XÂY DỰNG hệ THỐNG câu hỏi và bài tập tự lực để dạy CHUYÊN đề DI TRUYỀN học QUẦN THỂ - Pdf 23

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP TỰ LỰC ĐỂ DẠY CHUYÊN ĐỀ
DI TRUYỀN HỌC QUẦN THỂ
CHO HỌC SINH CHUYÊN SINH.
Người soạn: Nguyễn Thị Năm.
Trường THPT Chuyên Hưng Yên.
Thế kỉ 21 được coi là thế kỉ của Tin học và Sinh học. Sự bùng nổ thông tin trong
đó có nguồn thông tin Sinh học đặt con người trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít
thách thức. Một trong những thách thức đó chính là khả năng thu thập và xử lý thông
tin sao cho thật hiệu quả. Điều đó đòi hỏi cần phải có sự đổi mới trong dạy và học.
Trong đó, trò cần phải là người tự lực chiếm lĩnh kiến thức, còn thầy chỉ là người tổ
chức, trọng tài, cố vấn cho trò.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, trong bài viết của mình, chúng tôi xây dựng hệ
thống CH-BT (câu hỏi – bài tập) tự lực để tổ chức dạy học theo hướng tăng cường khả
năng tự học của học sinh chuyên Sinh khi dạy chuyên đề “Di truyền học quần thể”.
A- Một vài vấn đề về CH – BT tự lực.
CH là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết. Đó là một
dạng cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi hay một mệnh lệnh cần giải
quyết. Như vậy, trong bản thân CH chứa đựng cả hai yếu tố là điều đã biết và điều cần
tìm. Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy sự mở rộng hiểu biết của
con người.
BT là bài giao cho học sinh để vận dụng những điều đã học được. Đó là những bài
toán hoặc CH mà khi hoàn thành chúng, người học có được hoặc hoàn thiện một tri
thức hay kĩ năng nhất định.
BT cũng chứa đựng cả điều đã biết và điều cần tìm nhưng giữa hai yếu tố đó có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau hơn so với trong CH. Từ điều đã biết qua một loạt các
phép biến đổi tương đương, ta có được điều cần tìm.
CH-BT tự lực là những CH-BT được thiết kế sao cho trở thành một “chương trình
hành động” trong một thời lượng nhất định, nhằm định hướng quá trình tự lực nghiên
cứu tài liệu (sách giáo khoa hoặc tài liệu bổ trợ) của học sinh theo ý đồ của giáo viên.
Hưng Yên – năm 2012
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….

duy chưa đúng hướng của học sinh. Học trò vẫn phải thực hiện quá trình thử và sai
nhưng do được định hướng kịp thời nên đỡ tốn thời gian hơn. Tuy nhiên, tính tự lực
không cao bằng cách thứ nhất.
Như vậy, mỗi cách đều có ưu và nhược điểm khác nhau, vì vậy, theo nội dung kiến
thức, đặc điểm của người học mà trong thực tế, chúng tôi có thể phối hợp linh hoạt giữa
hai cách để nâng cao hiệu quả của bộ CH-BT tự lực.
B. Sử dụng hệ thống CH-BT tự lực trong dạy học chuyên đề Di truyền học quần thể.
I. Mục tiêu dạy học chuyên đề Di truyền học quần thể.
1. Về kiến thức:
- Phát biểu được định nghĩa quần thể (xét về mặt di truyền học) và tần số alen, tần số
kiểu gen.
2
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
- Phân biệt được các kiểu quần thể ngẫu phối và giao phối không ngẫu nhiên (giao
phối gần, tự phối và giao phối có lựa chọn).
- Phát biểu được nội dung, nêu ý nghĩa và những điều kiện nghiệm đúng của định luật
Hácđi - Vanbec. Xác định được cấu trúc di truyền của quần thể khi ở trạng thái cân
bằng di truyền.
- Trình bày được sự cân bằng di truyền của quần thể trong trường hợp dãy alen, khi
có sự khác biệt về tần số alen ở hai giới đực và cái và sự cân bằng của quần thể với
những gen trên NST giới tính.
2. Về kĩ năng:
- Biết xác định tần số tương đối các alen, các kiểu gen, hệ số nội phối (hệ số cận
huyết) và trạng thái cân bằng và không cân bằng của di truyền quần thể.
3. Về thái độ :
- Hình thành và hoàn thiện năng lực tự lực làm việc với sách giáo khoa và tài liệu
tham khảo.
- Ý thức được tính tất yếu của tiến hoá, các yếu tố ảnh hưởng từ đó có ý thức trong
bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học,…
II. Hệ thống CH-BT tự lực trong dạy học chuyên đề Di truyền học quần thể.

