Đóng góp của phụ nữ bến tre trong kháng chiến chống mĩ cứu nước (1954 – 1975) - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thanh Minh

ĐÓNG GÓP CỦA PHỤ NỮ BẾN TRE TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Trong hơn 20 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ, quán triệt quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin xem “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” và “nhân
dân là người làm ra lịch sử”, Đảng và Nhà nước ta đã huy động tất cả mọi tiềm lực,
sức người, sức của cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thế trận chiến
tranh nhân dân được phát huy ở mức cao nhất, và tất nhiên trong đó không thể
không kể đến sự tham gia đông đảo của những người phụ nữ - một lực lượng chiếm
trên phần nửa số dân. Trong rất nhiều trường hợp, phụ nữ đã sát cánh cùng nam giới
đứng hàng đầu trên mọi lĩnh vực chiến đấu nhằm đánh đổ chế độ độc tài phát xít
của Mĩ- Diệm, giải phóng dân tộc.
Thực tế này đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ trong trong Nghị quyết về
công tác vận động phụ nữ năm 1930: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một lực
lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng không tham gia vào những cuộc đấu
tranh cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được”[93, 498]. Đến khi cuộc

vận) và được nhanh chóng phổ biến thành kinh nghiệm chiến đấu trên một phạm vi
rộng lớn.
Từ thực tế lịch sử chói ngời, sinh động và đặc biệt như thế, có nhiều vấn đề
được đặt ra, mà ý kiến của Giáo sư Phơrăng Đinh-man người Canađa là một điển
hình: “Tôi không hiểu tại sao ở Việt Nam lại có nhiều phụ nữ đánh giặc giỏi, bắn
máy bay Mĩ rất cừ, và ở miền Nam Việt Nam lại có vị Phó tổng tư lệnh là phụ
nữ…” [48, 16]. Thật thú vị khi vị Phó tổng tư lệnh quân đội ấy chính là Nguyễn Thị
Định, một người phụ nữ của Bến Tre. Nhưng đó chỉ là cá nhân một con người cụ
thể, đó có phải là một trong số rất nhiều người phụ nữ Bến Tre hay không ? Trên
thực tế phụ nữ Bến Tre đã làm được những gì để chung tay cùng các tầng lớp nhân
dân trong sự nghiệp chung, họ có đóng góp gì cho kháng chiến tại địa phương và
làm rạng danh phụ nữ miền Nam ? Và những người phụ nữ quê dừa ấy có thật sự
xứng đáng với 8 chữ vàng mà nhà nước đã phong tặng cho phụ nữ miền Nam ? Tìm
hiểu về hoạt động của phụ nữ Bến Tre trong kháng chiến chống Mĩ sẽ làm sáng tỏ
những vấn đề trên.


3

Như vậy, nghiên cứu về đóng góp của phụ nữ Bến Tre trong kháng chiến chống
Mĩ, chúng tôi nhằm:
- Tìm hiểu một cách có hệ thống hoạt động tiêu biểu của phụ nữ Bến Tre ở từng
thời kỳ cụ thể trong suốt 21 năm chiến tranh chống Mĩ.
- Làm rõ sự đóng góp của phụ nữ ở mọi lĩnh vực đối với tỉnh Bến Tre nói riêng
và miền Nam nói chung trong khoảng thời gian đó.
Ở một khía cạnh khác, phụ nữ Bến Tre là một bộ phận đông đảo của nhân dân
Bến Tre, là một bộ phận gắn bó mật thiết với phụ nữ Nam Bộ. Những hoạt động của
họ gắn liền với những biến động lịch sử của tỉnh và các thành phần dân cư khác
trong xã hội. Cho nên nghiên cứu về đóng góp của họ cũng là để hiểu rõ hơn về lịch
sử tỉnh Bến Tre và lịch sử phong trào phụ nữ Nam Bộ nói chung.

