ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
ĐÀO THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM
CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC
HỌC TIẾNG VIỆT VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
4. Bố cục luận văn 5
CHƢƠNG I
MỘT VÀI KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1. Quan điểm phân tích lỗi hiện đại 6
1.1.1. Lỗi là gì? (Theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng) 6
1.1.2. Quan điểm mới về lỗi 6
1.1.3. Thế nào là phân tích lỗi? 7
1.1.4. Khái niệm ngôn ngữ trung gian (Interlanguage) 9
1.2. Về lỗi ngữ âm của ngƣời học ngoại ngữ 10
1.2.1. Sơ lược về khái niệm ngữ âm 10
1.2.2. Thế nào là lỗi ngữ âm? 12
1.2.3. Phân biệt lỗi ngữ âm với lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn
hóa 13
1.3. Vị trí của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ 16
1.3.1. Tầm quan trọng của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ 16
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn của người Trung Quốc khi học ngữ
âm tiếng Việt 17
1.3.3. Ý nghĩa khoa học cuả việc nghiên cứu và sửa lỗi ngữ âm cho người
nước ngoài 20
Tiểu kết 21
CHƢƠNG II
KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM CỦA NGƢỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT 23
2.1. Một số đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Hán 23
2.1.1. Những điểm tương đồng 23
2.1.1.1. Thành phần cấu trúc âm tiết 23
2.1.1.2. Đa số âm tiết và hình vị trùng nhau 24
/ và /o/ ("o" và" ô") 36
2.2.1.9. Cặp nguyên âm / / và / / (trường hợp" ưa" và" ua") 36
2.2.1.10. Cặp nguyên âm /
/ và /e/ ("e" và" ê") 37
2.2.1.11. Nhận xét 37
2.2.2. Lỗi phụ âm đầu 38
2.2.2.1. Cặp phụ âm /d/ và /t/ hoặc /l/ 38
2.2.2.2. Phụ âm /
/ 39
2.2.2.3. Phụ âm /
/ (viết là "ng" và" ngh") 40
2.2.2.4. Phụ âm /
/ (viết là "g" và" gh") 41
2.2.2.5. Phụ âm /z/ (viết là "d" và" gi") 41
2.2.2.6. Phụ âm /t/ và /t'/ ("t" và" th") 42
2.2.2.7. Phụ âm /n/ và /l/ ("n" và" l") 43
2.2.2.8. Phụ âm /b/("b") 43
2.2.2.9. Cặp phụ âm /v/ và /f/ ("v" và" ph") 44
2.2.2.10. Nhận xét 44
2.2.3. Lỗi âm cuối 46
2.2.3.1. Âm cuối /p /("p") 46
2.2.3.2. Bán âm cuối /j / (viết là "y" và" i") 46
uo
3.1.2.1.Mục đích - yêu cầu 68
3.1.2.2.Thời gian dạy và học 68
3.1.2.3.Cách thức tiến hành 69
3.1.3. Giai đoạn ngữ âm nâng cao 70
3.1.3.1.Mục đích - yêu cầu 70
3.1.3.2.Thời gian dạy và học 70
3.1.3.3.Cách thức tiến hành 71 3.2. Quy trình chữa lỗi ngữ âm 71
3.2.1. Quy trình chữa lỗi 71
3.2.2. Kĩ thuật chữa lỗi 72
3.3. Những chú ý khi dạy ngữ âm tiếng Việt cho ngƣời Trung Quốc 74
3.3.1. Về thanh điệu 74
3.3.2. Về nguyên âm 75
3.3.3. Về phụ âm đầu 76
3.3.4. Về phụ âm cuối 77
3.3.5. Về chữ viết 78
3.3.5.1.Những chú ý khi giảng dạy ngữ âm và chữ viết 78
3.3.5.2.Các quy tắc về chữ viết tiếng Việt 79
3.3.6. Về các cặp âm đặc biệt 81
3.3.6.1.Cặp nguyên âm /ă/ và /a/ 82
3.3.6.2.Cặp nguyên âm /u/ (u) và âm đệm /w/ (u) với nguyên âm "y" . 84
3.3.6.3.Cặp nguyên âm đôi / / (viết là "ua") và âm đệm /
/ với
nguyên âm "a" (viết là "ua"; "oa") 84
3.3.6.4.Cặp nguyên âm /
/ (viết là "e") và /
lai".