2. Quần thể tự phối.
a. Nội dung cơ bản:
- Các loại quần thể tự phối (tự thụ phấn và giao phối cận huyết).
- Công thức tổng quát.
- Đặc điểm di truyền của quần thể tự phối.
 Hậu quả của tự thụ phấn và giao phối cận huyết qua nhiều thế hệ.
b. Câu hỏi – Bài tập
Câu 2: Ở cà chua, A – quả đỏ, a – quả vàng. Cho cây cà chua quả đỏ dị hợp tử tự thụ phấn
liên tiếp qua nhiều thế hệ.
a. Hãy xác định cấu trúc di truyền của quần thể sau 5 thế hệ tự thụ phấn liên tiếp.
b. Khái quát công thức với số thế hệ là n.
c. Xác định cấu trúc di truyền của quần thể dAA + h Aa + raa = 1 (0 ≤ d,h,r ≤1) sau n thế
hệ tự thụ phấn liên tiếp.
d. Nhận xét về đặc điểm di truyền của quần thể tự phối.
Hướng dẫn giải:
a. HS dựa vào bảng 20 (T82 SH12 NC) hoặc viết cấu trúc di truyền của quần thể ở F1,
F2,…
 Sau mỗi thế hệ tự thụ phấn bắt buộc, tỉ lệ kiểu gen dị hợp Aa giảm đi một nửa .
 Ở F5 tỉ lệ Aa là (1/2)5, tỉ lệ AA = aa = [1- (1/2)5]/2
b. Fn:
[1 – (1/2)n]/2 AA + (1/2)n Aa + [1 – (1/2)n]/2 aa = 1
c. P: dAA + hAa + raa = 1
 Fn: { d+h[1 – (1/2)n]/2 } AA + h(1/2)n Aa + { r+h[1 – (1/2)n]/2 }aa = 1
4
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
d. Nhận xét
- Tỉ lệ đồng hợp tăng, tỉ lệ dị hợp giảm.
- Tăng nguy cơ bị thoái hoá giống do các alen lặn có hại có cơ hội biểu hiện ra kiểu hình.
Câu 3:
a.Thoái hoá giống là gì? Hãy giải thích nguyên nhân của thoái hoá giống.

Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
Mức độ giao phối cận huyết trong quần thể được biểu diễn bằng hệ số cận huyết, F,
được tính theo phương trình:
fdị hợp tử quan sát thực tế = f dị hợp tử tính thep lí thuyết x (1-F) = 2pq x(1-F)
Trong đó f là tần số kiểu gen.
Từ công thức trên ta có F = 1 – fTT/fLT
Khi F =1 thì tần số dị hợp quan sát thực tế = 0 tức là toàn bộ quần thể ở trạng thái dị
hợp tử.
- Quần thể nội phối n thế hệ, tỉ lệ kiểu gen Aa được tính theo công thức: 2pq(1-F)n
b. Câu hỏi - bài tập
Câu 4: Trong một quần thể yến mạch hoang dại, tần số đồng hợp tử trội, dị hợp tử và đồng
hợp tử lặn tương ứng là: 0,67; 0,06 và 0,27. Hãy tính hệ số nội phối trong quần thể.
Hướng dẫn giải:
Tần số các alen: p = 0,67 + (1/2)(0,6) = 0,7; q = 1 – 0,7 = 0,3
Tần số dị hợp tử theo lý thuyết: 2pq = 2(0,3)(0,7) = 0,42
Hệ số nội phối = 1 – (0,06/0,42) = 0,86
Câu 5: Một quần thể có tần số alen A là 0,6. Giả sử ban đầu quần thể đang đạt trạng thái
cân bằng di truyền. Sau một số thế hệ giao phối thấy tần số kiểu gen aa là 0,301696. Biết
trong quần thể đã xảy ra nội phối với hệ số là 0,2. Tính số thế hệ giao phối?
Hướng dẫn giải :
Tần số alen a là 0,4. Do quần thể đạt trạng thái cân bằng nên cấu trúc của quần thể là:
0,36AA+ 0,48Aa + 0,16aa = 1.
Sau một số thế hệ giao phối, tần số aa là: 0,301696
=> Tần số kiểu gen aa tăng là:
0,301696 - 0,16 = 0,141696
=> Tần số Aa đã giảm là: 0,141696 x 2 = 0,283392.
=> Tần số Aa sau n thế hệ giao phối là: 2pq(1 - f)n = 0,48(1 - f)n = 0,48.0,8n
 Tần số Aa giảm là: 0,48 – 0,48.0,8n = 0,283392
 n = 4. Vậy số thế hệ giao phối là 4.
Câu 6 : Một quần thể ngẫu phối có tần số các alen như sau: p(A) = 0,7; q(a) = 0,3.Giả sử

 Nguyên nhân của tính đa hình của quần thể giao phối: Quá trình giao phối.
 Ý nghĩa của tính đa hình: Giúp quần thể thích nghi linh hoạt trước sự thay đổi của điều
kiện môi trường.
- Cách tính số kiểu gen trong quần thể giao phối trong trường hợp:
+ Xét đến 1 locus gen đa alen.
+ Xét nhiều locus gen phân ly độc lập.
+ Nhiều locus gen phân bố trên cùng cặp NST tương đồng.
b. Câu hỏi – bài tập.
Câu 8: Một locus gen A có n alen, hãy thiết lập công thức tính số kiểu gen có thể có trong
7
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
quần thể đối với lôcus gen trên.
Hướng dẫn giải:
Trong tế bào sinh dưỡng, NST tồn tại thành từng cặp tương đồng, do đó các gen tồn tại
thành cặp alen. Giả sử n alen của locus A lần lượt là A1, A2,…., An.
Khi đó ta có thể thấy cách phân bố của các alen trên 2 NST của cặp tương đồng như sau:
NST2
NST1
A1 A2 …… An
A1 A1A1 A1A2 A1A . A1An
A2 - A2A2 A2A… A2An
… - - …… A…An
An - - - AnAn
 Số kiểu genvới locus A có thể có trong quần thể là;
n + (n-1) + (n-2) + ……+ 1 = n(n+1)/2
(Lưu ý: Có thể thiết lập công thức theo cách khác như quy nạp, chúng tôi đưa ra cách này
nhằm tạo nền cho học sinh tư duy trong trường hợp nhiều locus gen liên kết trên một cặp
NST tương đồng ).
Câu 9: Trong một quần thể, người ta xét 3 locus gen A, B, C phân ly độc lập và đều nằm
trên NST thường. Trong đó, locus A có 3 alen, locus B có 4 alen, locus C có 5 alen. Hãy xác