Nhưng giới hạn của các giá trị lý luận và thực tiễn của vấn đề không chỉ ngừng
lại quanh phạm trù phụ nữ. “Nói phụ nữ là nói nửa phần của xã hội” [48, 16, trích
lời Hồ Chủ Tịch, tháng 10-1959]. Cho nên giải đáp vấn đề phụ nữ Bến Tre cũng tức
là góp phần quan trọng giải đáp vấn đề xã hội, vấn đề dân tộc ở Bến Tre. Sự hiểu
biết về phụ nữ Bến Tre còn là một cơ sở, một mục đích đối với nhiều người đang có
những yêu cầu hiểu biết cấp bách về xã hội, về con người tại một tỉnh miền Tây
Nam Bộ.
Đề tài chỉ đề cập đến những người phụ nữ trong xã hội. Việc nghiên cứu tách
biệt một thành giới trong nhiều thành giới khác nhau của xã hội là việc cần thiết,
trong điều kiện nội dung đã được xác định của đề tài. Tuy nhiên, từ chỗ này cũng
làm nảy sinh một số khó khăn. Bởi vì, thường không có sự tồn tại và vận động riêng
biệt, độc lập của giới phụ nữ, cũng như của các giới khác trong xã hội.
Khi Hồ Chủ tịch nói “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, thanh niên Việt
Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng” (Lời Hồ chủ
tịch tháng 12.1965) [48, 22] thì Người cũng đã khẳng định vai trò và sự liên quan
chặt chẽ của nhiều thành giới khác nhau trong sự nghiệp chung của dân tộc. Cho
nên, trong khi khảo sát riêng giới phụ nữ, chúng tôi cố gắng đề cập đến trong chừng
mực nhất định những hoàn cảnh lịch sử chung có liên quan và làm cơ sở cho những
hoạt động của phụ nữ, cố gắng tránh những điều chủ quan về mặt phương pháp,
thiên lệch về mặt thái độ nghiên cứu và phiến diện về kết luận khoa học.
Về nội dung, đề tài nói đến những vấn đề chính như sau:


5

- Các hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chiến đấu và phục vụ chiến đấu, có
thể là trực tiếp tham gia đánh giặc, đấu tranh chính trị hoặc làm công tác binh vận,
hậu phương kháng chiến, chăm lo sản xuất kinh tế, bảo vệ và che chở cản bộ cách
mạng.
- Trong từng giai đoạn cụ thể, hoạt động này có thay đổi tùy theo sự điều chỉnh

Trong Phụ nữ miền Nam nước ta trong phong trào giải phóng dân tộc của
Nguyễn Thị Thập, bên cạnh chương trình và điều lệ của Hội Liên hiệp phụ nữ giải
phóng miền Nam, sau khi vạch rõ chính sách khủng bố và tội ác của Mĩ- ngụy đối
với phụ nữ miền Nam, tác giả đã khái quát sự cống hiến lớn lao của phụ nữ miền
Nam vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, và khẳng định phong trào đấu
tranh yêu nước của phụ nữ miền Nam hiện nay (thời điểm năm 1963) chính là kế
tục sự nghiệp đấu tranh của phụ nữ cả nước trong các thời kỳ cách mạng trước đây.
Mặc dù tác phẩm không viết riêng về phụ nữ Bến Tre, nhưng chúng ta hiểu đó là
một bộ phận khăng khít của phụ nữ Nam Bộ cho nên đây cũng là gợi ý có giá trị để
người viết thực hiện đề tài.
Ở một phạm vi rộng hơn, tác phẩm Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại (1973)
của Lê Thị Nhâm Tuyết cho chúng ta có cái nhìn về người phụ nữ Việt Nam bằng
những nét cơ bản nhất qua các thời kỳ, từ buổi đầu dựng nước đến năm 1973. Tác
giả dành chương V để khai thác mảng về người phụ nữ trong phong trào cách mạng
hiện đại. Không trình bày về phụ nữ tại một địa phương cụ thể nào, nhưng việc
khẳng định vai trò người phụ nữ trong công tác hậu phương và chiến đấu đã khơi
gợi cho tác giả luận văn suy nghĩ mở rộng vấn đề.
Tham luận tại Đại hội phụ nữ Việt Nam lần thứ IV năm 1974 có bài phát biểu
Phụ nữ miền Nam kiên cường bất khuất đuổi Mĩ lật thiệu, giải phóng miền Nam bảo
vệ miền Bắc. Sau khi điểm qua những chính sách mà Mĩ sử dụng đối với đồng bào
miền Nam cùng hậu quả của nó, tác giả khẳng định việc phụ nữ miền Nam vùng lên
chiến đấu quyết liệt là xuất phát từ truyền thống quật khởi của dân tộc, là do phải
sống dưới ách kềm kẹp nặng nề của đế quốc Mĩ và tay sai, và đưa ra những con số
tổng kết thuyết phục về thành tích vẻ vang của phụ nữ miền Nam trong sự nghiệp