Có thể nói, chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa giao lƣu và hợp tác giữa
Việt Nam - Trung Quốc chính là ngôn ngữ. Chính vì thế, số lƣợng ngƣời Trung
Quốc học tiếng Việt ngày càng đông đảo. Tại Trung Quốc, ngay từ năm 1949,
trƣờng Đại học Bắc Kinh đã thành lập chuyên ngành tiếng Việt. Cho đến nay,
Trung Quốc đã có 8 trƣờng đại học và cao đẳng có chuyên ngành tiếng Việt,
trong đó có 3 trƣờng đƣợc công nhận có tƣ cách đào tạo thạc sỹ chuyên ngành
tiếng Việt với số lƣợng sinh viên không ngừng đƣợc tăng lên hàng năm. Tại
khoa Đông Phƣơng học của Đại học Bắc Kinh, những năm gần đây, số lƣợng
sinh viên Trung Quốc tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt đứng thứ 4 trong tổng
số 14 ngoại ngữ đƣợc đào tạo. Tƣơng tự nhƣ vậy, hiện nay, tiếng Trung Quốc
cũng trở thành một trong bốn ngoại ngữ đƣợc ngƣời Việt Nam theo học nhiều
nhất là "Anh, Trung, Nhật, Hàn".
Tại Việt Nam, các cơ sở lớn đào tạo tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài nhƣ:
Đại học Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sƣ phạm Ngoại ngữ Hà Nội,
Đại học Hải Phòng, Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh số ngƣời Trung Quốc theo học tiếng Việt cũng không ngừng đƣợc tăng
lên. Các hình thức đào tạo tiếng Việt cho ngƣời Trung Quốc cũng hết sức phong
2
phú nhƣ: chƣơng trình đào tạo thạc sỹ tiếng Việt, cử nhân tiếng Việt, chƣơng
trình liên kết - hợp tác giữa các trƣờng Đại học, Cao đẳng của hai nƣớc theo
hình thức 2+2, 1+3, 3+1 Do đó, vấn đề đẩy mạnh và phát triển việc nghiên
cứu các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại
ngữ cho ngƣời nƣớc ngoài nói chung, cho ngƣời Trung Quốc nói riêng đã và
đang đƣợc các trƣờng Đại học của Việt Nam rất quan tâm.
Có thể nói, việc nghiên cứu dạy và học ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) bắt
đầu từ cuối thế kỉ XIX. Nhƣng mãi đến năm 1948, khi cuốn "Các ngôn ngữ hiện
đại" của E. Durkhein ra đời thì trào lƣu trên mới thực sự phát triển. Đến những
tiếng Việt của ngƣời Trung Quốc ngày càng tăng nhƣ hiện nay nói riêng, chúng
tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài "Khảo sát lỗi ngữ âm của ngƣời Trung
Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục" nhằm mục đích nâng cao hơn nữa
chất lƣợng dạy và học hai ngôn ngữ Việt - Hán
2. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn đồng thời cũng là tên gọi của nó. Đó là
" Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục".
Trƣớc hết, luận văn muốn tìm hiểu, nghiên cứu lỗi sai ngữ âm của ngƣời
Trung Quốc học tiếng Việt dƣới ánh sáng của quan điểm phân tích lỗi hiện đại.
Đồng thời, luận văn muốn khẳng định tầm quan trọng của việc phân tích lỗi và
đƣa ra các biện pháp khắc phục lỗi ngữ âm.
Thứ hai, thông qua việc khảo sát, chúng tôi muốn tìm hiểu tình trạng mắc
lỗi ngữ âm của ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt thực hành, tỉ lệ mắc các loại lỗi
ngữ âm, phân tích những nguyên nhân dẫn đến các lỗi ngữ âm đó.
