Sử dụng hệ thống bài tập định tính vào
chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển
thể" vật lý lớp 10 nâng cao nhằm bồi dưỡng
tư duy logic cho học sinh trong dạy học vật lý
ở trường trung học phổ thông
LÊ TRẦN THẢO TRANG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố bất kì trong công trình nào khác.
Tác giả
Lê Trần Thảo Trang
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được
rất nhiều sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ của người thân, thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học đã tạo điều kiện cho các học
viên khóa 17 chúng tôi hoàn thành luận văn của mình.
Ban giám hiệu, quý thầy cô trường THPT Ngô Gia Tự đã tạo điều kiện cho tôi vừa học
tập vừa nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Gia đình, những người thân yêu, bạn hữu đã động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian
qua.
Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn, PGS.TS. Phạm Thị Phú, với lòng tận
tụy, người đã tận tình chỉ bảo, đưa ra những phê bình đúng đắn, đã thắp lên trong tôi ngọn lửa nhiệt
tình với lời động viên đơn giản “Hãy cố gắng hoàn thành luận văn của mình”.
Với tất cả lòng biết ơn, tôi xin chúc mọi người luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.
SGK
: Sách giáo khoa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ II (khóa VIII) đã xác định
một trong những mục tiêu giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay là phải đào tạo thế hệ trẻ có
ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại. Có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỉ luật.
Đối với dạy học môn vật lý ở trường phổ thông, mục tiêu đó được cụ thể trong bốn nhiệm vụ:
giáo dưỡng, giáo dục, phát triển và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Trong đó phát triển tư duy học sinh
(HS) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là động lực giúp cho việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ
còn lại, đồng thời suy cho cùng là mục đích cuối cùng của dạy học: dạy học phải kéo theo sự phát
triển trí tuệ học sinh (Vư-gốt-xki). Nội dung phát triển năng lực tư duy cho HS bao gồm: rèn luyện
những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản, công cụ để HS chiếm lĩnh kiến thức,
vận dụng sáng tạo kiến thức giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn. Trong dạy học,
việc bồi dưỡng tư duy logic là một bộ phận quan trọng của nhiệm vụ phát triển tư duy bởi tư duy
logic cần thiết cho mọi hoạt động, là cơ sở của tư duy sáng tạo. Những kỹ năng cần thiết của người
lao động mới trong xã hội toàn cầu hóa, cạnh tranh và hợp tác như: trình bày vấn đề, thuyết phục,
đàm phán … có cơ sở từ năng lực tư duy logic, và năng lực này cần phải được quan tâm bồi dưỡng
từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường.
Làm thế nào để bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học môn vật lý ở trường phổ thông?
Đây là câu hỏi từ lâu được nhiều giáo viên (GV) vật lý quan tâm bởi thực tế năng lực tư duy logic,
suy luận logic, diễn đạt tư tưởng, ý kiến của HS, sinh viên và cả GV còn nhiều bất cập hạn chế.
Trong dạy học vật lý, bài tập vật lý (BTVL) từ trước đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng bởi vì
có thể sử dụng BTVL như một phương tiện để ôn tập, củng cố kiến thức, lí thuyết đã học một cách
sinh động và có hiệu quả. BTVL còn giúp rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào thực
- Thiết kế các phương án dạy học với hệ thống BTĐT đã soạn nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho
HS.
3. Giả thuyết khoa học
- Có thể xây dựng được hệ thống BTĐT đảm bảo các yêu cầu về vật lý học, về logic học, về tâm
lý học và lý luận dạy học nhằm mục tiêu bồi dưỡng tư duy logic cho HS, thuộc chương “Chất rắn và
chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lý 10 chương trình Nâng cao.
- Việc sử dụng BTĐT theo các phương án dạy học hợp lý sẽ góp phần bồi dưỡng tư duy logic
cho HS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Tư duy logic
- BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong dạy học vật lý: vai trò và đặc điểm của chúng.
- Việc dạy BTVL nói chung và BTĐT nói riêng trong chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển
thể”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu BTĐT và chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” trong chương trình vật lý
lớp 10 Nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng tư duy logic trong dạy học.
5.2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về BTĐT trong dạy học vật lý, mối liên hệ giữa hoạt động giải
BTĐT và việc thực hành các thao tác tư duy, các hành động suy luận logic. Xây dựng tiêu chí đánh
giá năng lực tư duy logic trong dạy học vật lý.
