương đều được cấu tạo từ nguyên tử các bon. Hãy giải
thích tại sao :
a. Trong tự nhiên thường gặp các bon dưới dạng than chì mà ít gặp dưới dạng
kim cương ?
b. Kim cương và than chì có tính chất vật lí khác nhau ?

-8-


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

Trả lời : a. Để tạo thành kim cương cần có nhiệt độ và áp suất cao, trong khi
đó than chì có thể tạo thành ở nhiệt độ không quá cao.
b. là do sự khác nhau về cấu trúc tinh thể cấu tạo nên chất.
Câu 2. Chất rắn nào sau đây thuộc dạng chất rắn vô định hình?

B. 82,8 cm
C. 26,91 cm
D. 55,89 cm.
∆l = αl0 (t − t 0 ) = 0,2691m = 26,91cm
Giải :
-9-


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

Bài 37. Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng
Câu 1: Người ta thường dùng một loại dầu bóng đặc biệt đánh bóng sườn xe máy,
xe ôtô. Ngoài việc làm cho nước sơn của sườn xe bóng đẹp, nó còn có tác dụng
nào khác không ?
Trả lời: Làm nước mưa không dính ướt sườn xe lâu bị gỉ sét.
Áp dụng: hiện tượng dính ướt và không dính ướt.
Câu 2: Vào những đêm nhiều sương, buổi sáng sớm khi quan sát các lá cây ( như
lá sen), thấy có những giọt sương đọng lại có dạng hình cầu, còn có lá không có
hiện tượng này mà trên có một lớp nước mỏng. Hãy giải thích?

Trả lời: Vì lá sen không bị nước làm dính ướt, còn một số loại lá khác bị
nước dính ướt.
Áp dụng: sự dính ướt và không dính ướt.
Câu 3: Vì sao người thợ nề chỉ quét nước vôi lên tường khi tường đã rất khô ?
Trả lời: Tường khô để lại nhiều ống mao dẫn dễ hút nước vôi vào.
Áp dụng: về ứng dụng của hiện tượng mao dẫn.
Câu 4. Các loại giấy thấm mực, giấy vệ sinh được chế tạo dựa trên cơ sở vật lí
nào?
Trả lời: Hiện tượng mao dẫn.
Áp dụng: về ứng dụng của hiện tượng mao dẫn.

nước ở thanh nào sẽ bay hơi nhanh hơn ?
Trả lời : Nước ở thanh sắt 100 0C sẽ bay nhanh hơn vì bằng nhiệt độ sôi của
nước. Còn khi vẩy nước vào thanh sắt nung đỏ do bên ngoài giọt nước có lớp hơi
nước dẫn nhiệt kém bao phủ nên nước bốc hơi chậm và có hiện tượng giọt nước
nhảy lên xuống trong thời gian ngắn.
Câu 4. Tính nhiệt lượng cần cung cấp để làm nóng chảy hoàn toàn một cục nước
đá có khối lượng 400 g. Biết nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 34.104 J/kg.
A. 13,6.104 J/kg.
B. 27,3.104 J/kg. C. 6,8.104 J/kg.
D. 1,36.104 J/kg.
Q = λm = 34.10 4.0,4 = 13,6.10 4 J / kg
Giải :
Bài 39. Độ ẩm của không khí
Câu 1: Lấy một lon nước ngọt từ trong tủ lạnh ra một phòng ấm hơn, thấy những
giọt nước lấm tấm ở ngoài thành lon, để một lúc những giọt lấm tấm này biến mất.
Hãy giải thích?
Trả lời : Hơi nước có sẵn trong không khí, gặp thành lon nước đang lạnh,
chúng sẽ trở thành hơi bão hòa và ngưng tụ thành những giọt sương. Khi nước
trong lon đã hết lạnh, các giọt sương này lại bay hơi.
Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần đặt vấn đề vào bài mới.
Câu 2: Về mùa thu, sau khi mặt trời mọc, sương mù vẫn còn phủ trên mặt sông
khá lâu. Vì sao vậy?

- 11 -


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

Trả lời : Vì độ ẩm tuyệt đối trên mặt sông bao giờ cũng lớn hơn độ ẩm
tuyệt đối trên mặt đất.


1. Kết quả nghiên cứu:
Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy này và kết hợp với nhiều
phương pháp khác, tôi đã đạt được một số kết quả nhất định.
Học sinh trở nên thích học vật lí hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn,
thậm chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện tượng thực
tế, rồi lại đến hỏi tôi.
Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể
làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài cũng
rất tốt. Như tôi đã khẳng định: Thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều nên
cần phụ thuộc vào người dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì
nếu chúng ta quá lạm dụng thì đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như
thế nào cho tốt là một điều không dễ.
2. Kết quả thực tế :
Thực tế giảng dạy cho thấy các lớp không hoặc ít áp dụng so với lớp áp
dụng thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt.

- 13 -


SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Ý nghĩa của đề tài với công tác giảng dạy.
Trong nội dung đề tài, tôi đã đề cập đến một số bài tập định tính, câu hỏi có ý
nghĩa thực tiễn, bài tập định lượng thậm chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày. Tôi hi
vọng đây là vấn đề gợi mở ra một quan niệm trong dạy học vật lí, mặc dù trong đề
tài này tôi không thể đề cập hết mọi hiện tượng có liên quan.
Việc đầu tư, chuẩn bị càng sâu thì tiết dạy thì hiệu quả càng cao, không những
giúp học sinh cũng cố, mở rộng những kiến thức cơ bản, rèn luyện kỹ năng làm



SKKN : Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực tiễn khi dạy phần hai - Nhiệt hoc

MỤC LỤC
A.
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài........................................................................1
3. Đối tượng và giới hạn của đề tài....................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận.................................................................................................2
II. Cơ sở thực tế................................................................................................4
1. Thuận lợi.............................................................................................4
2. Khó khăn............................................................................................4
III. Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện........................................4
1. Các giải pháp thực hiện.......................................................................4
2. Các hình thức tổ chức thực hiện .........................................................5
3. Hệ thống câu hỏi thực tế và bài tập thực tiễn trong phần hai : Nhiệt
học – vật lí 10. .......................................................................................................5
IV. Kết quả ....................................................................................................13
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………….…………15

- 16 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status