Thứ ba, từ tình trạng mắc lỗi ngữ âm nhƣ đã khảo sát, chúng tôi đƣa ra các
giải pháp để khắc phục lỗi và các loại hình bài tập để rèn luyện ngữ âm tiếng
Việt một cách có hiệu quả.
Đối tƣợng của luận văn là khảo sát lỗi ngữ âm của ngƣời Trung Quốc học
tiếng Việt nhƣng trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi mới khảo sát
các lỗi ngữ âm trong khung âm tiết của ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt thực
hành gồm: lỗi nguyên âm, lỗi phụ âm đầu, lỗi âm cuối và lỗi thanh điệu. Chúng
tôi không tiến hành khảo sát lỗi âm đệm vì cả tiếng Việt và tiếng Hán đều có âm
4
đệm kèm theo yếu tố tròn môi khi phát âm, hơn nữa số lƣợng âm đệm của tiếng
Hán còn nhiều hơn tiếng Việt nên ngƣời Trung Quốc sẽ không gặp nhiều khó
khăn với thành tố âm vị này nếu không muốn nói là họ có thể làm quen ngay với
âm đệm // của tiếng Việt. Các lỗi khác có liên quan đến ngữ âm nhƣ lỗi ngữ
điệu, lỗi trọng âm, lỗi văn tự chƣa đƣợc khảo sát trong công trình này.
Luận văn gồm các phần và các chƣơng chính nhƣ sau:
Mở đầu
Chương I: Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Chương II: Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt
Chương III: Những giải pháp khắc phục
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
CHƢƠNG I
MỘT VÀI KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Quan điểm phân tích lỗi hiện đại
1.1.1. Lỗi là gì? (Theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng)
Theo “Từ điển tiếng Việt” của nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003 thì “lỗi” là
“Chỗ sai sót do không thực hiện đúng quy tắc; Là điều sai sót không nên, không
phải trong cƣ xử, trong hành động. Hoặc “lỗi” là điều sai phạm, khuyết điểm
tƣơng đối lớn". (67, tr.581)
Tuy nhiên, “lỗi” dƣới cái nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng lại hoàn toàn
khác. Theo “Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” thì “lỗi của người
học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ, là hiện tượng
sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt
động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho
là sai hoặc cho là chưa đủ”. (40, tr.7)
Lỗi (error) có đặc điểm là lặp lại nhiều lần và có tính hệ thống. Nhà ngôn
ngữ học W.T. Little Wood cũng có ý kiến đồng nhất với quan điểm này. Ông
cho rằng “Tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính xuất hiện thƣờng xuyên - chứng cứ
tốt nhất mà một lỗi phản ánh hệ thống chiều sâu của ngƣời học là khi nó xuất
hiện đều đặn trong lời nói của ngƣời học”. (40, tr.8).
là thƣớc đo chính xác nhất trình độ ngoại ngữ của ngƣời học tại một thời điểm
nhất định trong quá trình học. Cả ngƣời dạy và ngƣời học có thể căn cứ vào lỗi
để điều chỉnh và đƣa ra phƣơng pháp học hợp lí và hiệu quả nhất. Chúng ta tuyệt
đối không nên coi lỗi là dấu hiệu của sự thất bại khi học ngoại ngữ mà nên coi
lỗi là cơ hội, là điều kiện để ngƣời học không mắc lỗi ở những lần sau và đặc
biệt cần tránh việc mắc lỗi làm ảnh hƣởng đến tâm lí của ngƣời dạy và ngƣời
học theo chiều hƣớng tiêu cực. Nếu ý thức đƣợc điều này thì việc học ngoại ngữ
sẽ dẫn đến thành công.