5.3. Tìm hiểu thực trạng dạy BTĐT và vấn đề quan tâm bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy
học vật lý ở trường THPT. Điều tra kỹ năng giải BTĐT của HS lớp 10 để đánh giá năng lực tư duy
logic của HS.
5.4. Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năng vật lý 10 Nâng cao,
chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” nhằm tạo cơ sở xây dựng hệ thống BTĐT.
5.5. Xây dựng hệ thống BTĐT chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” theo định hướng
cao. Được trình bày từ trang 46 đến trang 93.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm. Được trình bày từ trang 94 đến trang 104.
Chương 1. BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VỚI VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY LOGIC
TRONG
DẠY HỌC VẬT LÝ
1.1. Bồi dưỡng tư duy logic cho HS trong dạy học vật lý
1.1.1. Tư duy. Các loại tư duy
a. Tư duy
Có nhiều cách định nghĩa về tư duy, nhưng nói chung ta có thể hiểu là tư duy là sự phản ánh gián
tiếp, trừu tượng, khái quát bản chất của sự vật hiện tượng, những liên hệ, quan hệ có tính chất quy
luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết.
Một số đặc điểm của tư duy: [7]
Tư duy bắt đầu từ một tình huống có vấn đề.
Có tính trừu tượng và khái quát.
Tư duy có tính gián tiếp.
Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ: mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được thể
hiện bằng sơ đồ 1.1: [4]
Tư duy
Nội dung - quyết định
Hình thức – Vỏ vật chất
Ngôn ngữ
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ
Tư duy đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển ngôn ngữ. Ngược lại, ngôn ngữ
Tính chặt chẽ. Đây là đặc trưng thể hiện sự liên kết, gắn bó không thể tách rời giữa các yếu
tố, các bộ phận trong một nội dung của tư duy.
Tính hệ thống phản ánh sự sắp xếp các nội dung lập luận theo một trình tự nhất định.
Tính tất yếu. Tính tất yếu của tư duy là tính tuân thủ các quy luật và quy tắc của logic học.
Tính chính xác. Tính chính xác phản ánh đúng đắn những đặc điểm bản chất của các đối
tượng vào trong các dấu hiệu cơ bản của khái niệm, là sự xác định được giá trị của tư tưởng ở trong
phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ.
Tư duy logic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động, là cơ sở, nền tảng cho các loại tư duy
khác nên cần phải rèn luyện cho HS loại tư duy này.
Tư duy vật lý
Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành
những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định,
tìm ra mối quan hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý,
dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực
tiễn.
Việc phân loại các hình thức tư duy thật ra cũng không có một ranh giới thật rõ rệt, chúng chỉ thể
hiện một khía cạnh nào đó của quá trình tư duy. Nhưng chắc chắn rằng để quá trình tư duy được
đúng đắn, rõ ràng, không mâu thuẫn thì phải có một trình độ tư duy logic nào đó. Do vậy, vấn đề bồi
dưỡng tư duy logic cho HS phải được quan tâm đúng mức, và phải được rèn luyện thường xuyên ở
cấp trung học.
Theo định hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tư duy logic.
1.1.2. Vai trò của tư duy logic trong các loại tư duy
Vai trò của tư duy logic có thể được thể hiện bằng sơ đồ 1.2:
Tư duy kinh nghiệm
Cơ sở
ra và đánh giá xem đáp án nào là chính xác nhất. Nhưng để đưa ra các đáp án và đánh giá được đáp
án nào chính xác thì HS phải phân tích được hiện tượng quan sát: hai vật đó có khối lượng, hình
dạng, kích thước giống nhau hay khác nhau, chúng có cùng chịu tác động của môi trường xung
quanh như nhau không. Khi đó HS phải dùng đến tư duy vật lý, HS phải phân tích được hiện tượng
phức tạp thành những bộ phận, những hiện tượng bị chi phối bởi một số ít nguyên nhân, bị tác động
bởi một số ít yếu tố. Từ đó mới có thể đưa ra kết luận về nguyên nhân rơi nhanh chậm của các vật
khác nhau trong không khí là do: hình dạng, kích thước, khối lượng hay do sức cản của không khí.
