Góp phần tập luyện một số năng lực học Vật lý cho học sinh thông qua các tiết luyện tập.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Học sinh học Vật lý hiện nay phần lớn chỉ đầu tư vào việc giải hết bài tập khó
nầy đến các bài tập khó khác mà chưa nâng cao được nhiều năng lực học Vật lý.
Mặt khác trong các tiết luyện tập thường chỉ có Thầy và một số học sinh khá, giỏi
hoạt động tích cực còn số đông chỉ biết ghi chép một cách thụ động, chưa có điều
kiện phát triển năng lực học vật lý.
Việc “Góp phần tập luyện một số năng lực học Vật lý cho học sinh thông qua
các tiết luyện tập” các em là việc có thể làm được và tiến hành một cách thường
xuyên, liên tục.
Tuy nhiên một trong những khó khăn khi thực hiện đònh hướng nầy là việc xác
đònh những năng lực học Vật lý nào cần bồi dưỡng cho học sinh và chọn các bài tập
tương ứng để giúp cho học sinh vừa lónh hội đầy đủ những yêu cầu của chương trình
hiện hành vừa thực hiện được tốt nhất chủ đề trên.
Bài này xin được giới thiệu ø phát thảo mô hình thực nghiệm thông qua các tiết
luyện tập, mà Bản thân đã tiến hành thực nghiệm dạy các lớp 9 môn Vật lý năm
học 2006 - 2007 của trường THCS Tập Sơn, nhằm cố gắng đạt những yêu cầu nói
trên.
A. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Đáp ứng cho việc giảng dạy theo phương pháp mới.
- Để học sinh thích thú hơn trong việc học tập nhất là phải được điểm cao,
hiểu bài và có nhiều kiến thức mới, học sinh có thể an tâm trong học tập.
- Vai trò của giáo viên hết sức to lớn, họ chính là người góp phần quyết
đònh chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục là người thầy gây ảnh hưởng đến
sự phát triển nhân cách của học sinh.
- Yêu cầu đạt được khi kiểm tra cũng là các kiến thức đã học và nâng cao,
Ví dụ 1: Mạch điện như hình vẽ ( h. 1 ) R
1
= 6 Ω, R
2
= 18Ω, R
3
=1,5Ω, U= 6V.
Tính P
3
? ________________________
__________ o o
Đa số học sinh tính P
3
sai bằng cách:
I
3
=
A
R
U
4
5,1
6
3
==
; P
3
=UI
3
Như vậy từ một bài toán cụ thể, trong quá trình giải quyết nảy sinh vấn đề
giúp các em phán đoán tìm phương án đúng:
Muốn tìm hiệu điện thế giữa hai đầu một điện trở, phải nhìn vào hình vẽ
xem kỹ hai đầu dây của điện trở trong một đoạn mạch gồm 3 điện trở thì hiệu
điện thế U
3
không thể bằng hiệu điện thế U được.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phải nhận biết ngay công thức đúng là:
P
3
=U
3
I
3
; Từ đó phải tìm U
3
= I
3
R
3
mà I
3
= I nghóa là:
I
3
= I =
A
R
U
1
RR
U
R
U
2
6
12
21
==
+
=
U
1
= IR
1
= 2.2 = 4V
U
2
= IR
2
= 2.4 =8V
* Phần lớn học sinh vẫn bò lúng túng và làm sai ở hiệu điện thế hai đầu R
3
:
R
3
=
Ω==
6
3
= U
2
= U
23
= I
23
.R
23
= 3. 2 = 6V
Phải tìm I
2
=
A
R
U
5,1
4
6
2
23
==
Phải tìm I
3
= I
23
- I
2
= 3 - 1,5 = 1,5A
Phải tìm I
I
U
=
Ω=
4
5,1
6
* Cách khác ngắn gọn hơn:
Tính: R
3
=
232
232
.
RR
RR
−
Phải tìm R
23
= R - R
1
Phải tìm R =
I
U
* Nghóa là: R =
I
đối với những câu hỏi có vận dụng kiến thức cơ bản mà các học sinh từ yếu tới
trung bình phải làm được.
Giáo viên tích cực kiểm tra chất lượng của tất cả các kết quả đó. Điều này
thể nghiệm được qua việc kiểm tra từng học sinh, cho thấy phần lớn đều giải
được những bài tập nói trên. Nếu việc này được tiến hành một cách thường
xuyên thì các năng lực sẽ dần dần được nâng cao.
• Ưu điểm:
- Kết quả thu được trong hoạt động giải bài tập đạt kết quả tốt. Đặc biệt
học sinh tự đề xuất được nhiều bài tập đa dạng khi giải câu 3b,c nên các em rất
hào hứng trong học tập.
- Đa số học sinh rất thích phương pháp nầy.
- Học sinh nắm vững kiến thức lâu hơn.
- Trên 100% các em đều có điểm trung bình trở lên khi làm bài kiểm tra.
• Tồn tại:
- Một số học sinh chỉ nghe giảng và ghi chép bài giải nên không đạt điểm
tối đa khi kiểm tra.
- 4 -
Góp phần tập luyện một số năng lực học Vật lý cho học sinh thông qua các tiết luyện tập.
B. KẾT LUẬN
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1/ Năng lực suy luận chính xác, linh hoạt:
- Tóm tắt ngay bài toán bằng các kí hiệu các đại lượng đã cho và cần
tìm.
- Ghi ngay công thức đại lượng cần tìm: R; I; I
1
; I
2
; P…
2/ Năng lực tính toán đúng và hợp lý: