Cơ sở lý luận và phương pháp luận trong phân ngành kinh tế quốc dân - Pdf 37

Danh sách thành viên nhóm 4
Họ và tên
1. Mã Thị Thỏa
2. Nguyễn Duy Thông
3. Nguyễn Thị Thùy
4. Trịnh Thị Thủy
5. Lê Thị Thủy
6. Trịnh Thị Thủy
7. Trịnh Thị Thanh Thủy
8. Nguyễn Thị Thủy
9. Nguyễn Thị Trang
10.Lâm Thị Huyền Trang
11. Trần việt Trinh
12. Lê Tiến Trường
13.Đỗ Hoàng Tuấn
14. Đinh Tiến Tùng
15. Tạ Thị Tuyết
16. Nguyễn Thị Hồng Yến
17. Lê Phi Yến
18. Dương Thị Kim Cúc
19. Nguyễn Thị Kiều Thơ
20.Nguyễn Thị Tâm
21.Bùi Xuân Hiếu

MSV
572968 (nhóm trưởng)
574166
574071
572858
572970
572857

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
 Cơ sở lý luận
 Phương pháp luận
1. Các khái niệm
2. Đặc điểm của phân ngành kinh tế
3. Phân tổ theo ngành kinh tế
Kết luận/ bài học kinh nghiệm


I .Tính cấp thiết của đề tài
Ở mỗi quốc gia, khi các hoạt động kinh tế chưa phát triển, quy mô nhỏ
cũng như tính đa dạng của các lĩnh vực chưa cao thì tương ứng với đó là
việc phân ngành kinh tế cũng tương đối đơn giản.Kể từ những năm 1800,
nền kinh tế thế giới bắt đầu có sự biến chuyển vượt bậc, bắt nguồn từ
cuộc cách mạng công nghiệp.Các lĩnh vực mới xuất hiện ngày càng nhiều
đã đặt ra yêu cầu phải thực hiện sự phân ngành.
Việc xây dựng hệ thống phân ngành là hết sức cần thiết tại mỗi quốc gia
và các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức liên quan tới lĩnh vực kinh tế mang
tính chất thống kê, phân tích thông tin.Điều đó không chỉ giúp chúng ta
quản lý dữ liệu một cách hiệu quả khoa học mà còn giúp nâng giá trị sử
dụng của dữ liệu lên mức độ cao, hiệu quả.

II. Mục tiêu nghiên cứu
• Nắm rõ được nội dung, phạm vi của từng ngành, từng lĩnh vực làm cơ
sở để xác định quy mô, vai trò của từng ngành và cơ cấu nền kinh tế quốc
dân.
• Xác định phương hướng tổ chức của từng ngành để nghiên cứu và xác
định đúng đắn quan hệ tỷ lệ giữa các ngành và giữa các bộ phận trong
từng ngành của nền kinh tế quốc dân.

các nước và của tổ chức liên hợp quốc ,nhằm đáp ứng một cách tốt nhất
cho yêu cầu quản lý nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển sang cơ
chế thị trường có sự điều tiết của chính phủ.


Cơ sở phương pháp luận.

- cơ sở phương pháp luận của thống kê là chủ nghĩa duy vật biện
chứng ,nguyên lý thống kê và các phương pháp toán học . Dựa trên
những lý luận cơ bản của phép biện chứng,thống kê kinh tế nghiên cứu
hiện tượng kinh tế xã hội không nhữa trong trạng thái tĩnh mà còn nghiên
cứu chúng trong trạng thái vận động , trong mối quan hệ rang buộc lẫn
nhau như thể thống nhất.

1. Khái niệm phân ngành kinh tế




Phân ngành kinh tế là phân loại các hoạt động kinh tế xã hội có
cùng đặc trưng hoạt động vào các ngành tương ứng, mà các hoạt
động kinh tế xã hội đều được thực hiện bởi các đơn vị hoặc các tổ
chức kinh tế xã hội khác nhau. Vì vậy, một ngành kinh tế là một
tập hợp các đơn vị có đặc trưng của quy trình sản xuất giống nhau
hoặc tương tự. Khái niệm ngành kinh tế sẽ đảm bảo điều kiện
thuận lợi cho việc sắp xếp các đơn vị kinh tế vào các ngành gần
như trùng khớp. Các đơn vị được sắp xếp vào một nhóm của hệ
thống là các đơn vị sản xuất ra một loại hàng hóa và dịch vụ.
Ngoài ra nó còn khả năng sản xuất ra loại hàng hóa và dịch vụ mà
nó không đặc trưng cho hoạt động chính của đơn vị.