1.1.3. Thế nào là phân tích lỗi?
Liên quan đến lỗi, các nhà ngôn ngữ học đã đi theo hai khuynh hƣớng
nghiên cứu chính: khuynh hướng phân tích đối chiếu (Contrastive analysis) và
8
khuynh hướng phân tích lỗi (Error analysis). Về hai khuynh hƣớng này, các nhà
ngôn ngữ học cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Các ý kiến này đƣợc trình bày
khá rõ ràng trong cuốn "Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ" của tác giả Lê
Quang Thiêm. (56, tr.68)
Ý kiến thứ nhất do nhà ngôn ngữ học Corder khởi xƣớng. Ông cho rằng
"nghiên cứu đối chiếu không thể cho phép tiên đoán và giải thích tất cả mọi kiểu
loại ngôn ngữ của ngƣời học và dùng ngoại ngữ mắc phải". Có nghĩa là ông cho
rằng nghiên cứu đối chiếu có vai trò phụ, thứ yếu, còn việc phân tích lỗi trong
việc học, dùng ngoại ngữ mới là chính.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc nghiên cứu đối chiếu và phân tích lỗi là
hai bƣớc khác nhau. Nghiên cứu đối chiếu chỉ tiến hành việc phân tích sơ bộ,
còn phân tích lỗi làm việc với các trƣờng hợp cụ thể.
Loại ý kiến thứ ba cho rằng nghiên cứu đối chiếu và phân tích lỗi hoàn
toàn không có quan hệ bổ sung cho nhau. Đó là hai loại phân tích hoàn toàn
khác nhau.
Các loại ý kiến trên đều nghiêng về hƣớng phê phán khuynh hƣớng phân
biệt là những mảng lí luận về sự chuyển di ngôn ngữ và các phát hiện mới về
ngôn ngữ trung gian. Công trình gần đây nhất của ông có liên quan đến mảng đề
tài này là cuốn "Second language Research" (Nghiên cứu về ngôn ngữ thứ hai)
xuất bản năm 2001, đồng tác giả với nhà nghiên cứu Usha Lakshmanan của Đại
học Carbondale.
Ông cho rằng ngƣời học ngoại ngữ luôn luôn tạo ra một ngôn ngữ của riêng
mình. Thứ ngôn ngữ này khác với ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích nhƣng lại bao
gồm những đặc điểm chung của cả hai ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích. Thứ
ngôn ngữ đƣợc ngƣời học tạo ra này chính là ngôn ngữ trung gian
(Interlanguage). Nếu gọi ngôn ngữ gốc là A, ngôn ngữ đích là B thì chúng ta sẽ
có:
A + B = AB
(AB ở đây là ngôn ngữ trung gian mà ngƣời học tạo ra. AB mang đặc điểm
chung của cả A và B.)
10
Theo tác giả, ngôn ngữ trung gian sẽ dần dần "tiệm cận" tới gần ngôn ngữ
đích nhƣng không bao giờ hoàn toàn là ngôn ngữ đích.
Thực chất thì ngôn ngữ trung gian chính là lỗi của ngƣời học. Ngôn ngữ
trung gian càng tiến gần tới ngôn ngữ đích thì có nghĩa là lỗi càng đƣợc giảm đi
khi ngƣời dạy và ngƣời học nhận thức đƣợc lỗi và có biện pháp khắc phục lỗi.
Ngôn ngữ trung gian không bao giờ hoàn toàn là ngôn ngữ đích cắt nghĩa cho
việc ngƣời học mặc dù rất giỏi một ngoại ngữ nhƣng không tránh khỏi có một số
từ nói "lơ lớ" chứ không đƣợc chuẩn xác 100% nhƣ ngƣời bản ngữ. Lỗi ngữ âm
của ngƣời học ngoại ngữ nói chung, lỗi ngữ âm của ngƣời Trung Quốc nói tiếng
Việt mà chúng tôi tiến hành khảo sát trong luận văn này nói riêng ít nhiều có
liên quan chặt chẽ với những điều đã nói ở trên.