Muốn biết kết luận rút ra có chính xác hay không thì phải kiểm tra trong thực tiễn. Để làm việc đó
phải xuất phát từ kết luận đã khái quát suy ra những hệ quả, dự đoán những hiện tượng có thể quan
sát được trong thực tiễn. Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng mới đúng như dự đoán thì kết luận
ban đầu mới được xác nhận là chân lý. Trong giai đoạn đưa ra hệ quả và kiểm chứng hệ quả đòi hỏi
HS phải đưa ra những phán đoán, những suy luận chặt chẽ, không mâu thuẫn…nói cách khác HS
phải sử dụng tư duy logic. Chẳng hạn khi HS đưa ra kết luận: nguyên nhân làm các vật rơi nhanh
chậm trong không khí là do khối lượng. Như vậy, hệ quả rút ra dựa trên lập luận như sau:
Các vật có khối lượng bằng nhau thì rơi nhanh như nhau bất kể hình dạng và kích thước.
Hai vật này có khối lượng bằng nhau, hình dạng và kích thước khác nhau.
Vậy, chúng rơi nhanh như nhau.
Như vậy, trong quá trình nhận thức HS phải sử dụng nhiều loại hình tư duy, các loại hình tư duy
này không phải theo một trình tự cứng nhắc, mà chúng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau giúp cho con người
phản ánh ngày càng đúng bản chất của sự vật hiện tượng, kiến thức do con người khám phá ra ngày
càng tiệm cận với chân lý, ngày càng đúng với hiện thực khách quan.
1.1.3. Cơ sở lý luận của tư duy logic
Tư duy logic là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học nên có vai trò to lớn trong nhận thức
khoa học. Chính vì vậy con người tìm hiểu về nó rất sớm và đã hình thành những nghiên cứu về tư
duy logic, đó là logic học. Tư duy logic là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản
như: khái niệm, phán đoán, suy luận cùng với các thao tác logic xác định của chủ thể nhằm tạo ra các
tri thức mới với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan.
Do đó, để nâng cao năng lực tư duy logic cần phải nắm bắt được các khái niệm, các quy luật cơ
Đặc điểm của phán đoán:
Phán đoán có phản ánh:
Các dấu hiệu hay các thuộc tính thuộc về, hay không thuộc về các sự vật, hiện tượng.
Các quan hệ giữa các lớp đối tượng.
Quan hệ cùng tồn tại của các thuộc tính trong cùng một sự vật.
Các quan hệ không tương thích của các thuộc tính của sự vật.
Các quan hệ phụ thuộc của hiện tượng này vào hiện tượng khác.
Trong phán đoán bao giờ cũng chính xác đối tượng của tư tưởng và ngôn ngữ biểu thị phán
đoán là câu. Ví dụ trong phán đoán “Đồng là kim loại” thì đối tượng của tư tưởng là “đồng”.
Phán đoán được phân làm hai loại là phán đoán đơn và phán đoán phức. Phán đoán đơn là phán
đoán được tạo thành từ mối liên hệ giữa hai khái niệm. Phán đoán phức là phán đoán được tạo thành
từ nhiều phán đoán đơn.
Tính chu diên và không chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán: trong một phán đoán nếu chủ
ngữ hay vị ngữ chỉ gồm một hay một số đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm thì ta nói chủ ngữ
hay vị ngữ đó không chu diên. Nếu chủ ngữ hay vị ngữ chỉ toàn bộ đối tượng thuộc ngoại diên của
khái niệm thì ta gọi là chu diên.
GV phải khéo léo lồng ghép những kiến thức cơ bản của logic học về khái niệm và phán đoán
vào nội dung dạy học môn học để bồi dưỡng cho HS vì đây là điều kiện cần cho việc thực hiện các
phép suy luận.
c. Suy luận
Suy luận là quá trình nhận thức hiện thực một cách gián tiếp. Đó là quá trình nhận thức trong đó
từ một hay nhiều phán đoán đã được chứng minh để rút ra phán đoán mới (kiến thức mới).
Đặc điểm của suy luận:
Bất kì một suy luận nào cũng gồm có: tiền đề, kết luận và lập luận. Tiền đề (còn gọi là phán
đoán xuất phát) là phán đoán chân thực đã biết trước. Kết luận là phán đoán mới thu được bằng con
đường lập luận logic từ các tiên đề. Cách thức logic để rút ra kết luận gọi là lập luận.
Trong quá trình lập luận để có thể rút ra được kết luận (tri thức mới) chân thực phải có hai
điều kiện:
cơ sở nghiên cứu tất cả các đối tượng của lớp đó.