ab - - - ab/ab
 Các kiểu gen có thể có: 4+3+2+1 = 4(4+1)/2 = 10 (kiểu gen)
(Học sinh cũng có thể liệt kê các kiểu gen có thể có nhưng cách đó khó sử dụng để xây
dựng công thức tổng quát do đó chúng tôi đưa ra cách như trình bày ở trên)
- Số kiểu gen được tạo thành từ locus C: 3
- C phân li độc lập với A và B nên số kiểu gen có thể có của quần thể khi xét tới 3 locus
gen trên là: 3 x 10 = 30
b. Ba locus gen A, B, C liên kết và nằm trên NST thường.
- Số kiểu giao tử được tạo thành từ 3 locus gen trên (số cách phân bố của 3 gen trên trên
một NST trong cặp tương đồng) là: 23 = 8 . Đó là các giao tử ABC, ABc, AbC, Abc, aBC,
aBc, abC, abc,
 Các kiểu gen có thể có trong quần thể khi xét tới ba locus gen trên được mô tả trong
bảng sau:
NST1
NST2
ABC ABc AbC Abc aBC aBc abC Abc
ABC ABC
ABC
ABC
ABc
ABC
AbC
ABC
Abc
ABC
aBC
ABC
aBc
ABC
abC

Abc - - - Abc
Abc
Abc
aBC
aBc
Abc
Abc
abC
Abc
abc
aBC - - - - aBC
aBC
aBC
aBc
aBC
abC
aBC
abc
aBc - - - - - aBc
aBc
aBc
abC
aBc
abc
abC - - - - - - abC
abC
abC
abc
Abc - - - - - - - Abc
Abc

+ Dựa vào định luật Hacđi – Vanbec, căn cứ vào tỉ lệ kiểu hình người ta có thể suy ra tỉ lệ
kiểu gen, tần số tương đối các alen và ngược lại.
 Trong di truyền học người, bằng cách kết hợp di truyền học quần thể với các phương
pháp của di truyền người, người ta có thể dự đoán được khả năng xuất hiện bệnh, tật di
truyền nào đó ở một quần thể, một gia đình hay những đứa con của một cặp vợ chồng.
 Định luật Hácđi – Vanbec không chỉ góp phần làm sáng tỏ một số điểm còn hạn chế của
học thuyết Đácuyn mà còn giúp đánh giá một cách định lượng tác động của các nhân tố
tiến hoá đến cấu trúc di truyền của quần thể, qua đó giúp chúng ta phán đoán được
chiều hướng của quá trình tiến hoá.
- Định luật giao phối ổn định (của Pirson): Trong quần thể ngẫu phối, xét 1 locus gen nằm
trên NST thường, trạng thái cân bằng đối với locus gen đó sẽ đạt được qua một thế hệ
ngẫu phối.
 Trạng thái cân bằng di truyền của quần thể đạt được qua ngẫu phối không phụ thuộc
vào cấu trúc (di truyền) ban đầu của quần thể.
 Ngẫu phối là một nhân tố quan trọng tạo ra và duy trì trạng thái cân bằng di truyền của
quần thể.
b. Câu hỏi – Bài tập.
Câu 12: Phát biểu nội dung định luật Hácđi – Vanbec. Hãy chứng minh nội dung định luật và
phân tích các điều kiện nghiệm đúng của định luật.
Hướng dẫn giải: Nội dung SGK 12.
Câu 13: Cho quần thể có cấu ttrúc di truyền: dAA + hAa + raa = 1. Hãy chứng minh rằng
cấu trúc di truyền của quần thể đạt được sau một thế hệ ngẫu phối.
Hướng dẫn giải: Tính tần số tương đối các alen => Xác định cấu trúc di truyền của quần thể
ở thế hệ kế sau từ đó chứng minh được cấu trúc này không đổi qua các thế hệ ngẫu phối
(đã đạt trạng thái cân bằng)
11
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
Câu 14: Ở người, A- bình thường, a- bạch tạng. Trong 1 quần thể người ở trạng thái cân
bằng di truyền về locus gen trên có tỉ lệ người bị bạch tạng là 1/10000.
a. Hãy viết cấu trúc di truyền của quần thể vầ tính tần số tương đối các alen.