7

chống Mĩ; đồng thời bày tỏ tin tưởng vào phụ nữ miền Nam, dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Hồ Chủ Tịch, cùng với đồng bào và phụ nữ miền Bắc ruột thịt sẽ vượt mọi


chuyên đề được đăng trên các báo, tạp chí cũng đề cập đến vấn đề ở những góc độ,
mức độ khác nhau, tiêu biểu là Gặp tư lệnh đội quân tóc dài ở binh trạm Trường
Sơn (báo Sự kiện và nhân chứng), Đội quân tóc dài – sự tỏa sáng của những huyền
thoại (Sài Gòn giải phóng)….
Cùng với những công trình nghiên cứu chung, chúng tôi tìm thấy một số tác
phẩm viết riêng về Bến Tre có đề cập đến phong trào phụ nữ ở đây và một tác phẩm
nói về phụ nữ Bến Tre.
Trong tác phẩm viết chung về lịch sử Bến Tre từ năm 1960 đến tổng tiến công
và nổi dậy mùa xuân 1975 với tên gọi Đồng Khởi ở Bến Tre (viết năm 1985), tác
giả Quỳnh Cư có đề cập tới hoạt động của phụ nữ Bến Tre nhưng chủ yếu đi sâu về
đấu tranh cách mạng của nhân dân toàn tỉnh. Luận án phó tiến sĩ Lịch sử của Trần
Quỳnh Cư (1994) chính là sự bổ sung và phát triển nghiên cứu này nhưng phạm vi
được thu hẹp, chỉ tập trung vào đồng khởi năm 1960. Cả hai tác phẩm này đều là
những tư liệu cần thiết và cung cấp cho người viết một số luận điểm có tính chất gợi
ý cần đi sâu.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Bến Tre (1985) là công
trình tổng kết của Ban chỉ huy quân sự tỉnh. Trong đó, xen kẽ giữa nguồn tư liệu
phong phú về lịch sử đấu tranh của nhân dân tỉnh nhà là những trang viết ghi nhận
lại hoạt động của phụ nữ Bến Tre đóng góp cho phong trào đấu tranh tại địa
phương.
Dưới góc độ văn học, tập hồi ký Không còn con đường nào khác sau đó sữa
chữa lấy tên là Nữ chiến sĩ rừng dừa (1986) của đồng chí Nguyễn Thị Định là tiếng
nói của “người trong cuộc” phản ánh đôi nét về phong trào đấu tranh của nhân dân
Bến Tre giai đoạn 1954-1960, và cũng cho chúng ta hiểu phần nào tâm tư tình cảm
của người phụ nữ Bến Tre trong chiến tranh. Huyền thoại quê hương đồng khởi do
Tỉnh ủy Bến Tre biên soạn cũng thuộc dạng hồi ký, đáng kể là bài viết của tác giả
Thanh Giang về đội quân tóc dài.



rạc, chưa thành hệ thống, chưa phản ánh một cách toàn diện khái quát vấn đề.


10

5. Nguồn sử liệu
Tài liệu sử dụng trong luận văn này được khai thác và tập hợp từ nhiều nguồn
khác nhau:
Về mặt lý luận, chúng tôi dựa vào những văn kiện của Đảng về kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của đồng chí Lê
Duẩn:
-

Hồ Chí Minh, Về nhiệm vụ chống Mĩ cứu nước.

-

Hồ Chí Minh, Tuyển tập.

-

Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội
tiến lên giành những thắng lợi mới

-

Lê Duẩn, Thư vào Nam

-



Chương 1. Khái quát tình hình Bến Tre trước năm 1954. Trong chương này
chúng tôi trình bày vài nét khái quát về đất và người Bến Tre cùng với
truyền thống đấu tranh cách mạng của phụ nữ Bến Tre từ thời thuộc Pháp
đến kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp.

-

Chương 2 và chương 3 là phần trọng tâm của luận văn. Trong đó ở chương 2.
Đóng góp của phụ nữ Bến Tre trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (19541960) chúng tôi cố gắng dựng lại bức tranh về những hoạt động của phụ nữ
Bến Tre trước và trong Đồng Khởi.

-

Chương 3: Đóng góp của phụ nữ Bến Tre từ sau Đồng Khởi năm 1960 đến
năm 1975 là những ghi nhận về đóng góp của phụ nữ trong 15 năm cuối của
cuộc đấu tranh chống Mĩ.