Quy nạp không hoàn toàn là suy luận trong đó kết luận chung về lớp đối tượng nào đó được rút ra
trên cơ sở nghiên cứu một bộ phận đối tượng của lớp đó. Trong loại quy nạp này người ta chú ý đến
quy nạp khoa học là quy nạp dựa trên dấu hiệu bản chất của một số đối tượng của lớp mà rút ra khái
niệm chung về bản chất của lớp.
1.1.3.2. Các quy luật cơ bản của logic học
Ở đây ta chỉ chú trọng đến hình thức của tư duy logic do đó, ta sẽ nghiên cứu về các quy luật của
logic hình thức. [22]
i. Quy luật đồng nhất
“Mỗi sự vật luôn đồng nhất với chính nó”.
Quy luật này đảm bảo cho tư duy có tính xác định. Chừng nào sự vật, hiện tượng vẫn là nó chưa
bị biến đổi thành cái khác thì nội hàm của khái niệm về sự vật đó phải được giữ nguyên, phải được
đồng nhất.
Việc nhận thức đầy đủ và vận dụng đúng đắn quy luật đồng nhất tạo điền kiện đầu tiên và cơ bản
quyết định việc hình thành tính nhất quán rõ ràng, chính xác, mạch lạc và khúc chiết trong quá trình
lập trong tư duy.
ii. Quy luật cấm mâu thuẫn
“Trong cùng một quan hệ và cùng một lúc, một sự vật không thể vừa là A, vừa không là A”
Quy luật đảm bảo cho tư duy có tính nhất quán. Hai ý kiến trái ngược nhau về cùng một sự vật,
được xem xét trong cùng một thời gian và cùng một mối quan hệ thì không thể đồng thời là chân
thực. Ít nhất phải có một ý kiến là giả dối.
Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật cấm mâu thuẫn giúp cho con người tránh được
những mâu thuẫn logic trong quá trình suy nghĩ nhằm hình thành tính hệ thống, rõ ràng, mạch lạc,
chính xác trong lập luận
iii. Quy luật loại trừ cái thứ ba (quy luật bài trung)
“Một sự vật trong cùng một lúc, hoặc tồn tại (nó là A) hoặc không tồn tại (nó không là A) chứ
không còn khả năng thứ ba nào khác”
Điều đó có nghĩa là hai phán đoán có hình thức logic xác định phủ định lẫn nhau, trong cùng một
Rèn luyện các thao tác tư duy
“Một trong những hình thức quan trọng của tri thức khoa học vật lý là những khái niệm vật lý.
Việc hình thành các khái niệm và việc thiết lập mối quan hệ giữa chúng được giải quyết trong quá
trình thực hiện các thao tác trí tuệ phân tích, tổng hợp, so sánh, định nghĩa, trừu tượng hóa, khái
quát hóa, hệ thống hóa và cụ thể hóa” [20]
Các thao tác tư duy bao gồm:[17]
Phân tích là dùng trí óc để tách đối tượng tư duy thành những bộ phận, những thuộc tính,
những mối liên hệ, quan hệ để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn.
Tổng hợp là dùng trí óc đưa những thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một
chỉnh thể.
So sánh là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng.
Trừu tượng hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể dùng trí óc gạt bỏ những thuộc tính, những
bộ phận, những quan hệ…không cần thiết về một phương diện nào đó mà chỉ giữ lại những yếu tố
cần thiết để tư duy.
Khái quát hóa là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để bao quát nhiều đối
tượng khác nhau thành một nhóm, một loại…trên cơ sở chúng có một số thuộc tính chung và bản
chất, những mối quan hệ có tính quy luật.
Trong các thao tác tư duy trên thì sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa giữ vai trò chủ
yếu. Sự trừu hóa diễn ra trên cơ sở phân tích, so sánh. Kết quả của quá trình này sẽ là dữ liệu tiếp
theo cho quá trình khái quát hóa để từ đó hình thành khái niệm. Sau khi hình thành khái niệm nhờ
sự cụ thể hóa mà HS phát hiện ra những biểu hiện trong thực tế của các trừu tượng khoa học.
Ví dụ để hình thành khái niệm “chuyển động thẳng đều” HS phải quan sát nhiều chuyển động
trong thực tế, từ đó đặt ra câu hỏi: chuyển động thẳng đều có những đặc điểm gì? Quỹ đạo chuyển
động có dạng như thế nào? Tốc độ chuyển động của các vật như thế nào? Bằng cách so sánh các
chuyển động đã quan sát được, phân tích để tìm cái chủ yếu của hiện tượng, trừu xuất những cái
không chủ yếu, không bản chất của hiện tượng, từ đó định nghĩa khái niệm “chuyển động thẳng
đều”. Tiếp theo là sự cụ thể hóa, HS sẽ nhận biết những biểu hiện của khái niệm chuyển động thẳng
đều trong thực tế.