phát điểm từ các tổ chức tài chính nổi tiếng trên thế giới là ICB






và GICS. ICB (Industry Classification Benchmark) là hệ thống
phân ngành cho các công ty, được phát triển bởi Dow Jones và
công ty FTSE International Limited. Hệ thống này gồm 4 phân
cấp với 10 nhóm ngành cấp 1 (dầu và gas, vật liệu cơ bản, công
nghiệp, hàng tiêu dùng, chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ tiêu dùng,
viễn thông, tiện ích, tài chính, công nghệ), 18 ngành cấp 2, 39
phân ngành cấp 3 và tổng cộng tới 104 chi tiết ngành cấp 4. Hiện
nay, hệ thống ICB được dùng cho sàn NASDAQ, NYSE và một
vài thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Trong khi đó, GICS
(The Global Industry Classification Standard) được phát triển bởi
Morgan Stanley và Standard & Poor's. GICS có khá nhiều điểm
tương tự ICB.
Từ những năm 1990 trở lại đây, Việt Nam có hai hệ thống phân
ngành, đó là Hệ thống ngành kinh tế quốc dân 1993 (VSIC 1993)
và Hệ thống ngành kinh tế quốc dân 2007 (VSIC 2007). VSIC
2007 có 21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437
ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5. Hệ thống này được xây dựng
dựa trên việc đánh giá thực trạng sử dụng VSIC 1993 và những
phát triển của hệ thống này trong ngành Thống kê và các Bộ,
ngành khác. Bên cạnh đó, VSIC 2007 cũng thiết lập dựa trên việc
tham khảo và áp dụng phiên bản mới nhất của Liên hợp quốc về
Phân ngành chuẩn quốc tế(ISIC), Dự thảo khung chung của
ASEAN về phân ngành trên cơ sở ISIC và kinh nghiệm phát triển



a.Mục đích của phân ngành kinh tế.

Mục đích của phân ngành kinh tế thành một hệ thống là quy định rõ nội
dung , phạm vi của từng ngành ,từng lãnh vực làm cơ sở xác định quy
mô, vai trò của từng ngành và cơ cấu của nền kinh tế quốc dân .Tác
dụng của phân ngành kinh tế được quyết định bởi tầm quan trọng có tính
chất chiến lược của việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý.


b.Nguyên tắc phân loại các ngành kinh tế quốc dân

Xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội ,biểu hiện cụ thể qua
sự khác nhau về quy trình công nghệ của các hoạt động kinh tế để tạo ra
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác nhau ,đồng thời trong những điều
kiện nhất định còn phải căn cứ vào công dụng của sản phẩm .Tuy nhiên ,
chỉ căn cứ vào những tiêu chí trên vẫn chưa đủ,phải gắn liền những hoạt
động đó với những đơn vị kinh tế cơ sở.
- Căn cứ vào những nguyên tắc trong nền kinh tế thị trường thì người ta
phân chia hoạt động xã hội thành 3 khu vực và coi tất cả các ngành
thuộc cả 3 khu vực đó đều là ngành sản xuất .Cụ thể như sau :


+ Khu vực I : gồm các ngành hoạt động nhằm khai thác những của cải từ
thiên nhiên như nông lâm nghiệp,thủy hải sản,khai thác mỏ.
+ Khu vực II: gồm các ngành hoạt động nhằm làm thay đổi hình thái
của cải vật chất từ dạng này sang dạng khác như công nghiệp chế biến
,xây dựng,sản xuất và phân phối điện ,khí đốt và nước.
+ Khu vực III: gồm các ngành hoạt động nhằm cung ứng những dịch vụ

thuộc thành phần kinh tế nào hay khu vực thể chế nào.


Phân loại cụ thể.

- Nông lâm nghiệp:
+Nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan.
+Lâm nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan.
- Thủy sản
- Công nghiệp khai thác mỏ.
- Công nghiệp chế biến.
- Sản phẩm và phân phối điện,khí đốt và nước.
- Xây dựng.
- Thương nghiệp,sửa chữa xe có động cơ.mô tô,xe máy,đồ dung cá nhân
và gia đình.
- Khách sạn và nhà hàng.
- Vận tải,kho bãi và thong tin liên lạc.
- Tài chính,tín dụng.
- Hoạt động khoa học và công nghệ.
- Các hoạt động liên quan đến kinh doanh.
- Quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng đảm bảo xã hội bắt buộc.
- Giáo dục và đào tạo.
- Y tế và cứu chợ xã hội.
- Hoạt động văn hóa thể thao.
- Hoạt động đảng,đoàn thể và xã hội.


- Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng.
- Hoạt động làm thuê công việc gia đình trong các hộ tư nhân.
- Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế.


hương công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, trong thời kì quá độ
chuyển từ cơ cấu kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường, nên rất
nhiều ngành nghề mới được hình thành và phát triển. Do vậy, hệ thống
phân ngành hiện này đã bộc lộ một số vấn đề chưa phù hợp, gây không
ít khó khăn trong việc phân tổ, phân tích và áp mã. Vì vậy, cần phải
nghiên cứu, cải tiến và đưa ra các quy định chi tiết chung, nhằm nâng
cao tính khoa học, tính thực tiễn, thống nhất của hệ thống phân ngành
trên các mặt khác nhau.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status