12

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BẾN TRE TRƯỚC NĂM 1954
1.1 Những nét chung về đất và người Bến Tre
1.1.1 Vài nét về địa lý lịch sử tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, ở phía Đông Nam,
cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, được hợp thành bởi ba cù lao lớn: cù lao An
Hóa, cù lao Minh và cù lao Bảo do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền,
sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỉ.
“Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẽ quạt, mà đầu nhọn nằm ở thượng
nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía Đông. Diện tích

nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C.
Trong năm không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200C; mùa hè, nhiệt độ cao
tới 350.
Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, tạo nên hai mùa rõ rệt: mùa
gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm. Lượng mưa
trung bình hàng năm từ 1.250mm – 1.500mm.
Bến Tre có 4 con sông lớn đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam:
-

Sông Cửa Đại, chảy dọc biên giới phía Bắc tỉnh.

-

Sông Ba Lai chảy dọc phía Nam cù lao An Hóa và là ranh giới giữa cù lao
An Hóa và cù lao Bảo.

-

Sông Hàm Luông chảy dọc theo phía Nam cù lao Bảo và là ranh giới giữa cù
lao Minh và cù lao Bảo.

-

Sông Cổ Chiên chảy dọc theo phía Nam và Tây cù lao Minh cũng là ranh
giới phía Nam của tỉnh.

Ngoài ra còn có các sông, rạch phụ như: sông Bến Tre chảy qua thị xã Bến Tre,
sông Vàm Nước Trong chảy qua Mỏ Cày đổ ra sông Hàm Luông, sông Bang Tra
chảy dọc Tây Nam Mỏ Cày…Một số kinh rạch lớn như rạch Khâu Băng, rạch Cầu

-

Tỉnh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến phà Tân Phú, tỉnh lộ 882, 883,
887… Chính từ những đặc điểm trên, Bến Tre có một vị trí đặc biệt trong
thời chiến cũng như trong thời bình.

Với hệ thống đường thủy, đường bộ đan chéo nhau chằng chịt như thế, trong
chiến tranh, Bến Tre là một chiến trường dễ bị địch chia cắt, phong tỏa. Nhưng mặt
khác, địa bàn Bến Tre khá thuận lợi cho sự cơ động của du kích trong chiến đấu và
cũng là môi trường cho đặc công thủy hoạt động. Địa hình sông rạch dày đặc, rừng
dừa, bãi mía liên hoàn, rừng chồi ven biển kín đáo là nơi “che bộ đội”, “vây quân
thù”, tạo thuận lợi cho chiến tranh nhân dân phát triển. Tuy nhiên, sự ngăn cách 3
dãy cù lao cũng khiến cho hoạt động phối hợp chiến đấu, chi viện, tiếp tế, chuyển
quân của quân và dân Bến Tre gặp trở ngại không ít.
Do điều kiện đất đai và thời tiết nói trên, Bến Tre sớm hình thành một nền kinh
tế với cơ cấu ngành khá đa dạng, có thể phát triển trồng trọt, chăn nuôi và khai thác
kinh tế biển (nuôi trồng, đánh bắt thủy - hải sản).
Bên cạnh việc trồng lúa, Bến Tre rất có ưu thế về cây công nghiệp, đặc biệt là
dừa. Cuối thế kỉ XIX Bến Tre có khoảng 4.000 ha dừa, năm 1945 có 21.000 ha, như
vậy là chỉ trong vòng nửa thế kỷ diện tích dừa đã tăng lên 5 lần. Trong kháng chiến
chống Pháp, dừa Bến Tre tiếp tục phát triển lên đến 60.000 ha, nhưng qua đến


15

kháng chiến chống Mĩ thì diện tích dừa giảm sút nghiêm trọng. Sau ngày giải
phóng, Bến Tre chỉ còn lại 16.000 ha nhưng sau đó được phục hồi trên 45.000 ha
[83, 8]. Cho đến nay, dừa đã trở thành cây đặc sản số một của đất cù lao Bến Tre,
nâng Bến Tre thành tỉnh có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất của đồng bằng sông
Cửu Long và cũng lớn nhất trong cả nước.


-

Nghệ sĩ Nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân), người đã toàn tâm toàn ý dâng
trọn cuộc đời cho sân khấu cải lương.

-

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Phi Hoành

-

Họa sĩ Lê Văn Đệ

-

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát

-

Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu, một gương mặt lớn của nền nghệ thuật tạo
hình Việt Nam và tên tuổi của ông đã được đã được giới thiệu trong Bách
khoa toàn thư của châu Âu.

Kế thừa truyền thống văn thơ yêu nước và cách mạng, những thành tựu trên các
lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của cha ông, nhân dân Bến Tre đã đẩy mạnh các hoạt
động thơ ca, văn nghệ, hội họa, mĩ thuật phục vụ cho kháng chiến chống Pháp và
chống Mĩ, chống lại có hiệu quả nền văn hóa nô dịch của bọn xâm lược.