1.2. Về lỗi ngữ âm của ngƣời học ngoại ngữ
1.2.1. Sơ lược về khái niệm ngữ âm
Các đơn vị cơ bản của ngữ âm gồm có:
Âm tố: Trong hệ thống ngữ âm, âm tố đƣợc coi là đơn vị nhỏ nhất, không
có khả năng tiếp tục phân chia nhỏ hơn nữa. Các âm tố chỉ đƣợc thực hiện bằng
một động tác phát âm và nó đƣợc ngƣời nghe cảm thụ qua cơ quan thính giác.
Âm vị: Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ.
Chúng là tổng thể của những nét khu biệt đƣợc thể hiện đồng thời của cùng một
loại âm tố và có chức năng cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có
nghĩa của ngôn ngữ ấy.
Âm tiết: Âm tố và âm vị là những đơn vị ngữ âm nhỏ nhất của âm thanh
ngôn ngữ. Còn âm tiết là một đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất. Chúng ta phát
âm một âm tiết chứ không thể phát âm một âm tố. Thực chất chuỗi lời nói của
con ngƣời bao gồm nhiều âm tiết. Câu "Anh có khỏe không?" có bốn âm tiết.
Đứng về phƣơng diện phát âm, âm tiết là đơn vị nhỏ nhất nên nó đƣợc bảo
toàn, không bị phân chia vì âm tiết đƣợc phát âm bằng một lần căng cơ thịt của
bộ máy phát âm. Mỗi lần, cơ thịt của bộ máy phát âm căng lên rồi chùng xuống
đều cho ta một âm tiết.
Đặc điểm nổi bật của âm tiết tiếng Việt là có một cấu trúc chặt chẽ, có cấu
trúc hai bậc độc đáo và có tính độc lập cao.
12
Một âm tiết tiếng Việt tối đa có 5 thành phần, tối thiểu có hai thành phần là
thanh điệu và âm chính. (Xem thêm bảng 2.1của chƣơng II về mô hình cấu trúc
âm tiết tiếng Việt). Cấu trúc chặt chẽ của âm tiết tiếng Việt đƣợc thể hiện thông
qua cấu trúc hai bậc rất độc đáo của nó.
Ta có thể lấy nhiều ví dụ để chứng tỏ rằng thanh điệu và âm đầu kết hợp
với phần vần của âm tiết một cách lỏng lẻo. Chúng dễ dàng bị tách ra hay đảo vị
trí cho nhau. Đây chính là cơ sở của cách nói lái của ngƣời Việt.
Ví dụ: Si đèn đèn (Đen sì sì)
Âm đầu, vần và thanh điệu đƣợc coi là cấu trúc bậc một của âm tiết.
người học phát âm hoặc nói sai hay chưa chính xác so với người bản ngữ một
đơn vị ngôn ngữ như từ, ngữ, câu hay chuỗi câu. Nói khái quát hơn thì lỗi ngữ
âm là hiện tượng người học sử dụng chưa chính xác hay sai lệch "hệ thống âm
thanh" của một ngôn ngữ nào đó dẫn đến việc thông tin không được truyền đạt
trọn vẹn.
Lỗi ngữ âm rất phức tạp và bao gồm nhiều cấp độ. Ở cấp độ âm tiết, ngƣời
học có thể mắc lỗi về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu Ở cấp độ từ và câu,
ngƣời học có thể mắc lỗi về trọng âm, ngữ điệu, cách cắt âm tiết v.v
Ví dụ:
- Ở Việt Nan (Nam), em có rất nhiều bàn. (bạn)
- Cái áo này tôi mua năm mƣơi nghìn tồng (đồng).
- Giới thiệu với cô đây là pố (bố) em.
- Em lã (đã) ăn cơm rồi.
- Tôi đã sống ở Việc (Việt) Nam 2 tháng rồi.
- Em tôi thích ăn hế (khế)
- Hôm nay nhìn cô rất tặc piệt (đặc biệt)
1.2.3. Phân biệt lỗi ngữ âm với lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên
văn hóa
Bên cạnh lỗi ngữ âm, ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt cũng thƣờng gặp
lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa.