đoán, suy luận đều sử dụng ngôn ngữ. Vậy, yêu cầu đặt ra là đi đôi với việc rèn luyện các thao tác tư
duy, các kĩ năng suy luận logic là phải rèn luyện ngôn ngữ khoa học nói chung và ngôn ngữ vật lý
nói riêng cho HS.
1.1.4.2. Phương pháp bồi dưỡng
Trước khi đưa ra phương pháp bồi dưỡng tư duy logic cho HS chúng ta cần phải chú ý một số
vấn đề sau:
Vì tư duy logic không được đưa vào phân phối chương trình học như một môn chính khóa.
Do đó, không thể dạy cho HS các khái niệm, các quy luật cơ bản của logic học trước rồi sau đó HS
mới áp dụng chúng trong quá trình nhận thức.
Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu từ một vấn đề nên GV cần phải xác định được vấn đề cần giải
quyết của bài học và hoạt động tư duy của HS chỉ tích cực khi vấn đề đặt ra kích thích và làm cho
HS thích thú tìm hiểu vấn đề. Muốn vậy thì người GV phải tổ chức được tình huống có vấn đề.
Các thao tác tư duy diễn ra trong óc của GV nên HS không thể quan sát GV thực hiện chúng
như thế nào để bắt chước, và GV cũng không thấy HS thực hiện chúng như thế nào để uốn nắn và
giúp đỡ. Tuy nhiên với mục đích chính bồi dưỡng tư duy logic cho HS thì việc chuyển từ suy nghĩ
“thầm” thành suy nghĩ “nói” nghĩa là mô tả lại quá trình suy nghĩ của mình là rất quan trọng. GV
cần phải tường minh chuỗi suy luận của mình, mô tả cách thức tìm câu trả lời: đi từ dữ kiện đến ẩn
số (tư duy tổng hợp) hay đi từ ẩn số (câu hỏi) đến dữ kiện (tư duy phân tích).
Dựa vào những vấn đề đã phân tích ở trên thì việc rèn luyện các thao tác tư duy, kĩ năng suy luận
logic phải được tiến hành bằng con đường kinh nghiệm và làm thật nhiều lần bằng cách giải quyết
các tình huống có vấn đề.
Như vậy, GV có thể rèn luyện các thao tác tư duy, phép suy luận logic cho HS bằng phương
pháp sau: [20]
a. Tổ chức quá trình học tập sao cho trong từng giai đoạn xuất hiện các tình huống bắt buộc
HS phải thực hiện các thao tác tư duy và suy luận logic mới có thể giải quyết vấn đề và hoàn
thành nhiệm vụ học tập.
Muốn được như vậy GV không được cung cấp các kiến thức cho HS và HS thì chỉ ghi chép một
cách thụ động mà HS phải tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, phải tích cực tham gia vào quá trình
Các thao tác tư duy tương ứng
được huy động
Quan sát thấy hiện tượng diễn biến như thế nào? Qua Phân tích
những giai đoạn nào?
Quan sát thấy một đại lượng vật lý, một tính chất của sự So sánh, khái quát hóa
vật biến đổi như thế nào trong hiện tượng này, trong thí
nghiệm này?
Có gì giống nhau, khác nhau trong các thí nghiệm?
So sánh
Đối với các hiện tượng quan sát được có thể chỉ ra nguyên Trừu tượng hóa khái quát hóa
nhân chung nào không?
Có thể rút ra kết luận gì chung sau khi khảo sát các trường Khái quát hóa
hợp nói trên?
Trong những điều kiện cụ thể đã cho, ta có thể dự đoán Phân tích, so sánh, trừu tượng
hiện tượng sẽ xảy ra như thế nào? Căn cứ vào đâu mà dự hóa, cụ thể hóa
đoán được như vậy?
Hiện tượng đang xem xét tuân theo định luật nào, quy tắc So sánh, phân tích
nào?
Giải thích vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế?
Phân tích, so sánh
Cần phải bố trí thí nghiệm như thế nào để tạo ra hiện tượng Phân tích, so sánh, cụ thể hóa
mong muốn?
Giữa đại lượng A và đại lượng B có mối quan hệ như thế Phân tích, so sánh, trừu tượng
nào trong hiện tượng này?