1.1.2 Phụ nữ Bến Tre trong công cuộc khai phá, định cư

thứ hai là những người trốn lính hoặc lính đào ngũ, những tù nhân bị lưu đày. Ngoài
ra còn có một bộ phận những người có tiềm lực kinh tế, có óc phiêu lưu mạo hiểm ở
vùng Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là “dân có vật lực” theo lời
kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận làm giàu, vào đây để mở rộng kinh
doanh tạo nên sản nghiệp mới.
Trong hành trình của mình, những lưu dân Việt chủ yếu đi theo đường biển bằng
phương tiện ghe bầu, bởi vì, trong các thế kỉ XVII-XVIII, đường bộ từ miền Thuận
Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số đã vào vùng Biên
Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được điều kiện thuận lợi để
bám trụ nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới
đây bằng hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.
Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa
Hàm Luông vào định cư ở những vùng đất cao dọc các con sông lớn, hoặc chọn các
khu đất giồng để khai phá.
Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thế kỉ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là
cù lao An Hóa còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch. Nhóm
này (cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên) vốn là di thần nhà Minh bất phục nhà
Thanh chạy sang Việt Nam xin tị nạn. Khi đến định cư ở Mỹ Tho, có một bộ phận


18

đã vượt sông sang cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba
Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay.
Với việc chuyển cư diễn ra liên tục, dân cư Bến Tre ngày càng đông đúc. Năm
1779, chính quyền nhà Nguyễn đã đặt Bến Tre thành tổng Tân An (thuộc dinh Long
Hồ) gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh [85].
Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu sinh tìm cách sống,
mà trước hết là khai phá các vùng đất hoang. Sự nghiệp khai phá được ông bà ta
đúc kết trong câu thành ngữ “Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”. Đây là một công

Khoai, giồng Bà Trường, giồng Bà Khắc, giồng Bà Tang, giồng Bà Ngãi, giồng Bà
Trương, giồng Bà Thủ…[86, 21]
Có bốn cồn trên sông và ven biển tương đương với một ấp mang tên “Bà”: cồn
Bà Tư (còn gọi là cồn Bà Tư Phò), cồn Bà Tam, cồn Bà Thiếc, cồn Bà Nở (cồn này
nằm trên sông Tiền, nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Có bốn chiếc cầu mang tên “Bà”:
cầu Bà Mụ, cầu Bà Vụ, cầu Bà Ươm, cầu Bà Ba Ngỡi. Ở huyện Bình Đại có chợ
mang tên “Bà” là chợ Bà Khoai, Ba Tri có chợ Bà Hiền.
Điểm lại, số rạch mang tên “Bà” nhiều nhất ở huyện Bình Đại, số giồng mang
tên “Bà” nhiều nhất ở huyện Giồng Trôm và huyện Ba Tri. Ở huyện Mỏ Cày còn có
địa danh đìa Bà Thầy, tên một bà thầy thuốc nam tận tụy với nghề, giàu lòng nhân
ái đã từng cứu sống nhiều người bệnh.
Ngày xưa, còn có một nghề cao quý do phụ nữ độc quyền đảm nhiệm, đó là
nghề hộ sinh (do quan niệm phong kiến nên trước đây đàn ông thường không làm
công việc này). Thuở khai hoang, đất rộng người thưa rất cần nhân lực, việc sinh đẻ
của phụ nữ vừa nhằm đáp ứng nhu cầu sức lao động đồng thời để có người nối dõi,
kế thừa hương lửa cho gia đình. Hộ sinh – một nghề quan trọng là thế nhưng hầu
như không có ai qua trường lớp, mà chỉ qua kinh nghiệm mẹ truyền con nối hoặc bà
truyền cho cháu. Với tấm lòng và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng, có nhiều bà
mụ ngày xưa đã đỡ qua tay mình hàng trăm, hàng ngàn đứa trẻ, góp cho xã hội
những thế hệ kế tục sự nghiệp của cha ông, nhưng nghề mụ chỉ cốt mong sao cho
“mẹ tròn con vuông”, không cầu tiền bạc, không tính ơn nghĩa. Danh tiếng, đức độ
và tài năng của các bà mụ đã được nhân dân huyền thoại hóa qua câu chuyện bà mụ
đỡ đẻ cho con cọp cái và được cọp trả ơn ở Thạnh Phú. Ngày nay, tại thị xã Bến Tre




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status