12
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
quần thể ở trạng thái cân bằng.
Vế ♀: XAXA, XAXa, XaXa với tần số alen tương ứng là p2, 2pq, q2.
Vế♂: XAY, XaY có tần số tương ứng là p,q.
 Tần số alen A ở cá thể ♀: p2 + pq; Tần số alen a ở cá thể ♀: pq + q2
 Tần số alen A ở cá thể ♂: p; Tần số alen a ở cá thể ♂: q
 Tần số chung của alen trong quần thể ở cả giới cái và đực nếu số lượng cá thể
đực và cái trong quần thể bằng nhau là:
pA = pA♂ + pA♀ = (p♂ + 2p♀)/3 => qa = 1 - pA
- Nếu giá trị pA♂ = pA♀ => thì quần thể đạt trạng thái cân bằng hoặc cân bằng sau một
thế hệ ngẫu phối.
- Nếu pA♂╪ pA♀ => thì quần thể sẽ không đạt trạng thái cân bằng ngay ở
thế hệ thứ nhất, thứ hai mà phải qua nhiều thế hệ ngẫu phối mới đạt trạng thái cân bằng.
- Tương tự với các gen trên NST thường, giá trị chung của pA và qa của quần thể là không
đổi khi quần thể tiến tới trạng thái cân bằng nếu quần thể thoả mãn các điều kiện nghiệm
đúng của định luật Hácđi – Vanbéc, nhưng tần số tương đối các alen ở mỗi giới lại thay đổi
theo quy luật tần số alen ở mỗi giới bị dao động qua các thể hệ và sự giao động
này diễn ra theo quy luật:
p'♂,q'♂ (con) = p,q (mẹ).
p ở giới cái của con bằng trung bình cộng của p của bố và mẹ
q ở giới cái của đời con cũng bằng trung bình cộng q của bố mẹ.
p'♀,q'♀ (con) = (p♂ + p♀), (q♂ + q♀),
b.Câu hỏi – Bài tập
Câu 16: Chứng minh rằng trong trường hợp gen có 2 alen nằm trên NST giới tính X
tại vùng không tương đồng trên Y:
a. Quần thể đạt trạng thái cân bằng di truyền khi và chỉ khi tần số tương đối các alen ở hai
giới phải bằng nhau và cấu trúc di truyền ở vế cái của quần thể ở trạng thái cân bằng.
b. Ở thế hệ xuất phát, nếu tần số tương đối các alen ở hai giới bằng nhau thì quần thể sẽ
đạt trạng thái cân bằng sau một thế hệ ngẫu phối. Nếu ở thế hệ xuất phát, tần số tương

Cấu trúc di truyền của quần thể côn trùng trên là:
0,9XA 0,1Xa
0,9XA 0,81XAXA 0,09XAXa
0.1Xa 0,09XAXa 0,01XaXa
Y 0,9XAY 0,1XaY
+Tỉ lệ kiểu gen ở giới đực là: 0,9XAY : 0,1XaY
+ Tỉ lệ kiểu gen ở giới cái: 0,81XAXA : 0,18XAXa : 0,01XaXa
+ Tỉ lệ kiểu gen chung ở cả hai giới :
0,45XAY + 0,05XaY + 0,405XAXA + 0,09XAXa + 0,05XaXa = 1.
Câu 18: Bệnh mù màu ( mù màu đỏ và mù màu lục) do gen lặn trên nhiễm sắc
thể X quy định. Cho biết trong một quần thể người tần số nam bị bệnh mù màu
là 0,08. Hãy tính tần số nữ bị mù màu và tần số nữ bình thường nhưng không
mang alen gây bệnh.
(Đề thi chọn HSG quốc gia năm 2003)
Hướng dẫn giải:
14


Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
- Giả sử quần thể trên ở trạng thái cân bằng di truyền về locus gen đang xét.
Quy ước: A – bình thường, a – mù màu.
Khi đó, ta có: Tần số tương đối các alen ở hai giới phải bằng nhau và cấu trúc di
truyền ở vế cái của quần thể ở trạng thái cân bằng.
Vế ♀: XAXA, XAXa, XaXa với tần số alen tương ứng là p2, 2pq, q2.
Vế♂: XAY, XaY có tần số tương ứng là p,q.
 q = 0,08 và p = 0,92
 Tần số nữ bị mù màu XaXa là 0,082
 Tần số nữ bình thường nhưng không mang alen gây bệnh là: 0,922
Câu 19:
Một quần thể có cấu trúc di truyền: pA♂= 0,8; qa♂= 0,2. pA♀= 0,4; qa♀= 0,6