Để xem xét các lỗi từ vựng, trƣớc hết, chúng ta tìm hiểu thế nào là từ vựng
tiếng Việt.
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh,
có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo
câu. (15, tr. 142).
14
Theo nguyên tắc, các từ đƣợc cấu tạo bởi các hình vị nhƣng hình vị trong
các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn giống nhau. Đơn vị cơ sở để cấu tạo
biểu thị ý nghĩa ngữ pháp tiếng Việt dẫn đến sự sai phạm hay lộn xộn trong tổ
chức câu.
Ví dụ: Hôm qua, tôi nhìn thấy một xinh đẹp cô gái. ( Câu sai)
(Hôm qua, tôi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp.) ( Câu đúng)
Cụm từ "xinh đẹp cô gái" trong tiếng Việt là sai ngữ pháp, cụ thể là sai về
phƣơng thức trật tự từ. Trong tiếng Việt, thành phần định ngữ đứng sau danh từ
làm nhiệm vụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ nhƣng phƣơng thức trật tự từ này lại
hoàn toàn ngƣợc lại trong tiếng Hán. Đây là lí do dẫn đến lỗi ngữ pháp của
ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt nếu họ không chú ý.
Đối với ngƣời nƣớc ngoài cũng nhƣ ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt thì
lỗi xuyên văn hóa vẫn rất phổ biến mặc dù trình độ ngoại ngữ của họ đã ở mức
tƣơng đối.
Xuyên văn hóa là thuật ngữ do nhà nghiên cứu Motesquieu đề xuất. Lỗi
xuyên văn hóa nếu xét từ góc độ học hay sử dụng ngoại ngữ là sự mâu thuẫn,
xung đột giữa hai hệ thống tri thức văn hóa của người học ngoại ngữ: hệ thống
tri thức văn hóa bản địa đã được định hình và hệ thống tri thức văn hóa đích
đang được định hình trong quá trình học (35, tr.50). Văn hóa Việt Nam và
Trung Quốc có nhiều nét tƣơng đồng, song cũng có nhiều nét dị biệt làm nên
bản sắc văn hóa của mỗi nƣớc. Những nét khác nhau tinh tế giữa văn hóa hai
nƣớc đôi khi cũng dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc trong giao tiếp.
Ví dụ: Trong bữa cơm, nếu ngƣời Trung Quốc đã no không muốn ăn nữa
thì họ sẽ nói với ngƣời Việt Nam nhƣ sau:
Mời anh ( chị) ăn chậm ạ!(
请你慢
吃
)
Câu này trong tiếng Việt phải nói là: Mời anh (chị) cứ ăn tự nhiên ạ!
Nhƣng do chƣa hiểu hết về văn hóa bản địa nên ngƣời học chỉ đơn thuần dịch
từng câu, từng chữ của câu "
đúng sẽ ảnh hƣởng tới chức năng truyền đạt thông tin vốn đòi hỏi cao sự chính
xác của ngôn ngữ. Đó là chƣa kể đến nói hay phát âm sai sẽ gây ra những hiểu
lầm đáng tiếc và sẽ là hệ lụy cho rất nhiều cƣ xử mà ngƣời nói không hề mong
muốn. Bà Rhona Vikoce, giám đốc đào tạo của Apollo tại Việt Nam hiện nay
cũng đồng tình với ý kiến này khi bà cho rằng "Việc nhầm lẫn trong cách phát
17
âm nhiều khi mang lại những khó khăn và những hậu quả nhất định trong giao
tiếp và công việc". (69)
Kinh nghiệm dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài cho thấy, ngữ âm tiếng
Việt là vấn đề khó nhất đối với ngƣời học tiếng Việt. Riêng đối với ngƣời Trung
Quốc học tiếng Việt thì họ không gặp phải những "cú sốc" khi học ngữ âm nhƣ
ngƣời châu Âu, vì tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ cùng loại hình, đa
thanh điệu, nhƣng chính sự khác nhau về số lƣợng và chất lƣợng các thành phần
âm tiết đã gây ra những trở ngại nhất định đối với họ.
Học và hoàn thiện ngữ âm tiếng Việt là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự
cố gắng và nỗ lực của cả ngƣời dạy và ngƣời học. Ngữ âm tiếng Việt ngay từ lúc
đầu đƣợc dạy tốt bao nhiêu thì việc học tiếng Việt của ngƣời học giai đoạn sau
càng thuận lợi bấy nhiêu.
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn của người Trung Quốc khi học ngữ âm
tiếng Việt
a. Thuận lợi
Nhiều ý kiến cho rằng, ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt nhanh hơn những
ngƣời nƣớc ngoài khác, nhất là phần ngữ âm. Đây là điều không thể phủ nhận vì
ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt có một số thuận lợi nhƣ:
- Tiếng Việt và tiếng Hán có quá trình tiếp xúc rất lâu dài, ngay từ thế kỷ thứ
VI. Đến thời kì cuối Đƣờng, Ngũ Đại khi cách đọc Hán Việt ra đời thì mối
liên hệ giữa tiếng Việt và tiếng Hán càng thêm sâu sắc và gắn bó. (36, tr. 102)
- Tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ đơn lập. Đặc điểm này khiến ngƣời
"n" (安) , thanh huyền của tiếng Việt đƣợc chuyển thành thanh 2 của
tiếng Hán nhƣ "hòa" thành "hé" (和), thanh hỏi và thanh ngã của tiếng
Việt đƣợc chuyển thành thanh 3 của tiếng Hán nhƣ "mãi" thành "mi"
(买), thanh sắc và thanh nặng của tiếng Việt đƣợc chuyển thành thanh 4
của tiếng Hán nhƣ "cộng" thành "gòng" (共). Do sự biến đổi trong quá
trình sử dụng, quy tắc chuyển thanh điệu này không thể áp dụng cho tất cả
các trƣờng hợp nhƣng nó cũng giúp cho ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt
nhanh hơn.
19
Tóm lại, một bộ phận ngƣời Trung Quốc học tiếng Việt có thể cảm thấy
"dễ" hơn các ngoại ngữ khác bởi có các điều kiện thuận lợi nhƣ trên kết hợp với
hàng loạt các nhân tố tích cực khác ảnh hƣởng đến sự tiếp thu và sử dụng tiếng
Việt nhƣ: văn hóa, lịch sử, xã hội, vị trí địa lý
b. Khó khăn
- Bên cạnh thuận lợi thì ngƣời Trung Quốc vẫn gặp một số khó khăn khi học
ngữ âm tiếng Việt. Đó là sự khác nhau về số lƣợng và chất lƣợng các thành
phần cấu tạo âm tiết (xem thêm phần 2.1.2.1, chƣơng II). Trong tiếng Việt có
những nguyên âm, phụ âm, thanh điệu không có trong tiếng Hán nên ngƣời
học không phát âm đƣợc hoặc rất khó phát âm các âm vị mới này.
- Hệ thống văn tự của tiếng Việt và tiếng Hán hoàn toàn khác nhau, trong tiếng
Việt lại có trƣờng hợp giữa âm và chữ không đồng nhất với nhau nên đã gây
ra những nhầm lẫn cho ngƣời học cả khi nói và khi viết.
- Cách đọc Hán Việt nhiều khi cũng là "con dao hai lƣỡi" đối với ngƣời Trung
Quốc học tiếng Việt. Nhiều từ đa tiết tiếng Việt chỉ có vỏ ngữ âm Hán Việt
nhƣng ý nghĩa của nó đã đƣợc thay đổi khi đƣợc đƣa vào tiếng Việt nhƣng
ngƣời học luôn "lợi dụng" cách đọc Hán Việt để tạo ra những từ không có
trong tiếng Việt khiến ngƣời nghe không hiểu. Ví dụ: "thừa ứng" (承应)
tiếng Việt phải nói là "nhận lời", "ủy viên hội" (委员会) tiếng Việt phải nói