c. Từ câu a ta có:
- Tần số alen a ở thế hệ con của giới cái là: q'a♀= 0,12 + 0,56/2 = 0,4.
- Tần số alen A ở thế hệ con của giới cái là: p'A♀= 0,6.
Như vậy, qa♀ ở thế hệ bố mẹ = 0,6 => q'a♀ ( con) = 0,4 = (0,2 + 0,6).
qa♂ ở thế hệ bố mẹ = 0,2 => q'a♂ ( con) = 0,6 .
qa chung = 0,467 =>q'a chung = .0,4 + .0,6 = 0,467
Nhận xét:
+Tần số alen chung không thay đổi và bằng tần số alen kkhi quần thể đạt trạng thái cân
bằng.
+ q'♂ = q♀ ; q'♀ ( con) = ( q♂ + q♀ ).
+ q'♂ > 0,467 > q'♀ , ngược lại q♀ >0,467 > q♂. Ở những thế hệ tiếp theo tần số alen ở
hai giới đều bị dao động.
+ Hiệu giá trị q'♂ với q'♀ ở thệ hệ con là 0,2 = so với q♂ với q♀ ở thế hệ bố mẹ.
Như vậy, sau mỗi thế hệ thì sự chênh lệch tần số giữa hai giới giảm và tiến tới 0 – khi
đó quần thể đạt trạng thái cân bằng => Qua các thế hệ ngẫu phối liên tiếp, quần thể dần
tiệm cận trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, trạng thái cân bằng của quần thể chỉ có thể
đạt được khi số thế hệ ngẫu phối đủ lớn.
Câu 20: Trên một quần đảo biệt lập có 5800 người sống, trong đó có 2800 nam giới. trong
số này có 196 nam bị mù màu xanh đỏ. Kiểu mù màu này là do 1 gen lặn a nằm trên NST X.
kiểu mù màu này không ảnh hưởng tới sự thích nghi của cá thể. Khả năng có ít nhất 1 phụ
nữ của hòn đảo này bị mù màu xanh đỏ là bao nhiêu?
16
2
1
3
2
3
1
2
1

ra với tần số cân bằng (AB = Ab = aB = ab = 0,25) và chỉ sau 1 thế hệ ngẫu
phối là quần thể đạt trạng thái cân bằng di truyền.
- Xét 1 ví dụ khác: Nếu quần thể khởi đầu có các kiểu gen AABB và aabb thì
chỉ có 2 loại giao tử được sinh ra (AB và ab), cho nên trạng thái cân bằng di
truyền cho mọi kiểu gen không thể đạt ngay ở thế hệ sau và thiếu hầu hết các
17
07,0
2800
196
=
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
kiểu gen (như AAbb, aaBB…).
Như vậy, nếu quần thể khởi đầu có tần số các alen không bằng nhau thì
cần nhiều thế hệ ngẫu phối liên tiếp mới thiết lập được tần số cân bằng cho các
giao tử và khi đó trạng thái cân bằng di truyền cho quần thể cũng được thiết lập.
Trong trường hợp này có hai câu hỏi đặt ra là: Tần số nào là tần số cân
bằng cho các giao tử? Tần số này đạt được sau bao nhiêu thế hệ ngẫu phối?
Các loại giao tử có thể được chia thành hai nhóm: giao tử “đồng trạng
thái” (như AB và ab), giao tử “đối trạng thái” (như Ab và aB). Vì tần số gen ở
các giao tử “đồng trạng thái” bằng tần số gen ở các giao tử “đối trạng thái” khi
chúng đạt trạng thái cân bằng, vậy ta có: AB x ab = Ab x aB.
Ví dụ, nếu tần số của mỗi alen A và B là 0,6; a và b là 0,4 thì tần số giao
tử ở trạng thái cân bằng là: 0,36 x 0,16 = 0,24 x 0,24 hay 0,0576 = 0,0576
- Nếu có sự sai khác giữa các giao tử “đồng trạng thái” và “đối trạng thái” thì
ngay ở quần thể đầu sự khác biệt đó chính là sự khác biệt về tần số giao tử phải
loại bỏ để đạt trạng thái cân bằng. Nếu ta kí hiệu độ khác biệt đó là K và là số
dương, nghĩa là (Ab)(aB) – (AB)(ab) = K, thì để cân bằng, mỗi loại giao tử
trong nhóm “đồng trạng thái” phải được thêm vào một lượng giao tử bằng K.
Nếu K âm thì ngược lại.
Như vậy, nếu K = 0 thì tần số giao tử đạt trạng thái cân bằng.

0,33
0,345
0,3525
0,35625
0,36
0,3
0,27
0,255
0,2475
0,24375
0,24
0,3
0,27
0,255
0,2475
0,24375
0,24
0,1
0,13
0,145
0,1525
0,15625
0,16
Nhận xét:
+ Sau mỗi thế hệ, mức độ khác biệt về tỉ lệ giao tử so với tỉ lệ cuối cùng khi đạt trạng thái
cân bằng giảm đi một nửa.
+ Nếu gặp bài tập tương tự, ta chỉ việc xác định tỉ lệ các loại giao tử khởi đầu, xác định K →
giao tử ở trạng thái cân bằng.
Câu 22: Ở một loài thực vật, alen A quy định hạt vàng, alen a quy định hạt xanh, alen B quy
định hạt trơn, alen b quy định hạt nhăn.

Câu 24: Một quần thể cấu trúc di truyền là: 0,4AABB : 0,6AaBb. Quần thể đã cho đã ở trạng
thái cân bằng hay chưa?Hãy tìm số tần số cân bằng của giao tử AB, Ab, aB, ab.
Hướng dẫn giải:
- Tần số giao tử của quần thể đã cho:
AB = 0,4 + 0,6/4 = 0,55 Ab = aB = ab = 0,6/4 = 0,15
AB x ab = 0,55x0,15 ≠ 0,15x0,15 = Ab x aB
 Quần thể đã cho chưa ở trạng thái cân bằng di truyền.
- Tần số tương đối các alen tại mỗi locus gen của quần thể là:
pA = 0,7 qa = 0,3 rB = 0,7 sb = 0,3
 Tần số cân bằng của các giao tử là:
AB = 0,49 Ab = 0,21 aB = 0,21 ab = 0,09
• Trạng thái cân bằng di truyền của quần thể trong trường hợp gen đa alen (dãy alen)
a. Nội dung cơ bản.
- Một gen có n alen A1, A2, , An với tần số tương ứng là x1, x2, , xn. Khi quần thể ở
trạng thái cân bằng về locus gen trên thì cấu trúc di truyền của quần thể là triển khai của
biểu thức:
(x1A1 + x2A2 + + xnAn )2 = 1
- Trạng thái đó đạt được chỉ sau một thế hệ ngẫu phối.
b. Câu hỏi – Bài tập.
Câu 25: Cho quần thể người ở trạng thái cân bằng về hệ nhóm máu A, B, O. Quần thể đó
có tần số tương đối của các nhóm máu là:
20
Xây dựng hệ thống câu hỏi – bài tập tự lực để dạy chuyên đề Di truyền học quần thể….
A = 0,36 B = 0,23 O = 0,33 AB = 0,08
Hướng dẫn giải:
Gọi tần số tương đối của các alen A, B, O là p, q, r. Cấu trúc di truyền của quần thể là triển
khai của biểu thức:
(pA +qB + rO )2 = 1
Từ đó suy ra được hệ 3 phương trình 3 ẩn. Giải hệ ta có tần số tương đối các alen A, B, O.
• Trạng thái cân bằng di truyền của quần thể khi tần số tương đối các alen ở hai giới khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status